Tài Liệu Mật Của CIA Về Tình Hình V.N.C.H.

Tháng 2-1965 

Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế

Lời Mở Ðầu 

CIA VNCH 01Tài liệu được chuyển dịch sang Việt ngữ và ghi chú sau đây là một Tài liệu Mật của Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ (Central Intelligence Agency, thường được biết bằng tên tắt là C.I.A.).  Tài liệu nầy được soạn thảo vào ngày 2-2-1965 để đưa vào chương trình nghị sự ngày 4-2-1965 của Hội Ðồng Tình Báo của Hoa Kỳ (USIB = United States Intelligence Board)1 và đã được bạch hóa vào ngày 5-11-1975.

Cơ Quan Trung Ương Tình Báo

Ngày 2 tháng 2 năm 1965

Văn Thư Gửi Hội Ðồng Tình Báo Hoa Kỳ

Ðề Mục:  SNIE 53-65

Triển Vọng Ngắn Hạn Tại Nam Việt Nam

  1. Bản dự thảo ước tính đính kèm đã được Hội Ðồng Ước Tính Tình Báo Các Quốc Gia2  chấp thuận sau khi đã được các đại diện của USIB xét duyệt.
  2. Bản dự thảo ước tính nầy đã được đưa vào chương trình nghị sự của phiên họp của USIB sẽ tổ chức vào lúc 10 giờ 30, ngày Thứ Năm, 4 Tháng 2.

Joseph Seltzer

Giám Ðốc Ðiều Hành

H.Ð. Ước Tính Tình Báo Các Quốc Gia

Phổ Biến Hạn Chế

Cơ  Quan  Trung  Ương  Tình  Báo

Ngày 2 tháng 2 năm 1965

Ðề Mục:  SNIE3  53-65 :  Triển Vọng Ngắn Hạn Tại Nam Việt Nam

Vấn Ðề

Ðánh giá các lực lượng và quan điểm chính trị quan trọng tại Nam Việt Nam, và ước tính về triển vọng trong một vài tháng tới.

Thảo Luận

I. Thế Cơ Ðộng Chính Trị

1. Ý nghĩa của tình hình hiện nay.  Các biến cố gần đây tại Saigon cho thấy rõ sự kiện là, ngoài phe Cộng sản — và sự hiện diện của Hoa Kỳ — hai lực lượng chính trị hàng đầu tại Nam Việt Nam ngày nay là phe quân sự và các tăng sĩ chính trị đang điều khiển “Phong trào Phật giáo”.  Hiện tại, đòn bẩy chính trị của Hoa Kỳ có vẻ đang ở vào thế hạ phong.

2. Thành phần lãnh đạo của cả hai phe quân sự và Phật giáo đều không thuần nhất hay đồng một khối; cả hai đều bị chia rẽ vì nạn phe phái và kình địch cá nhân.  Quyền thống trị rõ ràng là nằm trong tay phe quân nhân, nhưng phe Phật giáo có đủ sức mạnh để phá vỡ bất cứ cuộc dàn xếp chính trị nào mà các lãnh tụ của họ muốn chống lại.  Cho dù Chính phủ Việt Nam, trong tương lai gần, có mang bất cứ hình thức hợp pháp hay hợp hiến nào đi nữa, chắc chắn phe quân nhân và Phật giáo vẫn nắm được quyền phủ quyết.

3. Việc giải nhiệm Hương4   vào ngày 27 Tháng Giêng là kết quả của sự hợp tác giữa phe Phật giáo (dưới sự lãnh đạo của Trí Quang5  ) và phe quân nhân (dưới sự lãnh đạo, ít hay nhiều, của Khánh6 ).  Sự hợp tác nầy ít ra đã tạo ra được một sự ổn định tạm thời, mặc dù thế quân bình vừa tạo được rất mong manh và có thể bị phá vỡ dễ dàng7 .  Có những sôi sục trong hàng ngũ các quân nhân và phe Phật giáo và cả trong các giáo phái khác, thí dụ như Công giáo, Cao Ðài và Hòa Hảo, cũng như sinh viên và các đảng phái chính trị khác ở Saigon và Huế.  Tuy nhiên, biến cố ngày 27 tháng Giêng dường như không tạo ra xáo trộn nào ở các tỉnh. Các diễn tiến chính trị sắp tới sẽ tùy thuộc vào hành động của phe Phật giáo và mức độ đoàn kết của phe quân nhân. Cả hai phe quân nhân và Phật giáo chắc chắn sẽ khai thác chiêu bài chống Mỹ như một vũ khí chiến thuật. Khả năng bùng nổ của chiêu bài nầy tùy thuộc vào cách đối phó của các phe liên hệ, kể cả Hoa Kỳ. Các thắng lợi quan trọng về quân sự của Việt Cộng, nếu có, cũng có thể làm thay đổi các diễn tiến chính trị.

4. Các yếu tố quyết định căn bản về chính trị. Nam Việt Nam hiện đang ở giữa một cuộc cách mạng xã hội và chính trị. Trong khoảng trống chính trị tạo ra do sự ra đi của người Pháp, quyền lực lúc đầu nằm trong tay của một thành phần ưu tú do Pháp đào tạo, phần lớn thuộc giới quan lại công giáo, mà Ngô Ðình Diệm là tiêu biểu.  Quyền lực hiện nay đang chuyển dần qua tay một nhóm “Việt” hơn, vừa mang tính đấu tranh,  vừa có thể mang tính bài ngoại mà các nhà sư chính trị, các sinh viên, cũng như một số tướng lãnh trẻ là những thí dụ hàng đầu.  Cuộc cách mạng nầy hiện vẫn chưa định hình, chưa được kiểm soát, và, trên nhiều phương diện, thực sự tự phát. Những người Cộng Sản hiển nhiên là đương khai thác hiện tượng nầy. Tuy nhiên, phải nhận rằng đây là một điều không dính líu gì tới cuộc nổi dậy của những người Cộng Sản cả.  Thật ra, chính những người lãnh đạo cuộc cách mạng nầy tin rằng nếu cuộc cách mạng nầy không thành công thì chúng ta không thể đánh bại Cộng Sản được.  Chính sự thay đổi trong việc sắp xếp lại các lực lượng chính trị nầy đã tạo ra phần lớn những biến động mà chúng ta đang chứng kiến — và sẽ còn tiếp tục chứng kiến — trong khung cảnh các đô thị, đặc biệt là từ khi diễn trình nầy tạo ra một thế quân bình quyền lực mới trong lòng một cuộc chiến tranh đang diễn ra và trong hoàn cảnh một đất nước thiếu một truyền thống hoặc định chế nghị viện có thể giúp giải quyết một cách có hiệu quả các tranh chấp về chính trị.

5. Trí Quang và “Phong trào Phật giáo”.  Do khung cảnh lịch sử của cuộc cách mạng nầy, các phe chống đối thường có khuynh hướng tập hợp lại dưới các nhãn hiệu tôn giáo.  Tuy nhiên, các vấn đề có liên quan lại là những vấn đề về quyền lực chính trị, chớ không phải là những vấn đề về giáo lý.“Phong trào Phật giáo” có được sức mạnh chính trị một phần do sự nhạy bén về chính trị và khả năng mị dân của các lãnh tụ, nhưng trước hết là do sự kiện Phật giáo đã trở thành điểm tập hợp cho những khát vọng cách mạng tuy mới chớm nở nhưng rất nồng nhiệt.  Các nhà sư lãnh đạo cái gọi là “Phong trào Phật giáo” đã nhận ra rằng quyền hành chính trị là một điều dễ làm cho người ta say mê và trở thành thói quen.  Họ không có vẽ muốn nắm chức vụ hay trực tiếp tham gia chính quyền nhưng quyết tâm không để cho tái diễn sự thống trị của Công giáo và muốn có quyền phủ quyết đối với những chính sách và nhân sự quan trọng của Chính phủ Việt Nam.  Ngoài ra, cũng giống như trong các phong trào chống đối khác, bất cứ lãnh tụ Phật giáo nào cũng muốn tỏ ra là không có một lãnh tụ nào khác “đấu tranh” hơn mình.

6. Trong số các lãnh tụ nầy, Trí Quang là người có nhiều ảnh hưởng nhất và cũng có nhiều khả năng chính trị nhất. Có vẽ như ông ta đã thắng thế hơn tất cả các đối thủ hiện nay hay những người có tiềm năng trở thành đối thủ trong Phong trào Phật giáo và khó có thể bị lật đổ từ bên trong Phong trào.  Tuy nhiên, ngay cả nếu Trí Quang không còn nữa, Phong trào Phật giáo vẫn có thể tiếp tục không có gì thay đổi.  Trí Quang rất tự phụ và có tinh thần dân tộc cao độ, ví thế ông ta không thích sự can thiệp của Hoa Kỳ vào các vấn đề nội bộ của Việt Nam.  Mặc dù ông ta nhận rằng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ là cần thiết, nhưng ông ta không tin rằng Hoa Kỳ có khả năng hiểu được tình hình chính trị tại Nam Việt Nam, và, về lâu về dài, ông ta mong muốn Hoa Kỳ rút ra khỏi Việt Nam.

7. Dự tính ngắn hạn của Trí Quang. Khó có thể đoán được dự tính ngắn hạn của ông ta vì những dự tính nầy không được phát triển một cách có hệ thống và nhất quán. Ông ta chủ trương chống Cộng và nhiều lúc có vẽ công nhận là địa vị của ông ta cũng như phong trào mà ông ta lãnh đạo sẽ không tồn tại được lâu dài dưới một chế độ Cộng sản. Tuy nhiên, vì quá tự tin vào khả năng chính trị của mình, ông ta có thể cảm thấy là ông ta có thể đánh lừa cả người Cộng sản và có thể lợi dụng được họ cho mưu đồ của ông; và, trên thực tế, có thể ông ta đã đi đến kết luận như thế rồi.  Bằng chứng mà chúng ta có được về vấn đề nầy rất mâu thuẫn và không cho phép chúng ta có được một phán đoán có thể tin cậy được.  Nhìn chung, chúng ta nghiêng về quan điểm là có lẽ mục tiêu hoạt động của ông ta không phải là một chiến thắng của Cộng sản hay một giải pháp “trung lập” do Cộng sản chế ngự.  Tuy nhiên, không cần biết ý đồ của ông ta là gì, những hành động gây xáo trộn của ông ta cho đến hôm nay đều đã phục vụ cho những mục tiêu đó.

8. Phe quân nhân. Do một sự kết hợp của may mắn và khả năng chính trị, Khánh đã duy trì được địa vị tối cao trong hàng ngũ phe quân nhân, nhưng ông ta cũng đang phải đương đầu với nhiều khó khăn.  Trong năm 1964 đã xuất hiện một nhóm sĩ quan được mệnh danh là “những Tướng trẻ”8 .  Họ đã cứu Khánh hồi tháng Chín9  , nhưng họ cũng nghi ngờ động cơ của ông ta, và, chừng nào mà họ còn duy trì được sự đoàn kết của họ, họ chính là mối đe dọa thật sự cho địa vị của ông ta10  .  Bên dưới các Tướng trẻ (phần đông là tướng một sao) còn có một nhóm sĩ quan cấp Tá, tuy không có tổ chức quy cũ lắm nhưng có lẽ cũng không kém tham vọng.  Họ là những cấp chỉ huy đơn vị mà trong năm qua đã chịu gánh nặng đánh nhau với Việt Cộng.  Nếu không có các đơn vị do họ chỉ huy, các âm mưu sử dụng áp lực quân sự của năm qua đã không có thể thực hiện được.

9. Phần lớn các lãnh tụ của phe quân nhân đều có tinh thần quốc gia nhiệt thành. Họ không có ý định bỏ cuộc trong cuộc chiến tranh nầy, nhưng họ thiếu kiên nhẫn và thất vọng vì không thấy có tiến bộ nào cả. Tuy nhiên, đồng thời họ thiếu đoàn kết, lại xen vào chính trị quá nhiều, và một số lại có quá nhiều tham vọng cá nhân. Nhiều sĩ quan không tin tưởng vào Khánh, và cũng không ít sĩ quan không thích và nghi ngờ phe Phật giáo.  Khánh luôn luôn ở trong tình trạng có thể bị lật đổ bất cứ lúc nào — đặc biệt nếu ông ta làm một hành động nào quá lộ liễu để nắm quyền hành chính trị cho cá nhân ông hoặc nếu ông ta tỏ ra là một công cụ quá lộ liễu của phe Phật giáo hoặc nếu những cố gắng của ông ta không sớm đem lại được một sự ổn định về chính trị hay một tiến bộ về quân sự nào đó.

10. Phe Cộng sản. Rõ ràng là cả hai phe quân nhân và phe Phật giáo từ lâu đã là mục tiêu xâm nhập của Cộng sản.  Cấp lãnh đạo quân sự hiện nay có vẽ quyết tâm chống Cộng mặc dù Việt Cộng (VC) chắc chắn là đã xâm nhập vào quân đội ít nhất cũng ở mức độ có thể có đủ khả năng thu thập tin tức tình báo.  Tình hình trong Phong trào Phật giáo thì kém rõ rệt hơn, đặc biệt là vì phần lớn các xách động của phe Phật giáo rất dễ bị phe Cộng sản khai thác.  Không có bằng cớ cho thấy Phong trào là do Cộng sản điều khiển hay kiểm soát, nhưng có nhiều lý do vững chắc để tin rằng sự xâm nhập của Cộng sản đã thành công một phần nào.  Phong trào sinh viên thì có vẽ còn dễ bị Cộng sản xâm nhập hơn nữa.

II. Quan Hệ Về  Quyền  Lực  Hiện  Nay

11. Khánh và Trí Quang. Có bằng cớ rõ ràng là việc giải nhiệm Hương vào ngày 27 tháng 1 vừa qua và giải pháp chính trị tạm thời được công bố sau đó là kết quả của việc dàn xếp giữa Khánh và Trí Quang; các điều kiện của biến cố giúp chúng ta suy đoán thêm rằng họ đã hợp tác với nhau một thời gian để chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng nầy.  Sự hợp tác nầy có thể đã bắt đầu từ sau vụ giải tán Thượng HộI Ðồng Quốc Gia11  do Khánh và các Tướng trẻ thực hiện vào tháng 12, một hành động do áp lực từ bên trong phe quân nhân mà Hoa Kỳ kịch liệt phản đối.

12. Không bao lâu sau đó, phe Phật Giáo, mà trước đó đã nhiều lần biểu tình chống chính phủ, lại bắt đầu chiến dịch chống Hương. Họ cũng nhấn mạnh chiêu bài chống Hoa Kỳ, hay, cụ thể hơn, chống lại việc Ðại sứ Hoa Kỳ12  ủng hộ Hương.  Ðiều nầy đem lại cho chiến dịch chống Hương một yếu tố dễ gây xúc động mà trước đây nó không có.  Phe Phật giáo chắc chắn không dám nhấn mạnh chiêu bài chống Mỹ nầy nếu họ không tin rằng phe quân nhân sẽ không can thiệp.  Dù sao thì đề tài mới mẻ nầy cũng có lợi cho họ về chính trị, nhất là cho Khánh.  Vị thế chính trị của Trí Quang đã được tăng cường sau vụ giải nhiệm Hương vì ông đã công khai ủng hộ chuyện nầy.  Khánh thì ít nhứt ông ta cũng còn tạm thời nắm giữ được quyền hành, chuyện mà các đối thủ của ông ta cũng đành phải chấp nhận thôi.  Tất cả những điều nầy rõ ràng là có lợi cho cả Khánh lẫn Trí Quang cho nên khó mà tin rằng chỉ là do tình cờ

13. Bất cứ thế liên minh nào giữa Khánh và Trí Quang tự nó cũng không thể lâu bền được. Cả hai người đều không tin lẫn nhau. Trí Quang thì chắc chắn sẽ không giữ những điều ông đã cam kết; dấu hiệu của việc nầy, trên thực tế, đã bắt đầu xảy ra.  Trừ khi ông đứng ra nắm giữ chức vụ, điều khó tin là ông sẽ làm, vị trí của Trí Quang như là một lãnh tụ tranh đấu của một phong trào đầy cuồng nhiệt gần như chắc chắn sẽ đòi hỏi ông ta phải tiếp tục chỉ trích đường lối của chính phủ.  Theo kinh nghiệm trong quá khứ, ông ta sẽ không phải là một người phê bình xây dựng, nhưng có lẽ ông cũng sẽ thận trọng để tránh gây bất mãn đối với các Tướng trẻ.  Về phần Khánh, ông không thể làm mất lòng phe Phật giáo — trong tình hình hiện nay không một chính trị gia Việt Nam nào có thể làm điều nầy mà vẫn giữ được quyền hành — nhưng cũng không thể làm theo tất cả mọi đòi hỏi của họ nếu không muốn bị rơi vào nguy cơ có thể bị các đồng đội quân nhân lật đổ.  Phần lớn các phần tử dân sự cũng như quân sự có ảnh hưởng về chính trị tại Việt Nam đều đồng ý về “giải pháp” 27 Tháng 1, mặc dù người ta thấy có sự lo sợ trong một vài nhóm.  Ngoài ra, một số sĩ quan có thế lực cũng không hài lòng với các sự dàn xếp nầy và có thể đã quyết tâm ngăn cản không cho Khánh giữ mãi vai trò chính trị nầy cũng như ngăn cản không cho Khánh tiếp tục thỏa mãn những đòi hỏi ngày càng nhiều hơn của phe Phật giáo.

III . Triển  Vọng  Ngắn  Hạn                                                                                                          

14. Các dàn xếp chính trị hiện nay tại Saigon rõ ràng là tạm thời, và ít ra cũng có một cơ may rất mong manh là cái chương trình đã công bố cho những tuần lễ tiếp sau đây có thể mang lại hy vọng cho một tình trạng chính trị ổn định hơn tại Nam Việt Nam.  Tuy nhiên, trong khung cảnh chính trị hiện nay, một sự ổn định tương đối chỉ có thể thực hiện được nếu có một chính phủ trung ương với cơ cấu và nhân sự cao cấp mà đa số phe quân nhân và đa số phe Phật giáo có thể chấp nhận được — một điều mà theo nhận xét hiện nay khó có thể có được.  Ngay cả một Quốc Hội, nếu có thể triệu tập được vào tháng Ba tới đây, cũng không chắc sẽ thiết lập được một cơ cấu thường trực có khả năng đáp ứng được cả nguyện vọng của người Việt Nam lẫn thực tế chính trị tại Nam Việt Nam hiện nay.  Tuy nhiên, nếu cả hai điều cần thiết nầy đều được đáp ứng, chúng ta có thể sẽ chứng kiến trong mùa xuân và hè nầy sự phát triển của một cơ sở vững vàng hơn từ trước đến nay để tiến hành các cố gắng chống lại sự nổi loạn của Cộng sản. Khả năng đó còn kém xa năm mươi phần trăm.

15. Diễn tiến của các biến cố trong tương lai gần sẽ chịu ảnh hưởng của các hậu quả sau cùng của các tình tự dân tộc quá khích đã được khơi động từ mấy tuần qua.  Các tình tự nầy, vì mang mầu sắc bài ngoại và chống Hoa Kỳ, rõ ràng là sẽ gây nhiều khó khăn cho nổ lực của Hoa Kỳ.  Chế độ nầy vẫn biết là cần sự giúp đở của Hoa Kỳ, nhưng ngay trong ngắn hạn, chúng ta cũng phải thấy trước là các tình tự dân tộc nầy sẽ tạo ra nhiều giới hạn nghiêm trọng lên mức độ ảnh hưởng của hành động của chúng ta tại Việt Nam.  Có khả năng là phong trào dân tộc nầy, kết hợp với sự mệt mỏi và chán nản do chiến tranh gây ra, có thể xoay chiều ngã theo trung lập, điều mà chắc chắn phe Cộng sản sẽ khơi dậy thêm để khai thác.  Tuy nhiên, mặt khác, một chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ thể hiện qua một chính quyền do người bản xứ tạo ra và phản ảnh được thực tế chính trị địa phương sẽ là một thành tố chủ yếu có thể giúp cho bất cứ công cuộc chống nổi loạn nào được thành công.

Thay Lời  Kết

Tài liệu mật nầy của CIA chứa đựng nhiều nhận định và đánh giá rất chính xác về tình hình chính trị cũng như về tương quan giữa hai lực lượng chính trị chủ yếu (quân nhân và Phật giáo) tại Miền Nam Việt Nam vào đầu năm 1965.  Tài liệu cũng chứa đựng những tiên đoán rất chính xác về các diễn tiến chính trị có thể xảy ra trong ngắn hạn.  Ðiều nầy cho thấy khả năng thu thập, đánh giá và tổng hợp tin tức tình báo của CIA rất đáng kể, nhưng đồng thời cũng đặt ra một câu hỏi là liệu CIA đã có thể có những ảnh hưởng lên các diễn tiến chính trị đó đến mức độ nào.  Hy vọng những tài liệu mật khác của CIA sẽ được bạch hóa trong tương lai có thể giúp trả lời câu hỏi nầy.

Ghi Chú:

  1. Hội Ðồng Tình Báo Hoa Kỳ (United States Intelligence Board – USIB) là cơ quan phối hợp về tình báo của Hoa Kỳ, gồm đại diện của tất cả các cơ quan tình báo của Hoa Kỳ. USIB ra đời năm 1958 do sự kết hợp lại của hai cơ quan: IAC (Intelligence Advisory Committee) và USCIB (United States Communications Intelligence Board).  IAC có nhiệm vụ cố vấn cho Giám Ðốc Trung Ương Tình Báo (Director of Central Intelligence, DCI), gồm đại diện các đơn vị tình báo của  Bộ Quốc Phòng, Bộ Lục Quân, Bộ Hải quân, Bộ Không Quân, Bộ Tham Mưu Liên Quân, và Ủy Ban Nguyên Tử Năng và do DCI làm Chủ tịch.  USCIB có nhiệm vụ cố vấn cho Tổng Trưởng Quốc Phòng về tình báo thông tin (Communications Intelligence, hay COMINT), với các thành viên là Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Trưởng Ngoại Giao, Giám Ðốc Cơ Quan Ðiều Tra Liên Bang (Federal Bureau of Investigation, FBI), và đại diện của các đơn vị tình báo của các Bộ Lục Quân, Hải Quân và Không Quân.  Nhiệm vụ chính của USIB là phê chuẩn và phổ biến các bảng ước tính tình báo các quốc gia (National Intelligence Estimates, viết tắt là NIE).  USIB tồn tại mãi đến 1978 và được đổi tên thành NFIB (National Foreign Intelligence Board) do Lệnh Hành Pháp số 12036 do Tổng Thống Jimmy Carter ký, với nhiệm vụ chính là cố vấn cho DCI.  Tại thời điểm ra đời của tài liệu nầy, DCI là ông John Alex McCone (giữ chức vụ DCI từ ngày 29-11-1961 đến ngày 28-4-1965).
  2. Hội Ðồng Ước Tính Tình Báo Các Quốc Gia (Board of National Estimates, BNE) là một ủy ban mà thành viên gồm một số viên chức cao cấp trong chính phủ và một số giáo sư nổi tiếng từ các trường đại học. BNE có nhiệm vụ duyệt xét các bảng ước tính tình báo các quốc gia (NIE).  Cơ quan có nhiệm vụ thu thập tình báo, đánh giá, phân tích và tổng hợp thành các bảng NIE là Phòng Ước Tính Tình Báo Các Quốc Gia (Office of National Estimates – ONE), một đơn vị thuộc Nha Tình Báo (Directorate for Intelligence), một Nha của CIA, dưới quyền điều khiển của Deputy Director for Intelligence (DDI), một trong các vị Phó Giám Ðốc của CIA.  Sau khi duyệt xét xong, BNE sẽ đệ trình các NIE lên cho USIB phê chuẩn và phổ biến.
  3. SNIE là chữ viết tắt của Special National Intelligence Estimate, bảng ước tính đặc biệt về tình báo của một quốc gia. SNIE chỉ được tạo ra khi có một yêu cầu đặc biệt trong một tình huống nào đó.  Trong trường hợp của tài liệu nầy, ta không rõ là do yêu cầu của ai nhưng có thể đoán là rất có thể là do Toà Ðại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam hoặc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ sau các vụ biểu tình và bạo động chống Hoa Kỳ do các nhà lãnh đạo Phật giáo tổ chức tại Saigon và Huế, điển hình là vụ đốt Thư viện của Phòng Thông Tin Hoa Kỳ ở Huế ngày 23-1-1965.
  4. Thủ Tướng Trần Văn Hương (1903-1982), một nhân sĩ Miền Nam nổi tiếng liêm khiết, đã 2 lần giữ chức Ðô Trưởng Sài Gòn (tháng 10-1954 và tháng 9-1964); tại thời điểm này ông vừa bị Hội Ðồng Quân Lực giải nhiệm chức vụ Thủ Tướng; ông sẽ còn trở lại giữ chức vụ Thủ Tướng một lần nữa vào năm 1968; sau năm 1971 ông là Phó Tổng Thống, và trở thành Tổng Thống sau khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21-4-1975; khi Miền Nam sụp đổ ông từ chối lời mời di tản khỏi Việt Nam của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ.  Ông mất tại Sài Gòn vào ngày Mùng Ba Tết năm Nhâm Tuất (nhằm ngày 27-1-1982).
  5. Thượng Tọa Thích Trí Quang (1924- ), tại thời điểm này đang giữ chức vụ Thư Ký Viện Tăng Thống, thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, là lãnh tụ Phật Giáo đã âm mưu với Tướng Nguyễn Khánh trong việc giải nhiệm Thủ Tướng Trần Văn Hương.
  6. Ðại Tướng Nguyễn Khánh (1927-2013), cầm đầu cuộc “Chỉnh Lý” ngày 30-1-1964, bắt giam các Tưóng Trần Văn Ðôn, Mai Hữu Xuân, Lê Văn Kim và Tôn Thất Ðính, tại thời điểm này ông là Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Lực và Tổng Tư Lệnh của quân đội, nhưng ông sẽ không giữ được quyền hành lâu. Sau vụ đảo chánh bất thành của Ðại Tá Phạm Ngọc Thảo ngày 19-2-1965, ông bị các tướng lãnh loại khỏi chức vụ Tổng Tư Lệnh, và bị buộc phải rời khỏi Việt Nam ngày 25-2-1965.
  7. Nhận định và đánh giá tình hình nầy rất đúng. Sau khi đã giải nhiệm Thủ Tướng Trần Văn Hương ngày 27-1-1965, ngày hôm sau Hội Ðồng Quân Lực bổ nhiệm Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Oánh giữ chức vụ quyền Thủ Tướng.  Ngày 16-2-1965, thừa ủy nhiệm của Hội Ðồng Quân Lực, Ðại Tướng Nguyễn Khánh cử Bác sĩ Phan Huy Quát làm Thủ Tướng.  Chỉ ba ngày sau thì xảy ra vụ đảo chánh do Ðại Tá Phạm Ngọc Thảo cầm đầu với sự hỗ trợ của phe Công Giáo.  Vụ đảo chánh nầy không thành công nhưng đưa đến kết quả là Tướng Khánh bị các tướng trẻ lật đổ và đưa ra khỏi Việt Nam luôn.
  8. Nhóm Tướng trẻ (sách vở, báo chí Hoa Kỳ thường dùng từ “Young Turks” để chỉ họ) gồm phần lớn các Tướng (Chuẩn Tướng một sao, và Thiếu Tướng hai sao) đã thăng cấp sau vụ đảo chánh 1-11-1963 lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm hoặc do chính Ðại Tướng Nguyễn Khánh thăng cấp để tạo hậu thuẫn cho ông ta trong Hội Ðồng Quân Lực.  Hai Tướng có thế lực nhất trong nhóm Tướng trẻ nầy là Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư Lệnh Không Quân, và Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Vùng I.  Cả hai ông đều do chính Ðại Tướng Nguyễn Khánh thăng cấp Thiếu Tướng ngày 21-10-1964, sau khi có công trong việc chống lại âm mưu đảo chánh của Trung Tướng Dương Văn Ðức và Thiếu Tướng Lâm Văn Phát vào ngày 13-9-1964.   Xem thêm ghi chú số 9 dưới đây.
  9. Ðó là vụ âm mưu đảo chánh ngày 13-9-1964 của Trung Tướng Dương Văn Ðức, nguyên Tư Lệnh Vùng 4, và Thiếu Tướng Lâm Văn Phát, nguyên Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 và nguyên Tổng Trưởng Nội Vụ. Hai Tướng nầy cùng với Ðại Tá Huỳnh Văn Tồn và Trung Tá Dương Hiếu Nghĩa mang một số quân về Saigon, chiếm đóng một số địa điểm và đã kích Tướng Khánh.  Các tướng lãnh trẻ họp tại Bộ Tư Lệnh Không Quân và ra lệnh cho quân đảo chánh phải rút về vị trí cũ nếu không sẽ bị Không Quân tấn công. Cuộc đảo chánh thất bại. Ngày 20-9-1964 các Tướng Tá dính líu vào âm mưu đảo chánh đều bị cách chức.
  10. Nhận định nầy rất chính xác, xin xem lại các ghi chú số 6 và 7 ở trên.
  11. Thượng Hội Ðồng Quốc Gia (THÐQG) do quyết định của Ban Lãnh Ðạo Lâm Thời Quốc Gia và Quân Lực do Trung Tướng Dương Văn Minh làm Chủ tịch thành lập vào ngày 8/9/1964. THÐQG gồm 16 nhân sĩ tên tuổi sau đây: Phan Khắc Sửu, Lê Văn Thu, Nguyễn Văn Huyền, Trần Ðình Nam, Trần Văn Văn, Trần Văn Quế, Nguyễn Văn Lực, Nguyễn Xuân Chữ, Hồ Văn Nhựt, Mai Thọ Truyền, Ngô Gia Hy, Lê Khắc Quyến, Tôn Thất Hanh, Lương Trọng Tường, Nguyễn Ðình Luyện, và Hồ Ðắc Thắng.  Ngày 27/9/1964, ông Phan Khắc Sửu được bầu làm Chủ Tịch THÐQG. Ngày 24/10/1964, THÐQG tuyển nhiệm Chủ tịch Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng. Ngày 30/10/1964, Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bổ nhiệm ông Trần Văn Hương làm Thủ Tướng. Quyền Chủ tịch THÐQG, Bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, từ chức vì không đồng ý với sự thành lập chính phủ Trần Văn Hương. Luật sư Lê Văn Thu được bầu làm Chủ Tịch thay thế Bác sĩ Chữ.  Chính phủ Trần Văn Hương bị Phật Giáo chống đối nhưng Thủ Tướng Trần Văn Hương nhất quyết không chịu  cải tổ.  THÐQG không giải quyết được vụ khủng hoảng chính trị nầy. Ngày 20/12/1964, Hội Ðồng Quân Lực ra tuyên cáo không tín nhiệm và giải tán THÐQG.
  12. Ðại sứ Hoa Kỳ tại thời điểm nầy là ôngMaxwell D. Taylor (1901-1987), cựu Ðại Tướng, Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân của quân đội Hoa Kỳ (Chairman of the Joint Chiefs of Staff).