Tình Nghĩa Kiểu Mẫu Thủ Đức

Lâm Vĩnh Thế 

Toàn cảnh Trường THKMTĐ

Cuộc sống hàng ngày vộI vã của Bắc Mỹ làm chúng ta nhiều lúc cảm thấy hụt hơi.  Ngay cả cuối tuần cũng đâu có thông thả gì mấy, nào chợ búa, nào giặt giũ, nào thanh toán hóa đơn, với những ngườI có con nhỏ thì còn phải đưa rước chúng đi chơi thể thao, hay đi party nhà bạn bè chúng.  Rụp một cái là lại thấy đi làm lại sáng thứ hai.  Cứ thế cuộc sống xoay dần, thời gian qua mau, thoắt một cái, nhìn lại, tóc đã điểm sương.  Nhiều lúc tự hỏi mình đang làm gì ở đây, sẽ còn tiếp tục bao lâu nữa, kết cuộc sẽ là cái gì, vv.  Thật lòng mà nói, tuy mọi ngườI đều có những đóng góp đáng kể cho cái đất nước đã và đang cưu mang mình, phần đông chúng ta sống bên lề của xã hội.  Sự hộI nhập của chúng ta rất là giớI hạn.  Chúng ta sống và hành xử như ngườI bản xứ chẳng qua chỉ là trong phạm vi công việc làm của mình mà thôi.  Thử hỏi có bao nhiêu người trong chúng ta đã thật sự có một cuộc sống như một ngườI Mỹ hay người Canada trong đầy đủ ý nghĩa văn hóa của nó.  Chúng ta hờ hững với những sinh hoạt xã hộI, chính trị, văn học, nghệ thuật (có lẻ chỉ trừ ra bộ môn điện ảnh và truyền hình) của đất nước mình đang sống.  Nguyên nhân chính của cuộc sống bên lề xã hội nầy là hành trang quá khứ nặng nề của chúng ta.  Thứ hai nữa là tuổI tác, cả thầy cô lẩn học trò của KMTÐ bây giờ đều đã ngoại “tứ thập bất hoặc” xa lắc xa lơ cả rồi.  Nhiều thầy cô, và ngay cả học sinh, đã có thông gia, với các cháu nội ngoại đầy đủ.  Ở vào lứa tuổI nầy thì đâu có gì đáng ngạc nhiên khi chúng ta hướng về quá khứ nhiều hơn là tương lai. 

Trong cái hành trang quá khứ nặng nề đó, phần hành trang KMTÐ chiếm một phần rất đáng kể về nhiều mặt. Quan trọng nhất là niềm tự hào về trường.  Tại Miền Nam, trong suốt thờI Cộng Hòa, KMTÐ là ngôi trường trung học đồ sộ nhất, vớI những phương tiện dồi dào nhất (thư viện, phòng thí nghiệm, cơ xưởng, giảng đường, vv), với một chương trình học nhằm phát triển năng khiếu của học sinh nhất, và với một ban giảng huấn nhiệt tình nhất.  Học sinh KMTÐ được hấp thụ một phương pháp giáo dục thực tiển khác hẳn với lối học từ chương tại các trường trung học khác trên toàn quốc.  Không kể các bộ môn hoàn toàn mới như Công Kỹ Nghệ, Kinh Tế Gia Ðình, Doanh Thương, ngay cả các bộ môn thông thường như Việt Văn, Toán, Sử Ðịa (mà ở trường KMTÐ gọI là Kiến Thức Xã HộI), cách dạy và cách học cũng khác hẳn.  Nói chung, phương pháp giáo dục của KMTÐ là đặt vấn đề và thảo luận.   Học sinh phải tra cứu tài liệu, thực hiện các trợ huấn cụ, thuyết trình và trả lờI câu hỏi của các bạn đồng lớp, nhờ vậy kiến thức thu thập được không những dồi dào hơn lối từ chương mà còn mang tính “thường trực” (permanent) vì do chính học sinh tự tìm ra chớ không phải do thầy cô nhồi nhét vào đầu.  Không những thế, kiến thức của học sinh còn được mở rộng thêm ra qua các cuộc du khảo được nhà trường và ban giảng huấn tổ chức liên tục suốt năm.  Có thể nói rằng học sinh KMTÐ đã được đào tạo đầy đủ nhất để có thể thành công ở ngoài đời.  Chính vì thế mức độ thành công của học sinh KMTÐ ở hải ngoại hiện nay có thể nói là rất cao.

Một bộ phận khác không kém quan trọng trong hành trang KMTÐ là tình sư đệ.  Tình thân giữa thầy trò KMTÐ có một khác biệt lớn so với tình thầy trò ở các trường trung học khác ở Việt Nam.  Thầy trò KMTÐ không những gần gủi nhau trong việc học và dạy mà còn trong nhiều mặt sinh hoạt khác không có tại các trường khác: chung đụng nhau suốt ngày tại trường; đón xe, đi xe chung với nhau; cùng học hỏi với nhau trong các chuyến du khảo; thảo luận, chia xẻ, góp ý với nhau về những vấn đề riêng tư trong các buổi hướng dẩn khải đạo, vv.  Có ai trong chúng ta mà không có những kỹ niệm về những buổI đón xe mà xe không đến, về những buổI chiều tan trường thầy trò chen chút nhau trên xe vì phải dồn lộ trình, về những cuộc hát ví “Vân Tiên cõng mẹ chạy ra, chạy vô” ồn ào vui nhộn trên xe trong suốt lộ trình từ Thủ Ðức về Sài Gòn, về những Trại Hè Vũng Tàu, Trại Hè tại trường vớI trường kết nghĩa Trung Học Bến Lức, về những cuộc “lùng soát” của các giáo sư trong thờI gian nhà trường áp dụng “chế độ ngủ trưa”.  Và chắc chắn nhiều ngườI trong chúng ta cũng khó quên được những kỹ niệm đau buồn của trường như trong vụ tữ nạn của em Nguyễn Văn Mai.  Và làm sao mà quên được hình ảnh cây nêu cao nghệu được thầy trò hợp sức dựng lên trước giảng đường mổI năm vào dịp Tết.  Tất cả kết hợp lại một cách tuyệt vời để tạo nên tình cảm keo sơn trong lòng mổi ngườI chúng ta.  Với năm tháng, tình thân KMTÐ đã biến thành tình nghĩa KMTÐ.  Tình nghĩa KMTÐ nầy thể hiện rõ nét qua bao nhiêu hoạt động tương trợ–không thể kể hết được– giữa những con người KMTÐ ở trong nước cũng như tại hải ngoại.  Bây giờ với phương tiện của điện thư, của trang Web, việc huy động tình nghĩa nầy có thể xảy ra gần như lập tức.  Việc xây dựng Quỹ Học Bổng cho con em của các học sinh KMTÐ là một điểm son rực rở của tình nghĩa KMTÐ.  Ở từng quốc gia định cư, gần như năm nào cũng có những buổI họp mặt KMTÐ.  MổI khi thầy trò KMTÐ có dịp về thăm quê hương là đều có những cuộc họp mặt diển ra.  Gần đây nhất, tháng 4/2000 vừa qua, bản thân tôi có dịp đi công tác tại Texas, lập tức các thầy cô và học sinh KMTÐ tổ chức một buổI họp mặt hết sức vui tại nhà Thầy Cô Lê Văn Ruệ (Anh Văn).  Ðiều làm tôi cảm động nhất là các học sinh đã mang cả gia đình, vợ chồng, con cái (kể cả các cháu đã lớn, tốt nghiệp đại học xong và đã ra đi làm) cùng đến chung vui.  Qua câu chuyện, tôi vô cùng hãnh diện vì được biết tất cả các em đều thành công trong cuộc sống.  Cũnh chính tình nghĩa KMTÐ nầy đã góp phần quan trọng tạo ra được một đám tang đàng hoàng, ấm cúng cho Giáo Sư Nguyễn Chí Thành (Việt Văn) vào năm rồi ở Toronto, Canada (Xin đọc thêm bài “Viết Về Một Người Ðã Trở Về”  trong Ðặc San nầy).

Nếu hành trang quá khứ nói chung quá nặng nề của chúng ta đã là nguyên nhân làm cho chúng ta không được trọn vẹn hạnh phúc trong cuộc sống ly hương nầy, thì, ngược lại, hành trang KMTÐ lại chính là nguồn vui, bóng mát cho chúng ta hiện nay.  Kỹ niệm thì dĩ nhiên có vui mà cũng có buồn, nhưng dù vui hay buồn, chúng ta vẫn cố gằng giữ gìn nó.  Nó đã trở thành một phần không dứt bỏ được trong cuộc đời của chúng ta.  Trên hết, nó đã thăng hoa, biến thành một thứ tình nghĩa keo sơn mà chắc chắn mổI người chúng ta sẽ trân trọng trong suốt những ngày tháng còn lại của nhân kiếp.