Cuoi hanh trinh nhin lai – Lam Vinh The

            Tôi sinh năm 1941, năm nay là năm 2026, tôi đã được 85 tuổi rồi.   Thời gian qua mau quá.  Nếu chỉ kể từ khi tôi tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG) năm 1963 thì cũng đã là 63 năm trôi qua rồi.  Tôi ý thức rất rõ là mình đang bước vào đoạn cuối của hành trình nhân kiếp rồi.  Bài viết này là một cố gắng của người viết nhằm ghi lại, trong khi trí nhớ vẫn còn tốt, những việc đã xảy ra trong hơn 80 năm đã qua.

Thời Còn Đi Học

Bậc Tiểu Học (1948-1953)

            Khi Ba tôi mất vào đầu năm 1948 tôi chưa được đi học vì chưa đủ 7 tuổi.  Mấy tháng sau, một buổi sáng, Mẹ tôi dẫn tôi đến ghi danh vào học Lớp Chót (bây giờ gọi là Lớp Một) tại một trường tiểu học tư thuc nhỏ bé nhưng có cái tên rất lớn, rất oai là Trường Quốc Học, nằm tại ngã ba của 2 đường Richaud (sau năm 1954, được đổi tên thành đường Phan Đình Phùng, bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiều) và đường René Vigerie (sau năm 1954, được đổi tên thành đường Phan Kế Bính, và tên mới này được giữ mãi cho đến ngày hôm nay).

            Đến tháng 9-1948, tôi mới được nhận vào học Lớp Chót của Trường Nam Tiểu Học Đakao, nằm trên đường Boulevard Albert 1er (sau năm 1954, được đổi tên thành Đại Lộ Đinh Tiên Hoàng, và tên mới này được giữ mãi cho đến ngày hôm nay).

            Tôi đã theo hoc suốt 5 năm (1948-1953) của bậc Tiểu Học tại đây cho đến khi tôi thi đậu vào lớp đệ thất của Trường Trung Hoc Petrus Trương Vĩnh Ký, mà đồng bào Miền Nam thường gọi tắt là Trường Petrus Ký, vào Hè năm 1953,  

            Trong thời gian 5 năm này, tôi đã thi đậu cả 2 văn bằng của bậc Tiểu Học.  Đó là Bằng Sơ Đẳng Tiểu Học vào năm 1951, và Bằng Tiểu Học vào năm 1953:

Bằng Sơ Đẳng Tiểu Học – Khóa Thi Ngày 19-6-1950 – Có Phần Pháp Van (viết mực đỏ)

Bằng Tiểu Học – Khóa Thi Ngày 22-6-1953

Bậc Trung Học (1953-1960)

Trung Học Đệ Nhứt Cấp

            Tôi đã có được cái my mắn lớn trong đời là đã theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại ngôi trường lớn nhứt và danh tiếng nhứt của Miền Nam này.

            Trong thời gian 4 năm (1953-1957) của bậc Đệ Nhứt Cấp, tôi chỉ là một học sinh trung bình.  Trường Petrus Ký chưa phát hành Thông Tín Bạ trong năm Lớp Đẹ Thất F (1953-1954) nên tôi không có được thông tin về năm đệ thất.  Cuối năm Lớp Đệ Lục F (niên khóa 1954-1955), tôi được xếp hạng 22 trên 50 học sinh của lớp.

Lớp Đệ Lục F (NK 1954-1955)

Thông TÍn Bạ Petrus Ký – Lớp Đệ Luc F (1954-1955) – Được xếp hạng 22 trên 50.

Lớp Đệ Ngũ F (NK 1955-1956)   

            Năm sau, lên Lớp Đệ Ngũ F (1955-1956), cuối năm, tôi đã được xếp Hạng 14 trên 49 học sinh của lớp:

Thông Tín Bạ Petrus Ký – Lớp Đệ Ngũ F (1955-1956) – Cuối năm xếp hạng 14 trên 49.

Lớp Đệ Tứ F (NK 1956-1957)     

Ở năm cuối cùng của bậc Đệ Nhứt Cấp, Lớp Đệ Tứ F (1956-1957), tôi học khá hơn rất nhiều, được xếp Hạng 5 trong kỳ thi Lục Cá Nguyệt (bây giờ gọi là Học Kỳ) thứ nhì, và cuối năm được xếp Hạng 2 trên 46 học sinh, và tôi cũng thki đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp với Hạng BÌNH THỨ: :

Thông Tín Bạ Petrus Ký – Lớp Đệ Tứ F (1956-1957) – Cuối năm hạng 2 trên 46 học sinh.

Bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp – Khóa thi ngày 6-6-1957 – Hạng BÌNH THỨ

Trung Học Đệ Nhị Cấp

            Tong thời gian 3 năm (1957-1960) của bậc Trung Hoc Đệ Nhị Cấp, tôi cũng luôn luôn có tên trong danh sách 5 học sinh đứng đầu lớp:

Lớp Đệ Tam A (1957-1958):

Thông Tín Bạ Petrus Ký – Lớp Đệ Tam A (1957-1958) – Cuối năm hạng 2 trên 62 học sinh.

Lớp Đệ Nhị A (1958-1959)

Thông Tín Bạ Petrus Ký – Lớp Đệ Nhị A (1958-1959) – Cuối năm hạng 2 trên 64 học sinh.

Lớp Đệ Nhứt A1 (1959-1960)

Thông Tín Bạ Petrus Ký – Lớp Đệ Nhứt A1 (1959-19560 – Cuối năm hạng 5 trên 62 học sinh.

            Trong thời gian học các lớp của bậc Đệ Nhị Cấp này, tôi cũng đã dự thi và đã đậu cả bằng Tú Tài, Phần 1 năm 1959, và Phần 2 năm 1960:

Bằng Tú Tài – Phần 1 năm 1959, Hạng Bình Thứ – Phần 2, năm 1960, Hạng Thứ

            Cuối năm Lớp Đệ Nhứt A1, sau khi đậu bằng Tú Tài Phần 2, tôi nộp đơn xin dự kỳ thi tuyển rất khó khăn vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Khóa 3, Ban Sử Địa, và, rất may mắn, tôi đã trúng tuyển, được xêp Hạng 4 trên tổng số 35 thí sinh trùng tuyển.  Việc thi tuyển vào ĐHSPSG luôn luôn rất khó khăn là vì rất đông người dự thi.  Lý do:  học bổng của sinh viên ĐHSPSG là 1.500 đồng một tháng, trong khi sinh viên của Học Viện Quốc Gia Hành Chánh hay các trường Kỹ Sư Phú Thọ chỉ có 1.000 đồng, và cũng nên nhớ là lúc đó lương tháng của một công chức thư ký chỉ có 800-900 đồng mà thôi.

Bậc Đại Học (1960-1963)

            Trong thời gian 3 năm (1960-1963) ở bậc đại học, tại Trường ĐHSPSG, Khóa 3, Ban Sử Địa, tôi cũng đã đạt được thành tích học tập rất đáng kể như sau:

  • Thi lên năm thứ hai: tôi đã đậu Hạng 3
  • Thi lên năm thứ ba: tôi đã đậu Hang 2
  • Thi ra trường: bạn bè ai cũng nghĩ là tôi sẽ đậu Thủ Khoa, nhưng thật đáng buồn, tuy vẫn đậu Hạng Bình Thứ, tôi đã bị rơi xuống đến Hạng 13.  Lý do: một tuần lễ trước ngày thi, tôi bị bệnh khá nặng, đã tưởng là không thể dự thi rồi.  Ngày hôm thi, chính Mẹ tôi đã phải mướn một xe taxi và đích thân đưa tôi đến trương để dự thi.

Chứng Chỉ Tốt Nghiệp ĐHSPSG – Giáo Sư Khoa Trưởng Bùi Xuân Bào ký tên vào ngày 24-4-1963.

Hai Năm Du Học Tại Hoa Kỳ (1971-1973)

            Sau khi tốt nghiệp ĐHSPG năm 1963, tôi đã được Bộ Giáo Duc bổ nhiệm về Trường Trung Hoc Công Lập Kiến Hòa (Bến Tre, sau đây sẽ ghi tắt là Trường Kiến Hòa).  Tôi đã dạy học tại Trường Kiến Hòa trong 3 năm (1963-1966), và tháng 9-1966, tôi đươc Bộ Giáo Dục thuyên chuyển về Trường Trung Hoc Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).  Chính tại ngôi trường tân tiến này tôi đã chuyển sang làm công tác thư viện, và tháng 8-1971, tôi được Cơ Quan Viên Trợ Mỹ (United States Agency for International Development = USAID) cấp một học bổng đi du học 2 năm (1971-173) ở Trường Thư Viện Học, thuộc Viện Đại Học Syracuse (School of Library Science, Syracuse University = SLSSU) tại thành phố Syracuse, tiểu bang New York.

            Trong thời gian hai năm này, tôi đã có được cái may mắn lớn là được theo học và được hướng dẫn rất tận tình của Ân Sư Pauline Atherton [1] (về sau, khi đã lập gia đình với đồng nghiệp là Giáo Sư John Cochrane, ba đổi tên thành Pauline Atherton Cochrane:

Giáo Sư Pauline Atherton Cochrane chụp năm 2011

            Tôi đã học với Ân Sư tất cả 3 giáo trình là:

  • LSC 503: Organization of Information Resources
  • LSC 630: Advanced Topics in Organization of Information Resources
  • LSC 998: Readings and Research in Library Science

Cuối tháng 5-1973, tôi hoàn tất 12 giáo trình đòi hỏi của chương trình cao hoc tại SLSSU, với 9 giáo trình đạt điểm A và 3 giáo trình đạt điểm B, lãnh bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS), và lên đường về nước. 

Bảng Điểm (Transcript) do Phòng Học Vụ (Registrar) của Đai Học Syracuse cung cấp

Bằng Cao Học về Thư Viện Học (Master of Library Science = MLS) của Đại Học Syracuse

Hội Thư Viện Việt Nam

          Đầu năm 1974, tôi đã ra ứng cử và đã đắc cử chức vụ Chủ Tịch Hội Thư Viện Việt Nam (HTVVN) với một Ban Chấp Hành như sau: [2]

Danh Sách Ban Chấp Hành Hội Thư Viện Việt Nam – Nhiệm Kỳ 1974

            Ban Chấp Hành đã đề ra một chương trình hoạt động rất tích cực gồm các dự án như sau: [3]

  • Xuất bản Thư Viện Tập San (TVTS)như một quý san, ba tháng ra một số, một năm đủ 4 số; đồng thời cũng xuất bản tờ Bản Tin (BT), mỗi tháng ra một số, giữa các của TVTS
  • Tổ chức 2 Khóa Huấn Luyện Căn Bản Thư Viện Học dành cho hội viên
  • Tổ chức một Đại Hội Hè để thảo luận một số vấn đề chuyên môn và nội bộ của Hội
  • Chấn chỉnh và kiện toàn tình trạng hội viên của Hội
  • Ấn hành một số tài liệu chuyên môn

Được sự ủy quyền của Ban Chấp Hành, và với tư cách Chủ Tịch của HTVVN, tôi đã đích thân đi gặp vị Đại Diện của Cơ Quan Văn Hóa Á Châu (Asia Foundation) tại Việt Nam, lúc đó là ông Julio Andrews, trình bày chương trình hoạt động này và xin tài trợ.  Độ một tuần lễ sau, HTVVN nhận được văn thư của Asia Foundation báo cho biết họ chấp nhận tài trợ một phần các dự án trong chương trình hoạt động này của Hội.  Nhờ sự tài trợ này, Ban Chấp Hành đã thực hiện được một phần quan trọng của chương trình hoạt động đã đề ra cho nhiệm kỳ 1974.

Việc tổ chức 2 khóa huấn luyện đã thành công rất tốt đẹp.  Các buổi lễ khai giảng và bế giảng đã được tổ chức thật long trong tại Giảng Đường 19 của Viện Đại Học Vạn Hạnh, và đặt dưới sự đồng chủ tọa của Thượng Tọa Thích Mãn Giác, Phó Viện Trưởng, Viện Đại Học Vạn Hạnh và Giáo Sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Duc Đặc Trách Văn Hóa.

Giáo sư Bùi Xuân Bào, Thứ Trưởng Bộ Giáo Dục Đặc Trách Văn Hóa, đọc diễn văn tại Lễ Khai Giảng Khóa Huấn Luyện

Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy, Viện Trưởng Viện Đại Học Sài Gòn, trao Chứng Chỉ Tốt Nghiệp cho Học viên Khóa Huấn Luyện

Tiệc trà sau Lễ Bế Giảng Khóa Huấn Luyện tại Câu Lạc Bộ của Viện Đại Học Vạn Hạnh Ban Thư Viện Học

            Được chứng kiên tận mắt khả năng chuyên môn cao và tinh thần hoạt động bất vụ lợi của Ban Chấp Hành HTVVN, hoàn toàn phù hợp với đường lối giáo duc của Viện Đại Học Vạn Hạnh, Thượng Tọa Thích Minh Châu, Viện Trưởng, đã quyết định thành lập Ban Thư Viện Học (BTVH) cho Phân Khoa Văn Học và Khoa Hoc Nhân Văn, lúc đó Khoa Trưởng là Giáo Sư Nguyễn ĐăngThục, và cử nhiệm tôi làm Giáo Sư Trưởng Ban đầu tiên cho BTVH.

            BTVH đã khai giảng học kỳ đầu tiên với 70 sinh viên vào đầu niên khóa 1974-1975 với các giáo trình và giảng viên như sau: [4] 

Học Kỳ 1:

  • Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại I
  • Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Tổ Chức và Điều Hành Thư Viện
  • Ông Lê Ngọc Oánh: Tuyển Chọn Tài Liệu
  • Ông Tống Văn Diệu: Lịch sử Thư Viện

Học Kỳ 2 khởi sự vào khoảng tháng 3-1975 với các giáo trình và giảng viên như sau:

Học Kỳ 2:

  • Ông Lâm Vĩnh Thế: Tổng Kê và Phân Loại II
  • Cô Phạm Thị Lệ-Hương: Công Tác Khảo Cứu và Trình Bày Luận Văn
  • Ông Lê Ngọc Oánh: Tham Khảo Tổng Quát
  • Ông Nguyễn Ứng Long: Anh Ngữ I

đã không bao giờ được kết thúc vì biến cố bi thảm của  ngày 30-4-1975 chấm dứt sự hiện hữu của VNCH.  BTVH của Đại Học Vạn Hạnh đã bị chết non, chưa đào tạo được một vị Cử Nhân Thư Viện Học nào cho Việt Nam Cộng Hòa cả.

Hoạt Động Thư Viện Tại Canada (1981-2006)

Tại Thủ Đô Ottawa

            Sau một thời gian ngắn làm lao động trong một kho hàng ở Montréal, tôi tìm được một việc làm hợp đồng (contract job) 12 tháng, từ ngày 1-4-1982 cho đến ngày 31-3-1983, trong thư viện của Bộ Canh Nông của chính phủ liên bang tại thủ đô Ottawa.

            Công việc làm là chuyển đổi các thẻ thư mục đánh máy (typed catalog cards) sang dạng ký lục thư tịch điện tử (electronic bibliographic records) cho bộ sưu tập tạp chí (journal collection) rất lớn của Bộ với tổng số lên đến 30.000 nhan đề.  Bộ Canh Nông đã lên kế hoạch thực hiện dự án này trong 5 năm, mỗi năm lầm 5.000 nhan đề, vị chi mỗi tháng là 500 nhan đê.  Khi tôi nhận công việc này thì là đầu năm thứ ba, nên tôi rất yên tâm làm việc vì nghĩ rằng sẽ còn có thể ký hơp đồng thêm 2 năm nữa.  Khi làm việc được độ 6 tháng, tôi được Bà Joyce MacKintosh, Phó Giám Đốc Thư Viện báo cho biết là Bộ Canh Nông đã bị cắt ngân sách và dự án phải chấm dứt vào cuối năm.   

Tại Thành Phố Hamilton, Tỉnh Bang Ontario

            Đầu tháng 7-1984, một hôm đọc báo The Globe and Mail, tờ nhựt báo lớn nhứt của Canada, tôi thấy một cơ quan liên bang tại thành phố Hamilton, thuộc tỉnh bang Ontario, có tên là Canadian Centre for Occupational Health and Safety (CCOHS) = Centre canadien d’hygiène et de sécurité au travail (CCHST), chuyên về an toàn lao động,đăng một thông cáo tuyển nhân viên cho 5 chức vụ như sau:[5]

  • Manager, Online Catalogue
  • Inventory Cataloguer
  • Canadiana Cataloguer
  • Subject Cataloguer
  • Physical Hazards Information Scientist

Tôi gởi đơn ngay xin dự tuyển chức vu thấp nhứt là Inventory Cataloguer vì nghĩ rằng mình còn chưa vô quốc tịch, không nên trèo cao.  Tôi được CCOHS mời đến phỏng vấn ngày 15-8-1984, và được CCOHS nhận ngày 23-8-1984 với lương năm khởi sự là 27.491 đô la Canada:

Văn thư CCOHS nhận vào làm Inventory Cataloguer với lương năm 27.491 đô la Canada.

            Tôi đã làm việc cho CCOHS hơn 8 năm, và đã giữ các chức vụ như sau:

  • Inventory Cataloguer: 1984-1985
  • Manager, Online Catalogue, 1985-1986
  • Manager, Database Development Department, 1986-1988
  • Manager, Database and Information Resource Development Department, 1988-1992

Cuối năm 1991, lương năm của tôi đã lên đến 71.259 đô la Canada:

Tôi rất yên tâm làm việc, và cứ nghĩ rằng sẽ làm cho tới ngày nghỉ hưu.nhưng quả thật đúng như Ông Bà mình đã từng dạy con cháu là: “Chuyện đời khó nói.  Ai mà biết trước được chuyện tương lai.”   CCOHS được thành lập trong thời gian cầm quyên của Đảng Tự Do (Liberal Party = Parti libéral) chủ trương ủng hộ giới công nhân.  Bây giờ, ở năm 1992 này, Đảng Bảo Thủ (Conservative Party = Parti conservateur),chủ trương ủng hộ  giới chủ nhân, đã chiếm được chính quyền, và CCOHS trở thành một cái gai trong mắt họ, và họ quyết tâm phá hoại CCOHS.  Chuyện đàu tiên họ làm là cách chức ngay lập tức Tiến Sị Gordon Atherly, President của CCOHS, một chuyên gia về an toàn lao động nổi tiếng khắp thế giới    Kế tiếp là các vị Giám Đốc (Directors) bị áp lực phải xin từ chưc.  Sau cùng là các Trưởng Ban (Managers).  Tôi là Manager, Database and Information Resource Development Department, bị cho nghi việc vào ngày 30-9-1992

Năm Năm Trời Lận Đận

            Sau khi bị mất việc tại CCOHS, tôi đã trải qua 5 năm trời lận đận, toàn làm những công việc hợp đồng, lặt vặt, khi thì 6 thang, khi thì 3 thang, thậm chí có một lần chỉ có 1 tháng thôi, thay cho một nhân viên thư viện của Quốc Hội tỉnh bang Ontario, bị thương nhẹ trong một tai nạn xe cộ, phải nằm bệnh viện trong 4 tuần lễ.  Tình trạng này chỉ chấm dứ vào tháng 9-1997 khi tôi nhận được công việc làm ổn định (stable), thường trực (permanent), toàn thời gian (full-time), và lương cao (high-salaried) là Trưởng Ban Biên Mục (Manager, Cataloguing Department) tại Thư Viên của Trường Đại Học Saskatchewan (University of Saskatchewan Library) tại thành phố Saskatoon, thuộc tỉnh bang Saskatchewan, trong Vùng Đai Bình Nguyên của Canada (Canada’s Grande Prairie).

Tại Thành Phố Sasktoon, Tỉnh Bang Saskatchewan

            Tôi chính thức làm việc cho Thư Viện của Trường Đại Học Saskatchewan từ ngày 2-9-1997 trong chức vụ Trưởng Ban Biên Mục, với cấp bậc Librarian 3, và với thời gian thử thách (probation period) là 3 năm (1997-2000).

            Tại thời điểm này, Ban Biên Mục gồm có tất cả 22 nhân viên: 4 quản thủ thư viện (librarian) có bằng MLS như tôi, và 18 nhân viên thư viện trung câp (library assistant, goi tắt là LA) với 3 người được đào tạo tạo chính quy tại các trườg đại học cộng đồng địa phương, 15 LA còn lại chì là nghề dạy nghề, sống lâu lên lão làng mà thôi, họ biết rất rõ phải làm như thế nào nhưng hoàn toàn không biết tại sao phải làm như vậy.

            Sau khi nắm vững tình hình nhân viên, tôi đã soạn thảo một chương trình huấn lye5n kéo dài trong 4 ngày và trình lên cho Ban Điều Hành Thư Viện (Library Management Committee = LMC) cứu xét.  LMC đã thảo luận kỷ lưởng và chấp thuận chương trinh huấn luyện đó với chi tiết như sau: [6]

  • Ngày thứ nhứt (27-4-1998):
    • Phần Một: Các Nguyên Tắc Về Biên Mục
      • Các chức năng của Thư Mục
        • Các mục tiêu của Thư mục: Giúp tìm tài liệu và Giúp tập hợp tài liệu
        • Tác động của các đổi mới về công nghệ đối với Thư mục
        • Phát triển của Thư mục: từ thẻ đến Thư mục trực tuyến trên Web
      • Tính đồng nhất của các Điểm Truy Cập
        • Các mối quan hệ về thư tịch
        • Lý do: Chức năng tập hợp tài liệu của Thư mục
        • Thực hiện: Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn
      • Cơ cấu truy cập theo chủ đề
        • Tính hai mặt của truy cập theo chủ đề
        • Truy cập theo đường thẳng: Số phân loại
        • Truy cập đa chiều: Tiêu đề chủ đề
        • Tiềm năng tăng cường truy cập theo chủ đề: Bảng Mục Lục của sách
    • Phần Hai: Tầm quan trọng của Mô tả
      • Các Nguyên tắc về Mô tả
        • Tài liệu đang nắm trong tay
        • Các nguồn thông tin
        • Tiêu chuẩn quốc tế về mô tả ISBD (International Standard Bibliographic Description)
      • Tổ chức việc mô tả
        • Các vùng mô tả
        • Thứ tự mô tả
        • Mô tả trực tuyến: Khổ mẫu MARC
      • Thứ tự quan trọng của các đơn vị mô tả
        • Nhan đề
        • Tùng thư
        • Ấn bản
        • Năm xuất bản
      • Tầm quan trọng của ghi chú
        • Lý do: Tại sao và khi nào làm ghi chú
        • Cơ cấu của ghi chú: Cách làm và thứ tự
    • Phần Ba: Các điểm truy cập
      • Điểm truy cập chính và phụ
        • Tác giả hay Nhan đề là Điểm truy cập chính
        • Điểm truy cập chính trong môi trường trực tuyến
        • Các điểm truy cập phụ trong chức năng Tìm tài liệu và Tập hợp tài liệu
      • Các điểm truy cập theo tên
        • Tên cá nhân: Tên tiếng Anh và Tên các ngôn ngữ khác
        • Tên tập thể: Hội đoàn, Chính phủ, Hội nghị
      • Các điểm truy cập theo nhan đề
        • Các hình thức khác nhau của nhan đề
        • Nhan đề đồng nhất
      • Các điểm truy cập theo tùng thư
        • Tùng thư được ghi
        • Tùng thư không được ghi
        • Tùng thư ghi một cách khác
      • Các điểm truy cập theo chủ đề
        • Các số phân loại
        • Các tiêu đề chủ đề
      • Các điểm truy cập khác
        • Các số tiêu chuẩn (ISBN, ISSN)
        • Các loại số khác
      • Kiểm Soát Tiêu Đề Chuẩn
        • Các hệ thống: Tên và Chủ Đề
        • Các thủ tục: Thủ công và trực tuyến
        • Hệ thống sẽ trang bị: LTI (Library Technologies, Inc.)
  • Ngày thứ nhì (28-4-1998)
    • Phần Bốn: Số phân loại và Tiêu đề chủ đề
      • Hệ thống Phân Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
        • Lịch sử
        • Cấu trúc
        • Các bảng phân loại
        • Các bảng cập nhật
        • Chính sách của Thư viện Đại Học Saskatchewan về Văn Học và Luật
  • Ngày thứ ba (29-4-1998)
    • Tiêu đề chủ đề của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
      • Cơ cấu
      • Các tiểu phân mục
      • Các bảng cập nhật
      • Kiểm soát tiêu đề chuẩn
    • Hệ thống phân loại Dewey [5]
      • Lịch sử
      • Cơ cấu
      • Phân mục 370: Giáo Dục
  • Ngày thứ tư (30-4-1998)
    • Phần Năm: Các dụng cụ làm việc
      • Cataloger’s Desktop
        • Khổ mẫu USMARC
        • Cẩm nang Biên mục chủ đề (Subject Cataloguing Manual)
        • Giải thích các Quy tắc Biên mục của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (LC Rule Interpretations)
      • Classification Plus
        • Các Bảng Phân Loại của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
        • Tiêu đề chủ đề của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ
      • Các dụng cụ có trên Internet
        • WebCATS
        • TPOT
        • Cẩm nang biên mục các tài liệu ngoại quốc

Cổng LC Z39-50

            Sau khóa huấn luyện, một đa số rất lớn các nhân viên của Ban Biên Mục đã đánh giá khóa học là rất tốt, từ VERY GOOD đến EXCELLENT.  Kể từ đó, họ đã hoàn toàn tâm phục khẩu phục, không còn có thái độ coi thường tôi vì tôi là một ngươi di dân Châu Á trong khi tất cả bon họ là dân Canada chính cống.

            Sau 3 năm (1997-2000) làm việc thật tốt, mỗi cuối năm đều được cho điểm Ưu (Superior Perfomance), ngày 10-1-2000, tôi nhận được văn thư chính thức của Tiến Sĩ Michael Atkinson, Phó Viện Trưởng Đặc Trách Học Vụ (Vice-President, Academic Affairs) thông báo cho tôi biết là tôi đã được nhận vào biên chế thường trực (Permanent Status = Tenure) của Trưòng Đại Học Saskatchewan, kể từ ngày 1-7-2000, với lời lẽ như sau: [7]

“The University Review Committee has concluded its consideration of recommendations for tenure.  I am pleased to advise you that the Committee voted to recommend to the Board of Governors that you be granted permanent status effective 1 July 2000.

The award of tenure is an extremely important step for both you and the university.  In addition to being an important stage in your own career development, the awarding of tenure represents the University’s long-term commitment to you in recognition of the satisfactory performance of your duties during your first years at the University of Saskatchewan.”

(Xin tạm dịch sang Việt ngữ như sau: “Ủy Ban Duyệt Xét của Đại Học đã xem xét khuyến cáo cho ông vào biên chế thường trực và đã có kết luận.  Tôi rất vui mừng thông báo cho ông là Ủy Ban đã bỏ phiếu tán thành và sẽ khuyến cáo lên Hội Đồng Quản Trị của Viện Đại Học để ông được vào biên chế thường trực kể từ ngày 1 Tháng 7 năm 2000.  Việc ban tặng quy chế thường trực là một bước tiến vô cùng quan trọng đối với ông cũng như đối với Viên Đại Học.  Ngoài việc thể hiện một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển nghề nghiệp của ông, việc ban tặng đó còn thể hiện sự cam kết lâu dài của Viện Đại Học đối với ông qua việc công nhận ông đã công tác tốt trong những năm đầu tiên tại Đại Học Saskatchewan,”)  

            Một vài tuần lễ sau đó, tôi được LMC thăng cấp lên làm Trưởng Khối Dịch Vụ Kỹ Thuật (Head, Technical Services Division), phụ trách cả 2 Ban là Ban Biên Mục (mà tôi đang làm Trưởng Ban) và Ban Thủ đắc (Acquisitions Department) chuyên lo việc mua sắm sách báo cho Thư Viện cũng như trao đổi tài liệu với các thư viện bạn.  Và với chức vụ mới này, tôi cũng đương nhiên trở thành một nhân viên thưởng trực của LMC luôn. 

Sabbatical Leave Và Nghỉ Hưu

            Cung như tất cả các đại học tại Bắc Mỹ, Đai Hoc Saskatchewan cũng có quy chê cho phép các giào sư được nghỉ pháp dài hạn để đi làm công tác nghiên cứu, gọi là Sabbaticl Leave, như sau: 1) Nghỉ 6 tháng và được hưởng 100% lương sau khi đã làm việc được 3 năm, và, 2) Nghỉ trọn một năm và được hưởng 80% lương sau khi đã làm việc được 6 năm.. Ngoài ra, Đại Hoc Saskatchewan lại còn có thêm một quy chế đặc biệt nữa: đó là xếp các quản thủ thư viên vào chung một nghiệp đpàn vơi các giáo sư.  Do dó, tôi cũng được quyền nghỉ Sabbtical Leave. 

            Năm 2003, tôi đã làm việc tại Trường được 6 năm. Tôi quyết định nghỉ Sabbatical Leave trọn một năm, từ ngày 1-7-2003 cho đến 30-6-2004.

            Trong thời gian một năm này, tôi đã hoàn tất được 2 dự án nghiên cứu, và sau đó kết quả của 2 cuộc nghiên cứu đó đã được viết thành 2 bài báo đăng trong 2 tạp chí chuyên môn về thư viện học của Hoa Kỳ:

  • Quality control issues in outsourcing cataloging in United States nd Canadian academic libraries, Cataloging & classification quarterly, vol. 40, issue 1 (2005), pp. 101-122.
  • A Web-based online database of CIA declassified documents on the Vietnam War, Online, vol 28, no. 4 (July- August 2004).

Trở vê Trường, tôi không giữ các chức vụ chỉ huy nữa, và chỉ làm công tác chuyên môn với chức vụ Biên Mục Viên Nguyên Thủy Cao Cấp (Senior Original Cataloguer) trong 2 năm cho đến khi nghỉ hưu vào ngày 1-7-2006,

Sự Nghiệp Nghiên Cứu Và Trước Tác

Những Sách Đã Xuất Bản

Sách Tiếng Anh

  • Full circle: memoir of a Vietnamese-Canadian librarian (2024)
  • Characterizing the Vietnamese culture (2022)
  • Cultural Civil War between North and South (1975-1986) in Vietnam (2022)
  • Armed Forces of the Republic of Vietnam: a heroic army unjustly abandoned and left for dead (2022)
  • Vietnam, territoriality and the South China Sea: Paracel and Spratly Islands (2019)
  • The Price of freedom: exodus and diaspora of Vietnamese people (2017)
  • Republic of Vietnam 1963-1967: years of political chaos (2010)
  • The History of South Vietnam: the quest for legitimacy and stability, 1963-1967 (2010)

Sách Tiếng Việt

  • Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: một quân đội anh hùng bị bức tử (2021)
  • Trường Petrus Ký trong tâm tưởng: nhớ về trường xưa, thầy cô và bạn học (2021)
  • Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt (2021)
  • Việt Nam Cộng Hòa 1963-1967: những năm xáo trộn (2010)
  • Bạch hóa tài liệu mật của Hoa Kỳ về Việt Nam Cộng Hòa (2008)

Những Bài Viết Đã Đăng Báo Và Các Trang Web

Lịch sử VNCH:

Văn Hóa:

Thơ:

Các đề tài khác:

Thay Lời Kết:

            Nhìn lại cuộc hànn trình hơn 80 năm qua, tôi không khỏi cảm thấy phần nào tự hào, hãnh diện đối với những gì tôi đã làm được cho bản thân, cho xã hội, và cho đât nước, cả quê hương nơi tôi ra đời và nơi tôi đã đến định cư trong mấy chục nam qua.  Đông thời, tôi cũng thấy rõ sự ưu ái mà Ơn Trên đã dành cho tôi, giúp tôi vượt qua được tất cả những trở ngai, khó khăn và hoàn thành được một cách tốt đẹp những công việc được giao phó.

GHI CHÚ:

  1. Lâm Vĩnh-Thế.  Tình nghĩa thầy trò Mỹ-Việt, tài liệu trực tuyến, có thể đọc tại địa chỉ Internet sau đây: https://petruskyaus.net/tinh-nghia-thay-tro-my-viet-lam-vinh-the/   
  2. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ: hồi ký của một quản thủ thư viện Canada gốc Việt.  Westminster, CA: Nhân Ảnh, 2021, tr.50.
  3. Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …,, sđd, tr. 52.
  • Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …,, sđd, tr. 62.
  • Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …,, sđd, tr. 110-111.
  • Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …,, sđd, tr. 130-133.
  • Lâm Vĩnh-Thế.  Tròn nhiệm vụ …,, sđd, tr. 135-136.