Tài Liệu Mật Của C.I.A. về Việt Nam Cộng Hòa

Lâm Vĩnh Thế

Trong suốt thời gian chiến tranh Việt Nam, Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của chính phủ Hoa Kỳ (Central Intelligency Agency — C.I.A.) đã tạo ra hàng ngàn tài liệu mật (classified) liên quan đến tình hình chính trị, quân sự, kinh tế của Việt Nam Cộng Hòa (V.N.C.H.).  Từ hơn 20 năm nay, rất nhiều tài liệu thuộc loại nầy đã được bạch hóa (declassified) và trở thành một nguồn sử liệu rất quan trọng cho việc nghiên cứu về lịch sử của V.N.C.H.  Tuy nhiên, cũng như bất cứ loại sử liệu nào, các tài liệu mật của C.I.A. cũng đòi hỏi một sự hiểu biết đầy đủ về lý do cũng như cách thức tạo dựng ra chúng. Bài viết nầy nhằm cung cấp cho người đọc những hiểu biết cần thiết về loại tài liệu nầy.  

Sơ Lược Về Tổ Chức Và Hoạt Ðộng Của CIA

Cơ quan CIA được thành lập vào năm 1947 do đạo luật The National Security Act of 1947, ban hành ngày 26-07-1947. Theo đạo luật nầy, đứng đầu CIA là một Giám Ðốc Trung Ương Tình Báo = Director of Central Intelligence (thường được gọi tắt là DCI), do Tổng Thống bổ nhiệm với sự đồng thuận của Thượng Viện.  Ðiều 102(d)(5) của đạo luật ghi rõ rằng CIA, ngoài các chức năng chính, còn có nhiệm vụ phải “thi hành các chức năng và nhiệm vụ khác về tình báo có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia mà Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia đôi khi có thể giao phó = to perform such other functions and duties related to intelligence affecting the national security as the National Security Council may from time to time direct” 1 Trong thời gian Chiến Tranh Lạnh, điều khoản nầy đã được chính phủ Hoa Kỳ khai thác tối đa để giao thêm cho CIA rất nhiều chức năng và nhiệm vụ mới, đặc biệt là trong lãnh vực hoạt động bí mật (covert action).  Bộ máy tổ chức của CIA đã được phát triển rất nhanh theo chiếu hướng nầy, và đến năm 1952, loại hoạt động nầy đã chiếm đến 60% tổng số nhân viên và 72% ngân sách của CIA. 

Vào năm 1964, ngay trước khi Hoa Kỳ ồ ạt đổ quân vào Việt Nam, CIA đã có một cơ cấu tổ chức theo mô hình sau đây:

Nha Tình Báo (Directorate of Intelligence, do Deputy Director for Intelligence đứng đầu) là bộ phận có nhiệm vụ cung cấp các tin tức tình báo cần thiết cho các cơ quan của Chính phủ Hoa Kỳ.  Trong Nha nầy, Office of National Estimates (ONE) la Sở quan trọng nhất, với nhiệm vụ cung cấp bản tin tình báo về từng quốc gia trên thế giới, gọi chung là các National Intelligence Estimates (NIE).  Các NIE sẽ do một hội đồng gọi là Board of National Estimates duyệt xét, và trình lên United States Intelligence Board (USIB) để được phê chuẩn và ban hành.  Tuy nhiên trên thực tế NIE chỉ là tài liệu căn bản cung cấp một cái nhìn toàn diện và tổng quát về một quốc gia mà thôi.  CIA luôn luôn phải ứng phó với nhu cầu tình báo cập nhật trước mọi biến cố có thể xảy ra.  CIA thi hành công tác nầy qua nhiều loại hình tài liệu tình báo khác như công văn (Memorandum), công điện (Cable), báo cáo hàng tuần (Weekly Report), báo cáo hàng tháng (Monthly Report), báo cáo đặc biệt (Special Report), và ngay cả những NIE đặc biệt (Special National Intelligence Estimates, hay SNIE). 

Tài Liệu Mật Ðã Bạch Hóa Của CIA Về Việt Nam

Từ năm 1975 đến năm 2000, dựa trên liệt kê trong tạp chí Declassified Documents Quarterly Catalog (1975-1985) và sau đó đổi tên là Declassified Documents Catalog (1986-2000), đã có tất cả là 1744 (với tổng số trang là 15736) tài liệu mật của CIA về Việt Nam được bạch hóa (Xem chi tiết ở các Phụ Ðính 1 và 2).  Các  tài liệu nầy có thể từ chỉ gồm một trang (một bức công điện –Cable– chẳng hạn) cho đến hàng trăm trang (một báo cáo đặc biệt -Special Report- chẳng hạn).  Về nội dung, các tài liệu nầy có thể đề cập đến tất cả mọi khía cạnh của chế độ VNCH: chính trị, quân sự, kinh tế, vv..Rất nhiều tài liệu cung cấp các chi tiết tiểu sử của các nhân vật quan trọng của VNCH, đặc biệt là các tướng lãnh, các tổng, bộ trưởng cũng như các lãnh tụ đảng phái và tôn giáo.  Sau khi chính quyền Johnson quyết định gửi quân sang tham chiến tại VNCH, CIA thực hiện những báo cáo tình hình hàng tuần và hàng tháng, trong đó ghi nhận đầy đủ chi tiết các biến cố chính trị, quân sự của VNCH.  Trong phần Tình Hình Chính Trị, các báo cáo nầy trình bày các hoạt động của chính phủ VNCH, thí dụ như các vụ cải tổ nội các, khai mạc và diễn tiến của các chương trình hoạt động của chính phủ, cũng như các thảo luận tại Quốc Hội.  Phần nầy cũng ghi nhận các hoạt động của các chính khách, các chính đảng, các tin đồn về đảo chánh, các cuộc bầu cử, vv.  Trong phần Tình Hình Quân Sự, các báo cáo nầy ghi lại các cuộc hành quân của QLVNCH, quân đội Hoa Kỳ, các nước Ðồng Minh, quân BV và VC, với đầy đủ chi tiết về nơi chốn xảy ra các trận đánh, các đơn vị tham gia của cả hai phe, cũng như số thương vong và tổn thất vũ khí của hai bên.  Các phần Tình Hình Kinh Tế ghi lại đầy đủ tình hình sản xuất nông nghiệp và kỹ nghệ của VNCH, với các chỉ số về giá cả hàng hóa, vàng và ngoại tệ, vv.  Song song với các báo cáo hàng tuần về tình hình tại VNCH, CIA cũng thực hiện hàng loạt các báo cáo về hiệu quả của Kế Hoạch ROLLING THUNDER (tức là việc oanh tạc BV bởi Không Lực Hoa Kỳ), cũng như các báo cáo về việc xâm nhập VNCH của quân BV.  Tất cả các loại báo cáo nầy sẽ là một nguồn sử liệu rất hữu ích cho viêc nghiên cứu về VNCH trong khoảng thời gian đó.

Nội Dung Các Loại Tài Liệu Mật Của CIA

Phần nầy của bài viết đi sâu hơn vào nội dung các tài liệu mật của CIA về VNCH.  Mỗi loại tài liệu có một chức năng, hay công dụng khác nhau. Khối lượng của mỗi loại tài liệu cũng khác nhau.  Nếu căn cứ vào Phụ Ðính B thì loại Công Ðiện chiếm đa số, tiếp theo là loại Công Văn, rồi mới đến các loại Báo Cáo (tuy nhiên chúng ta cần lưu ý là Phụ Ðính chỉ phản ảnh các tài liệu đã được bạch hóa, chớ không phải toàn bộ tài liệu mà CIA đã thực hiện).  Nói chung, các loại Công Ðiện và Công Văn mang tính nhất thời và cập nhật hơn là các Báo Cáo. Các Báo Cáo, trái lại, mang một lượng thông tin lớn hơn nhiều, và thông thường là có kiểm tra và đánh giá thông tin hơn các loại Công Ðiện và Công Văn.  

Người viết xin đưa ra một vài thí dụ tương đối tiêu biểu về các tài liệu điển hình để người đọc có một ý niệm về những thông tin mà chúng ta có thể truy dụng được từ các tài liệu mật của CIA về VNCH.  Ðây là thí dụ về 2 loại tài liệu điển hình: Loại Báo Cáo Tình Hình Hàng Tuần (Weekly Situation Report) và Loại Công Ðiện (Cable).

Loại Báo Cáo Tình Hình Hàng Tuần

Loại báo cáo tình hình hàng tuần được gọi là ‘Situation in South Vietnam’ và được thực hiện theo một dàn bài thống nhứt và thường gồm khoảng 20-30 trang với một số bản đồ và biểu đồ. 

Xin lấy thí dụ một báo cáo cụ thể để minh họa.  Ðó là báo cáo hàng tuần của tuần lễ từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 5 năm 1966, thực hiện ngày 18/05/1966, mang số OCI No. 0374/66 (OCI là chữ tắt của Office of Current Intelligence,  Sở Tình Báo Hiện Hành, một Sở quan trọng của CIA), được đánh số 002524 của năm 1986 trong bộ vi phiếu (microfiche) Declassified Documents Reference System (DDRS), gồm tất cả 26 trang, với nội dung theo một dàn bài như sau:

Toát Yếu

            Bản đồ, Nam Việt Nam

I. Tình Hình Miền Nam Việt Nam

A. Tình Hình Chính Trị

–       Hành động của chính phủ tại Ðà Nẵng mở màn cho một giai đoạn bất ổn định mới

–       5 tiểu đoàn quân trung thành với chính phủ được đưa vào khu vực

–       Chính phủ Saigon cương quyết thực hiện mục tiêu tối hậu

–       Có tin là Huế sẽ là mục tiêu kế tiếp của chính phủ

–       Phản ứng của Phật Giáo cứng rắn hơn lúc đầu

–       Nhóm tranh đấu tiếp tục hoạt động tích cực ở Huế

–       Các tướng lãnh tại Vùng I biểu lộ lập trường khác nhau

–       Các khó khăn về nghiệp đoàn tại Saigon đã giảm bớt

–       Tình hình kinh tế: giá bán lẻ tiếp tục gia tăng tại Saigon; lúa gạo vẫn là vấn đề chính của VN; sản xuất lúa gạo giảm 7% so với năm trước; liệt kê giá ngoại tệ

B. Tình Hình Quân Sự

–       Hoạt động của địch gia tăng

–       Thống kê hàng tuần

–       Cuộc Hành quân MONTGOMERY chấm dứt tại Vùng I

–       Các cuộc hành quân tại Vùng II tương đối thắng lợi

–       Cuộc Hành quân BIRMINGHAM chấm dứt tại Vùng III

–       QLVNCH thực hiện 2 cuộc hành quân lớn tại Vùng IV

–       Không Lực Hoa Kỳ thực hiện 8 phi vụ B-52

–       Liệt kê kết quả các phi vụ chiến thuật

–       Xà lan CS bi mắc cạn sau khi bị tàu tuần duyên của Hải Quân Hoa Kỳ rượt đuổi

–       Vùng I tiếp tục ghi nhận nhiều hoạt động nhứt của địch

–       Tóm lược hoạt động của địch tại các Vùng chiến thuật khác

–       Báo cáo về thay đổi của tình trạng của các trục giao thông

Bản đồ các trục giao thông

C. Xây Dựng Nông Thôn

–       Trên 30.000 cán bộ hoạt động trong lãnh vực Xây Dựng Nông Thôn

–       Số cán binh CS về chiêu hồi đã thăng bằng lại sau khi đã sút giảm rõ rệt

–       Con số cán binh CS về chiêu hồi thấp nhứt là tại Vùng I

Bản đồ  Bắc Việt Nam

II. Các Phát Triển Trong Khối Cộng Sản

–       Bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh tố cáo phi cơ Hoa Kỳ xâm phạm không phận và bắn rơi phi cơ MIG

–       Báo chí Trung Quốc đăng hình các thiết bị của Hoa Kỳ mà Trung Quốc cáo buộc là đã lượm được gần nơi xảy ra giao tranh

III. Các Phát Triển Tại Các Nước Ðệ Tam

–       VNCH ký thỏa ước thương mại với Tunisia

–       Các cuộc viếng thăm của hai phái đoàn quân sự cao cấp của Ðại Hàn và Trung Hoa Dân Quốc

–       VNCH cử Ðại sứ đến Morocco

–       Lịch trình viếng thăm ngoại quốc của các viên chức cao cấp của VNCH

–       Có tin các dược phẩm viện trợ của Tây Ðức đã chạy ra chợ trời

Phụ Ðính:

1.    Thống kê chiến trường của QLVNCH: số thương vong

2.    Thống kê chiến trường của QLVNCH: số các cuộc giao tranh và tấn công của địch

3.    Các chỉ số kinh tế của VNCH

4.    Thống kê giá bán lẻ hàng tuần tại Saigon

Dựa trên dàn bài nầy, chúng ta có thể thấy được mức độ chi tiết về tình hình chính trị, quân sự và kinh tế của VNCH cũng như các diễn tiến chính trị, quân sự, ngoại giao của các nước thứ ba cũng như các nước trong khối Cộng Sản đã diễn ra trong tuần lể từ ngày 12 đến ngày 18 tháng 5 năm 1966.  Ðây là một thời điểm rất quan trọng về chính trị của VNCH: vụ biến động ở Miền Trung do Phật Giáo xách động đưa đến quyết định của Chính phủ Nguyễn Cao Kỳ đưa Thủy Quân Lục Chiến ra Ðà Nẵng và Huế. 

Theo Phụ Ðính 2, 132 tài liệu loại nầy đã được bạch hóa.  Chúng có khả năng giúp các nhà nghiên cứu sử VNCH có thể nhìn lại một số biến cố chính trị, quân sự theo trình tự diễn tiến của các biến cố đó một cách khá chính xác.

Loại Công Ðiện

Loại tài liệu nầy đa số được thực hiện do nhu cầu cấp thiết trong một tình huống đặc biệt nào đó, thường cung cấp loại tin “sống” (raw), chưa được kiểm chứng và đánh giá.  Tầm quan trọng của chúng nằm trong việc cung cấp cho các nhà lãnh đạo những thông tin tối thiểu, cần thiết để tạm thời có được ngay một nhận định và quan điểm về một biến cố đang hay vừa mới xảy ra. 

Xin lấy một tài liệu cụ thể để minh họa.  Ðó là Công Ðiện (Cable), do CIA gửi đi từ Saigon ngày 1-11-1963, và được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ nhận vào lúc 2:15 giờ sáng, giờ Hoa Thịnh Ðốn, ngày 1-11-1963, được đánh số 002720 của năm 1987 trong bộ vi phiếu DDRS, gồm 1 trang, với nội dung như sau:

binh sĩ mang khăn quàng đỏ đổ vào Saigon từ hướng Biên Hòa. Dường như là Thủy Quân Lục Chiến. Các lực lượng nầy chiếm đóng Trung Tâm Viễn Thông chứ không phải, xin lập lại, không phải Bưu Ðiện.  Vào lúc 13:45, giờ địa phương, nhiều lực lượng khác, không rõ quân số, tiếp tục tiến vào.,,,  Cuộc đảo chánh đang diễn ra.  Cũng vào lúc nầy, Tổng Nha Cảnh Sát và Bộ Quốc Phòng đã bị Thủy Quân Lục Chiến chiếm đóng.  Nha An Ninh Quân Ðội bị Thủy Quân Lục Chiến bao bây nhưng vẫn còn ra vào tự do.  Có tin báo là có giao tranh diễn ra tại khu vực của Lực Lượng Ðặc Biệt tại Tân Sơn Nhứt.  Thủy Quân Lục Chiến xuất phát tử Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.

Ðọc công điện nầy, chúng ta thấy rõ tính cấp thiết của những thông tin chứa trong công điện: đây là những thông tin đầu tiên về cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm.  Công điện có mục tiêu báo động cho Chánh phủ Hoa Kỳ, qua Bộ Ngoại Giao, về một biến cố chính trị quan trọng, có thể có những hậu quả sâu xa trong bang giao giữa Hoa Kỳ và VNCH.  Nó chỉ cung cấp thông tin mà thôi, tuyệt nhiên không có kiểm chứng và đánh giá tin.  Những binh sĩ mang khăn quàng đỏ từ Biên Hòa kéo về Saigon có thể là các đơn vị của Sư Ðoàn 5 Bộ Binh của Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu, chớ không phải Thủy Quân Lục Chiến mà quân phục màu xanh lơ với những đường vằn đen rất dễ nhận ra.  Ở cuối công điện thì lại ghi là Thủy Quân Lục Chiến xuất phát từ Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trưng, là hướng ngược hẳn với hướng từ Biên Hòa. Công điện cũng nói thêm là còn có nhiều lực lượng khác nhưng không rõ quân số. Ngược lại công điện cũng nói rõ chi tiết về thời điểm, cũng như các địa điểm đã bị quân đảo chánh chiếm đóng. Nói tóm lại, đây là một bản tin tạm đủ nhưng thiếu chính xác về những diễn tiến đầu tiên của cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963.

Truy Dụng Tài Liệu Mật Ðã Bạch Hóa Của CIA 

Tài liệu mật đã bạch hóa của cơ quan CIA là một bộ phận của tài liệu mật đã bạch hóa của Chính phủ Hoa Kỳ.  Việc truy dụng tài liệu mật của Chính phủ Hoa Kỳ có thể thực hiện theo 3 cách: tài liệu in và vi phiếu, tài liệu điện tử từ một CD-ROM và trên INTERNET, và tài liệu điện tử số-hóa trên INTERNET.  Việc truy dụng các tài liệu nầy đã được trình bày đầy đủ chi tiết trong một bài báo đã đăng trong tạp chí Thế Kỷ 21, số 156 (Tháng 6, năm 2002)2

Gần đây, người viết đã được Ðại Học Saskatchewan cho nghĩ phép 1 năm (Sabbatical Leave, từ ngày 1-July-2003 đến 30-June-2004), để thực hiện hai dự án nghiên cứu.  Một trong hai dự án nầy là thiết kế và xây đựng một Cơ Sở Dữ Liệu (CSDL) trực tuyến trên mạng Internet (Web-based Online Database) về các tài liệu mật đã bạch hóa của CIA.   Việc thiết kế và xây dựng CSDL nầy đã được tường trình trong một bài báo đăng trên tạp chí Online, số xuất bản vào tháng 7/ 8 của năm 2004.

CSDL nầy hiện có khoảng 1.200 ký lục (records) và có thể truy dụng tại địa chỉ Internet sau đây:

http://library.usask.ca/vietnam

Mỗi ký lục gồm có các trường (Fields) sau đây:

Nhan đề của tài liệu

Ngày tài liệu được tạo ra

Ngày tài liệu được bạch hóa

Loại tài liệu: Cable, Memo, Report, Weekly Report, vv

Mức độ Mật của tài liệu: Confidential, Secret, và Top Secret

Tình trạng của tài liệu: nguyên bản (Original) hay đã bi thanh lọc (Sanitized)

Số trang, bản đồ

Toát yếu

Các từ mô tả nội dung

Số trong bộ vi phiếu DDRS

Nối kết (Link): địa chỉ Internet của nguyên văn tài liệu

Sau khi dùng địa chỉ Internet nói trên để truy cập vào CSDL, người sử dụng sẽ thấy hiện ra một màn hình như sau:

Việc truy tìm tài liệu  có thể thực hiện bằng 2 cách: cách đơn giản và cách phức tạp.  Nếu muốn dùng cách đơn giản, người sử dụng chỉ cần đưa vào ô trống bên cạnh chữ Search một từ hay cụm từ, rồi bấm chuột vào chữ Go bên cạnh.  Thí dụ, muốn tìm các tài liệu về trận Tết Mậu Thân, ta đánh vào ô trống cụm từ Tet Offensive thì sẽ nhận được kết quả như sau:

Muốn tìm tài liệu theo cách phức tạp thì bấm chuột vào chữ Advanced Search bên dưới ô trống, ta sẽ có một màn hình mới như sau:

Nhìn vào màn hình mới nầy, người sử dụng sẽ thấy rõ là mình có thể tìm tài liệu bằng nhiều cách khác nhau, cũng như có thể giới hạn việc truy tìm tài liệu của mình bằng nhiều lối, thí dụ bằng mức độ Mật của tài liệu, bằng loại tài liệu, bằng ngày tài liệu được tạo ra, bằng ngày tài liệu được bạch hóa.

Sau đây là hai đặc điểm của CSDL nầy mà người sử dụng cần chú ý: 1) các từ mô tả (Indexing Terms) đều là những kết nối nóng (hot links); bấm chuột vào một từ mô tả người sử dụng sẽ được cho biết ngay là CSDL có chứa bao nhiều tài liệu về đề tài đó.; 2) Nối kết với địa chỉ Internet của tài liệu nguyên văn (Full text documents); bấm chuột vào đây, người sử dụng sẽ được nối kết ngay vào tài liệu nguyên văn có tại Virtual Vietnam Archive (VVA) của Vietnam Center tại Ðại Học Texas Tech University, Lubbock, Texas, Hoa Kỳ.  Hiên nay độ một phần ba các ký lục trong CSDL nầy có chứa nối kết như thế với VVA.  Xin lấy một thí dụ để minh họa 2 đặc điểm nầy: trên màn hình cho Advanced Search, ta đưa cụm từ Tet Offensive vào ô trống cho Find Results With the Exact Phrase, và đồng thời bấm chuột vào ô nhò bên cạnh hàng chữ Only return documents that are available online; xong rồi bấm chuột vào ô Search; ta sẽ một màn hình mới như sau:

 Bấm chuột vào nhan đề của tài liệu đầu tiên được liệt kê, ta sẽ có một màn hình mớI cho ký lục của tài liệu đó như sau:

Tiếp theo ta dùng chuột để kéo scroll bar bên tay phải để xem  các chi tiết bên dưới  của ký lục nầy:

Bấm chuột vào cụm từ BIEN HOA PROVINCE (Tỉnh Biên Hòa) trong phần Indexing Terms, ta sẽ có một màn hình mới cho biết CSDL có tất cả là 41 tài liệu có nói về Tỉnh Biên Hòa:

Bấm chuột vào chữ Back bên trên màn hình để trở lại màn hình trước đó, rồi bấm chuột vào hàng chữ ngay bên dưới của phần Link To Full Text (gọi là URL = Uniform Resource Locator), ta sẽ được nối mạng ngay lập tức vào tài liệu nguyên văn đã được số-hóa (digitized) và lưu trữ tại VVA:

Kết Luận

Tài liệu mật đã bạch hóa của Chính phủ Hoa Kỳ nói chung, và của cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) nói riêng, là một nguồn sử liệu rất quan trọng trong việc nghiên cứu lịch sử của VNCH.  Tuy nhiên, việc sử dụng các tài liệu nầy đòi hỏi một sự thận trọng nơi người sử dụng.  Lý do quan trọng nhứt đòi hỏi sự thận trọng nầy là việc thanh lọc (Sanitization) của các tài liệu trước khi chúng được bạch hóa.  Xuất xứ của các nguồn tin đều đã được bôi xóa để bảo vệ nhân viên đã cung cấp tin.  Lý do thứ hai cần quan tâm là một số rất lớn các tài liệu nầy, nhất là loại Công Ðiện, đã thực hiện với mục đích duy nhứt là thông tin, nên gần như luôn luôn không có kiểm chứng và đánh giá tin.  Nếu chúng ta thực hiện đầy đủ sự thận trọng cần có, người viết tin rằng tài liệu mật đã bạch hóa của CIA có thể giúp ích chúng ta rất nhiều trong việc nghiên cứu lịch sử của VNCH.

Ghi Chú:

1. The Central Intelligence Agency : History and Documents / edited by William M. Leary.  Birmingham, Ala. : University of Alabama Press, 1984.  Tr. 129-130.  Một phần của The National Security Act of 1947được in lại nguyên văn dưới nhan đề Document Three, tr. 128-130.

2. Lâm Vĩnh Thế. Vấn Ðề Truy Dụng Tài Liệu Mật Ðã Bạch Hóa Của Chính Phủ Hoa Kỳ. Thế Kỷ 21, số 158 (Tháng 6, 2002), tr. 42-47.

3. Vinh-The Lam và Darryl Friesen.  A-Web-Based Database of CIA Declassified Documents on the Vietnam war.  Online,  Vol. 28, no. 4 (July/Aug. 2004), tr. 31-35. Bạn đọc có thể đọc nguyên văn của bài báo bằng Anh ngữ nầy tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.infotoday.com/online/jul04/friesen_lam.shtml

Phụ đính  1

Tài Liệu Mật CIA Về Việt Nam Ðã Bạch Hóa, 1975-2000

              NămTổng Số Tài LiệuTổng Số Trang  
                 1975                                 47               266
                 1976               123               913
                 1977                 80               595
                 1978                 55               589
                 1979                 58               568
                 1980                 88               619
                 1981                 16                 70
                 1982                 28               112
                 1983                 38               604
                 1984                 62               720
                 1985                 86               385
                 1986                 97             1503
                 1987                 70               352
                 1988                 44               347
                 1989                 69               861
                 1990                 47               497
                 1991                 18               203
                 1992                 47               429
                 1993               167             1764
                 1994               159             1456
                 1995                 85               939
                 1996                 64               525
                 1997                 45               519
                 1998                 22               146
                 1999                 88               515
                 2000                 41               239
     Tổng Cộng             1744           15736

Phụ Ðính  2

Bảng Liệt Kê Tài Liệu CIA Theo Loại Tài Liệu

NămL1L2L3L4L5L6L7L8TC
1975 161615  0  0   0  0  0 47
1976 504010  6  8  1  2  6123
1977 3823 12  1  2  1    1  2  80
1978 121216  1  9  2  0  3  55
1979 111417  1  11  3  0  1 58
1980 72  7  4  0   3     0  0  2 88
1981   3  9  1  2  0  0  0  1 16
1982 1113  4  0  0  0  0  0 28
1983   514 17  0  2  0  0  0 38
1984   726 27  0  2  0  0  0 62
1985 3243 11  0  0  0  0  0 86
1986 2446 23  0  3  1  0  0 97
1987 3620 10  0  4  0  0  0 70
1988   923 11  0  0  1  0  0 44
1989 1918 31  0  1  0  0  0 69
1990 1418   6  0  9  0  0  0 47
1991   8  7   3  0  0  0  0  0 18
1992 2216   7  0  2  0  0  0 47
1993 8137 25  0 24  0  0  0167
1994 9336 10  0 20  0  0  0159
1995 2923 17  0 15  0  1  0  85
1996 3211 10  0   4  0  1  6  64
1997 1315 10  0   7  0  0  0  45
1998   9  8   4  0  0  0  0  1  22
1999 6021   0  0  6  0  0  1  88
2000 30  8   3  0  0  0  0  0  41
TC736524304 11132  9  5231744

 Chú Thích:

            Các chữ viết tắt dùng trong Phụ Ðính 2:

            L1: Cable

            L2: Memo

            L3: Report

            L4: Special Report

            L5: Weekly Report

            L6: Monthly Report

            L7: NIE

            L8: SNIE

            TC: Tổng Cộng