Thư Viện Cổ Tại Alexandria

Lâm Vĩnh-Thế

    Lịch sử thư viện thời cổ đã bắt đầu cách đây gần 5.000 năm, cùng một lúc với sự xuất hiện của chữ viết hình đinh của người Sumerians ở vùng Lưởng Hà Châu.  Các thư viện trong các đền thờ của những người này đã từng chứa các sổ sách thương mại, bài tập về văn phạm, sách toán, khái luận về y học và chiêm tinh, và các sưu tập về thánh ca, kinh kệ và phù chú.1 Sau người Sumerians là người Babylonians rồi đến người Assyrians đều có xây dựng thư viện tại vùng đất phì nhiêu nầy.  Tên tuổi của vị vua Ashurbanipal (668-626 BC) của người Assyrians được ghép liền với thư viện hoàng gia nổi danh tại kinh đô Nineveh.  Cùng lúc đó, người Ai Cập cũng xây dựng nhiều thư viện trong các cung điện cũng như đền thờ của họ.  Vua Rameses II (khoảng 1300 BC) được biết đã có một thư viện gồm khoảng 20.000 cuộn chỉ thảo trong cung điện của ông tại Thebes.2 Tuy nhiên phải đợi đến đầu thế kỷ thứ 4 BC ta mới thấy xuất hiện tại Ai Cập 1 thư viện khổng lồ của nền văn minh Hy Lạp.  Thư viện nầy được xây dựng tại thành phố Alexandria, tân kinh đô của Ai Cập.  Bài này cố gắng tóm lược những nét chính của thư viện đó.

I. Sự Thành Lập Thư Viện Alexandria

1. Sự thành lập kinh đô Alexandria: Lịch sử thời Thượng cổ của Hy Lạp là một cuộc nội chiến kéo dài cho đến thế kỷ thứ 7 BC khi Sparta va Athens vượt lên và chế ngự cả vùng bán đảo.  Nhưng rồi 2 quốc gia – đô thị này cũng suy nhược, nhờ vậy vua Philip của xứ Macedonia mới bành trướng được thế lực xuống miền Nam.  Năm 336 BC ông bị ám sát chết, con ông là Alexander nắm quyền và khuất phục được toàn thể các tiểu quốc.  Sắn đà ông tấn công và chiếm trọn đế quốc Ba Tư.  Sau đó, quay ngược về phía Tây Nam ông chiếm luôn vùng Bắc Phi.  Năm 332 BC, trên đường trở về ngang vùng châu thổ sông Nile, ông quyết định xây một kinh đô mới cho Ai Cập và quyết định biến nó thành trung tâm của nền văn minh Hy Lạp.3  Nó sẽ được mang tên ông: Alexandria.

2. Ptolemy và Demetrius thành lập Musuem: Alexander Ðại Ðế không nhìn thấy được sự hình thành và lớn mạnh của Alexandria như ý ông muốn vì ông chết sau đó 9 năm tại Babylon vào lúc 33 tuổi.  Ðế quốc mênh mông của ông được chia cắt cho các tướng lãnh thuộc hạ và Ai Cập thuộc về phần của tướng Ptolemy.  Sau một thời gian cai trị Ai Cập như một Thống đốc thuộc quyền vua Macedonia, Ptolemy tự xưng làm vua Ai Cập vào năm 304 BC, tức Ptolemy I hay Ptolemy Sotor.  Ông cố gắng thực hiện ý định của Alexander Ðại Ðế biến Ai Cập, hay đúng hơn là kinh đô Alexandria, thành trung tâm điểm của nền văn hóa Hy Lạp.  Một trong những cố gắng nầy là xây dựng tại Alexandria một hàn lâm viện gọi là Musuem (vì hàn lâm viện được xem như dâng hiến cho các Muses, tức là các vị thần bảo trợ nghệ thuật và khoa học) theo lời đề nghị của Demetrius of Phalerum, một chính trị gia Hy Lạp tỵ nạn, từ Athens đến và đang được trọng dụng tại triều đình.4  Demertrius, đãõ từng theo học với Theophrastus (đệ tử chính của Aristotle) tại ngôi trường mệnh danh là Lyceum, nay đã dựa một phần nào theo khuôn mẫu đó để xây dựng Museum.  Ðồng thời ông cũng đã khuyến khích Ptolemy Sotor, vốn cũng là một người trọng học vấn, mời gọi các học giả Hy Lạp về mọi ngành đến làm việc tại Museum.  Có thể nói trong suốt triều đại của Ptolemy Sotor, Demertrius chính là người đã gầy dựng và phát triển Museum.

3. Thư viện Museion và Serapeum: Ðể các học giả có thể làm việc được theo truyền thống của Aristotle, Ptolemy Sotor đã cho xây cất một thư viện trong khuôn viên của hàn lâm viện Museum.  Thư viện này, do đó, được gọi là Museion, hay cũng có khi gọi là Brucheion vì nằm trong khu vực dinh thự của Alexandria.5  Về sau đến đời con của Sotor là Ptolemy Philadelphus (tức là Ptolemy II) lại cho xây cất thêm 1 thư viện nhỏ hơn trong đền thờ thần Serapis nằm trong khu vực của người bản xứ (tưc là người Ai Cập), do đó thư viện này thường được gọi là Serapeum.6  Như vậy, thật ra, khi nói tới Thư viện Alexandria là ta nói tới cả 2 thư viện của thành phố nầy, 1 nằm trong hàn lâm viện Museum thuộc khu vực dinh thự, và 1 nằm trong đền thờ thần Serapis trong khu vực bình dân. 

II. Hoạt Ðộng Của Thư Viện Alexandria

1. Các nhân vật liên hệ tới Thư viện Alexandria: Rất nhiều học giả nổi danh của Hy Lạp đã có liên hệ không nhiều thì ít tới thư viện Alexandria.  Trong phần trên ta đã thấy vai trò của Demetrius of Phalerum trong việc hình thành và phát triển trong những năm đầu của thư viện nầy.  Vị vua thứ nhì của dòng Ptolemy, mặc dù không ưa Demetrius và đã đày ông đi khỏi Alexandria, vẫn tiếp tục nuôi dưỡng và bồi bổ phong trào ưa chuộng và đề cao văn hóa Hy Lạp.  Các học giả vẫn tiếp tục được trọng dụng và bộ sưu tập của thư viện đã được tăng cường.  Sau đây là danh sách các học giả Hy Lạp đã hoặc giữ vai trò quản thủ thư viện hoặc ít nhất được biết đã có những hoạt động tại thư viện trong thời gian được liệt kê kèm theo:7

–       Demetrius of Phalerum, 290-282 BC

–       Zenodotus of Ephesus, 282-260 BC

–       Callimachus of Cyrene, 260-240 BC

–       Apollonius of Rhodes, 240-230 BC

–       Eratosthenes of Cyrene, 230-196 BC

–       Aristophanes of Byzantium, 196-185 BC

–       Apollonius the Eidograph, 180-160 BC

–       Aristarchus of Samothrace, 160-146 BC

–       Onesander of Cyprus, 100-96 BC

–       Chaeremon of Alexandria, 50-70 AD

–       Dionysius, con của Glaucus, 100-120 AD

–       Caius Julius Vasinus, 120-130 AD  

Callimachus và Apollonius of Rhodes là những thi sĩ.  Zenodotus, Aristophanes và Aristarchus là những phê bình gia thẩm quyền về thi phẩm của Homer.  Eratosthenes là nhà địa lý và thiên văn lừng danh đã từng giảng dạy rằng quả đất là một hình cầu và đã tính được chu vi của địa cầu.  Trong số các vị nầy, Callimachus có lẽ là nhân vật quan trọng nhất xét về phương diện lịch sử thư viện vì ông chính là người đã tổng kê lối 1/5 bộ sưu tập của thư viện Alexandria8 và làm ra bộ thư mục cho thư viện nầy gọi là Pinakes mà ta sẽ xét đến trong phần sau.

2. Hoạt động của các học giả: Hoạt động chính của các học giả tại Museum là duyệt và hiệu đính các thủ bản mà thư viện đã sưu tập được.  Công việc nầy thật là cần thiết vì tình trạng “tam sao thất bản” của thời xưa khi sách chưa được in mà chỉ được chép tay.  Các tác phẩm được thu thập nhiều nhất là của các tác giả Hy Lạp thời trước.  Người ta tin rằng việc phân chia tác phẩm của Homer ra thành từng quyển đã được thực hiện tại thư viện nầy, mỗi quyển được tính sao cho vừa đủ để chép đầy một cuộn chỉ thảo.  Ða số các học giả làm việc tại đây là người Hy Lạp nhưng cũng có một số là người bản xứ, nhất là những người có thể phiên dịch được từ ngôn ngữ của họ sang tiếng Hy Lạp.  Một người Ai Cập là Manethos đã được dùng để dịch các tác phẩm của Ai Cập và viết 1 quyển biên niên sử của xứ nầy.  Ngoài ra, theo tục truyền, 70 học giả Do Thái đã tham dự vào việc dịch quyển Cựu Ước ra tiếng Hy Lạp.  Sự hiện diện của các giảng đường và sinh viên cho phép ta quả quyết rằng các học giả tại Museum còn đãm nhận cả công tác giảng huấn nữa.9  Sau cùng thư viện Alexandria cũng là cơ sở xuất bản các tác phẩm đã được hiệu đính của các tác giả về đủ mọi loại văn chương.  Nhờ vậy thành phố Alexandria đã nắm giữ được độc quyền trên thị trường sách vở của vùng Ðia Trung Hải cho đến thời của Caesar.10 

3. Bộ sưu tập

a) Hình thức các tài liệu: Khác với các thư viện của người Sumerians, Babylonians và Assyrians, tài liệu của thư viện Alexandria không phải là những bảng đất sét nung mà là những cuộn chỉ thảo.  Loại “giấy” nầy được chế tạo từ một giống cây lau mọc rất nhiều hai bên bờ phần hạ lưu của sông Nile.  Người ta cắt cây lau ngay khi nó còn nhỏ và xanh, đem về tách ra lấy phần lõi bên trong đem phơi khô.  Sau đó các cọng lõ nầy được đập dẹp ra, xếp thành lớp, 1 lớp dưới nằm ngang, 1 lớp trên nằm dọc.  Hai lớp nầy được giữ cho dính chặt bằng một chất keo, rồi tất cả lại được ép cho mỏng nữa và đem phơi khô một lần nữa.  Sau đó mặt chỉ thảo dùng để viết được chà láng bằng một miếng ngà, xương hay vỏ sò.  Khôn khổ thông thường của các mảnh chỉ thảo là từ 22,5 cm tới 17,5 cm chiều dài và từ 12,5 đến 22,5 cm chiều rộng.  Khi cần ghi chép nhiều, người ta nối các mảnh này lại thành một cuộn với một cây lõi để cuộn bằng ngà, gỗ hay kim loại.  Những cuộn chỉ thảo dài hơn 33 m đã được tìm thấy nhưng thông thường chúng chỉ dài từ 5 tới 6 m thôi.11     

b) Cách thủ đắc và số lượng: Ðóng vai trò như một thư viện quốc gia, thư viện Alexandria đã được hưởng một chính sách thủ đắc đặc biệt vô cùng.  Theo lệnh của Ptolemy Sotor, tất cả sách vở được biết có tại kinh đô phải được sao chép để nạp cho thư viện.  Tàu bè vào bến Alexandria bị tịch thu tất cả sách vở có trên tàu để sao chép.12  Sotor còn gởi nhân viên đi khắp nơi, dùng mọi cách để tìm cho được sách gởi về.  Hai thị trường sách quan trọng nhất thời bấy giờ là Athens và Rhodes đã cung cấp rất nhiều sách vở cho thư viện Alexandria.  Vào cuối triều đại của Sotor, bộ sưu tập nầy được biết đã đạt tới con số là 200.000 cuộn chỉ thảo.  Sau khi Sotor chết rồi, con và cháu là Ptolemy II và Ptolemy III vẫn tiếp tục chính sách thủ đắc nầy.  Theo đa số các tài liệu thì con số lớn nhất mà thư viện nầy đạt được, vào năm 47 BC khi Julius Ceasar đánh chiếm Alexandria, là700.000 cuộn chỉ thảo.13  Con số nầy phải nhận là quá sức lớn lao cho thời đó vì thế nhiều học giả rất nghi ngờ con số nầy.  Dù sao phải nhận là triều đại Ptolemy đã chi tiêu những số tiền khổng lồ để phát triển thư viện của họ.  Theo một truyền thuyết, Ptolemy III đã cho người sang Athens mượn tại văn khố xứ nầy những ấn bản hay nhất của các bi kịch của Aeschylus, Sophocles và Euripides mang về sao chép.  Ông đã để lại thế chưn 15 thoi vàng với lời cam kết sẽ trả lại nguyên bản của các tác phẩm đó.  Nhưng sau khi sao chép xong vị vua nầy chỉ cho trả lại Athens các bản sao nên đành phải chịu mất luôn số vàng đó (và dĩ nhiên mất luôn cả danh dự nữa).14 

c) Cách sắp xếp: Như trên đã nói, Callimachus đã tổng kê sách vở tại thư viện nầy và làm ra bộ thư mục gọi là Pinakes.  Bộ thư mục nầy được biết gồm tất cả 120 cuộn chỉ thảo và mang nhan đề như sau: “Bảng liệt kê  các tác giả quan trọng của từng loại văn chương và các tác phẩm của họ.” 15  Ðây là một thư mục theo lối môn loại và hệ thống phân loại mà Callimachus áp dụng được biết đại khái phân chia như sau:

–       Thuật hùng biện

–       Lịch sử

–       Luật

–       Triết học

–       Y khoa

–       Thi ca trử tình

–       Bi kịch

–       Linh tinh16  

Mỗi môn loại được phân chia thành nhiều tiểu loại.  Trong mỗi môn loại như thế các tiểu dẫn được sắp xếp theo thứ tự mẫu tự tên tác giả hoặc theo thời gian.  Mỗi tiểu dẫn ngoài tên tác giả và nhan đề đều có ghi số dòng và những chữ bắt đầu của tác phẩm.  Ngoài ra Callimachus lại còn thêm vào mỗi tiểu dẫn phần ghi chú về tiểu sử của các tác giả và đôi khi có cả phần phân tích về nội dung của tác phẩm nữa.  Tuy nhiên Callimachus lại loại bỏ không ghi vào tiểu dẫn chi tiết mà ngày nay ta gọi là “ấn tịch” : tên người chép sách và niên đại chép sách.17  Ngoài ra chúng ta không thấy tài liệu nào cho biết xem Callimachus có ghi số hiệu để tìm sách hay không trong bộ Pinakes.  Do điểm này và cũng do điểm Callimachus có ghi chú về tiểu sử tác giả trong bộ Pinakes, các học giả hiện nay vẫn còn chưa đồng ý với nhau là Pinakes là thư mục của thư viện Alexandria hay chỉ là một thư tịch về các tác phẩm của các tác giả Hy Lạp thời đó.  Tuy nhiên ít nhất họ đều đồng ý rằng Callimachus chắc chắn đã căn cứ trên những sách vở của thư viện Alexandria để làm bộ Pinakes đó.  Nói cách khác các sách vở được liệt kê trong bộ Pinakes chắc chắn có chứa tại thư viện Alexandria, ít nhất là trong khoảng thời gian Callimachus đã làm việc tại đó.

III. Sự Suy Tàn Của Thư Viện Alexandria

Số phận sau cùng của thư viện Alexandria thật ra cũng không được biết chắc cho lắm.  Có điều chắc chắn là nó đã phát triển rực rở trong mấy trăm năm như là trung tâm văn hóa của Hy Lạp.  Bắt đầu từ vị vua thứ 6 của dòng Ptolemy, Ai Cập đi vào con đường suy vong.  Vua Ptolemy VII phải rời bỏ kinh đô sau một cuộc tranh chấp ngôi báu.  Trong trận đánh tái chiếm Alexandria ông đã phóng hỏa một phần lớn thành phố nầy.  Ta không được biết rõ thư viện Alexandria có bị thiệt hại gì không nhưng chắc chắn là các học giả đã bỏ đi rất nhiều.  Athenaeus đã ghi lại rằng: “Một số lớn các ngữ pháp gia, triết gia, địa lý gia, y sĩ đã vượt biển đi khắp thế giới, buộc lòng phải dạy học để mưu sinh.”18

    Sau giai đoạn này, với nội chiến và ngoại xâm liên miên, Ai Cập càng ngày càng suy tàn và dĩ nhiên thư viện Alexandria cũng không tránh khỏi bị thiệt hại do chiến tranh gây ra.  Julius Ceasar khi đánh chiếm Ai Cập năm 47 BC đã đốt phá khu bến tàu của Alexandria và làm cháy lan qua luôn một phần thư viện Musuem.  Chính để bù đắp sự thiệt hại nầy mà Mark Anthony đã lấy hết bộ sưu tập của thư viện Pergamum về tặng cho Cleopatra.19

    Tình trạng thư viện này càng bi đát hơn khi Ai Cập trở thành một thuộc địa của La Mã.  Một số sách vở bị lấy đem về để vào các thư viện tại La Mã.  Tuy vậy thư viện Alexandria vẫn còn tồn tại cả trăm năm nữa vì ta được biết Hoàng Ðế La Mã Hadrian đã có đến viếng thư viện này trong thời gian trị vì của ông (117-138 AD).  Sau đó không có một tài liệu nào cho ta biết về sinh hoạt của thư viện này cả cho đến năm 273 AD là năm mà Hoàng Ðế La Mã Aurelian tái chiếm Ai Cập, đốt phá phần lớn kinh đô Alexandria, kể cả khu vực của thư viện Brucheion.  Phần còn lại của thư viện nầy, hay có lẽ đúng hơn, thư viện mới xây cất lại tại địa điểm này, sẽ bị tàn phá luôn vào năm 645 AD khi thành phố Alexandria bị quân Hồi Giáo dưới quyền tướng Omar đánh chiếm.   Họ đã lấy các sách vở đốt để đun nước cho binh sĩ tắm.20  Về phần thư viện Serapeum nó chỉ tồn tại đến năm 391 AD là năm mà nó bị Giám Mục Thiên Chúa Giáo Theophilus ra lệnh tiêu hủy vì nó năm trong đền thờ của tà thần Serapis, theo tinh thần của đạo dụ do Hoàng Ðế Theodosius I ban bố.21  Nếu ta coi như phần thư viện bị quân Hồi Giáo tiêu hủy năm 645 thật ra có thể chỉ là một thư viện Thiên Chúa Giáo được xây cất trong một giáo đường hay tu viện tại địa điểm cũ của thư viện Serapeum thì niên đại 391 AD có thể xem như là niên đại cuối cùng trong lịch sử của thư viện cổ Alexandria.  Nếu chấp nhận điều này thì thư viện Alexandria đã có một lịch sử kéo dài 7 thế kỷ.

    Với tầm quan trọng ngoại hạng của bộ sưu tập, với sự hiện diện đông đảo và hoạt động văn hóa tích cực của các học giả Hy Lạp thuộc đủ mọi ngành và với thời gian góp mặt gần 700 năm này, ta có thể kết luận rằng thư viện Alexandria không thể chối cải được là thư viện vĩ đại nhất của thế giới trong thời Thượng Cổ.

Ghi Chú:

1. Dunlap, Leslie W.  Readings in library history.  New York : Bowker, 1972.  Tr. 2.

2. Johnson, Elmer D.  History of libraries in the Western World.  Metuchen, N.J. : Scarecrow, 1970.  Tr. 35.

3. Gates, Jean Key.  Introduction to librarianship.  New York : McGraw-Hill, 1968.  Tr. 14.

4. Dunlap, sđd, tr. 19.

5. Johnson, History, sđd, tr. 55.

6. Johnson, History, sđd, tr. 56.  Xin lưu ý là trong quyển sách đã dẫn của Gates, bà này lại gán việc xây cất thư viện Serapeum cho Ptolemy III; hiện tôi chưa đủ tài liệu để xác định quyển nào đúng.

7. Johnson, History, sđd, tr. 56-57.

8. Dunlap, sđd, tr. 22-23.

9. Johnson, History, sđd, tr. 55.

10. Hessel, Alfred.  A history of libraries, bản dịch của Reuben Peiss.  New Brunswick, N.J. : Scraecrow, 1955.  Tr. 4.

11. Johnson, Elmer D.  Communication : an introduction to the history of writing, printing, books and libraries.  Metuchen, N.J. : Scarecrow, 1973.  Tr. 21.

12. Hessel, sđd, tr. 1.

13. Mukherjee, A.K.  Librarianship : its philosiphy and history.  Bombay : Asian, 1966.  Tr. 77.

14. Dunlap, sđd, tr. 21-22.

15. Johnson, Communication, sđd, tr. 33-34.

16. Johnson, History, sđd, tr. 57.

17. Strout, Ruth French, “The development of the catalog and cataloging codes,” trong The Catalog and Cataloging của Arthur Ray Rowland.  New York : Shoe String, 1969.  Tr. 6-7.

18. Johnson, History, sđd, tr. 59.

19. Johnson, History, sđd, tr. 59.

20. Johnson, History, sđd, tr. 59.

21. Gates, sđd, tr. 15.