Tài Liệu Mật Của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ Liên Quan Ðến Ông Ngô Ðình Diệm Vào Tháng 4 Năm 1955

Lâm Vĩnh Thế.

Sau đây là bản dịch của tài liệu mật của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, được làm bảng dẫn trong Quyển (Volume) 2, trang 778 của The Declassified Documents: Retrospective Collection  do nhà xuất bản Carrollton Press xuất bản tại Washington, DC. vào năm 1976.  Toàn bộ văn bản của tài liệu nầy có thể đọc được trong bộ vi phiếu (microfiche) mang tên Declassified Documents Reference System: Retrospective Collection, ở vi phiếu dành cho các trang 777A-781F. 

Tài liệu nầy gồm có ba phần:

*    Một văn thư ngắn (1 trang) của Bộ Trưởng Ngoại Giao John Foster Dulles gởi cho Tổng Thống Dwight D. Eisenhower để chuyển tường trình cho Tổng Thống hai công điện nhận được từ Tướng Collins

*    Hai công điện của Tướng Collins, Ðại diện của Tổng Thống Eisenhower tại Việt Nam gởi cho Bộ Trưởng Ngoại Giao Dulles:

*  Công điện mang số 4382 (3 trang), gởi ngày 7-4-1955, lúc 7 giờ tối giờ Saigon, và nhận lúc 10 giờ 35 sáng giờ Washington, D.C., ngày 7-4-1955

*  Công điện mang số 4399, gồm hai phần:

– Phần I (gồm 2 trang), gởi ngày 7-4-1955, lúc 11 giờ tối giờ Saigon, và nhận lúc 3 giờ 01  chiều giờ Washington, D.C., ngày 7-4-1955

–  Phần II (gồm 2 trang), gởi ngày 7-4-1955, lúc 11 giờ tối giờ Saigon, và nhận lúc 2 giờ 28 chiều giờ Washington, D.C., ngày 7-4-1955 

Toàn bộ tài liệu đều được xếp loại Tối Mật (Top Secret) và đã được bạch hóa vào ngày 12-12-1975. 

Bản Dịch:                                          

Tối Mật

Bộ Trưởng Ngoại Giao

Washington

Văn Thư Kính Gửi Tổng Thống1

Toà Bạch Ốc 

Tôi nghĩ rằng Tổng Thống cần đọc công điện đính kèm, gồm hai phần, do Collins2 gởi về.  Và cả công điện gởi trước đó, trong đó Collins báo cáo về cuộc nói chuyện giữa Collins và Ely3 

John Foster Dulles4

Ðính kèm:

Từ Saigon –

Công điện số 4382, 7-4-55

Công điện số 4399, 7-4-55

Công Ðiện Ðến        Bộ Ngoại Giao

19 -H  Tối Mật                         Số kiểm soát:   3794 

Nhận:   7-4-1955  10:35 sáng

Từ           Saigon

Gởi         Bộ Trưởng Ngoại Giao

Số          4382, 7 Tháng 4, 7 giờ tối  (Phần I của hai phần)

            NIACT

            Gởi Bộ 4382, Lập lại Thông tin NIACT Paris 1174.

            Collins Gởi Ông Bộ Trưởng.

            Paris Gởi Ông Ðại Sứ và Achilles.

1.  Bộ trình Ông Bộ Trưởng 8 giờ sáng, ngày 7.

2.  Ely tiếp tôi vào lúc 11 giờ sáng ngày 7, không có sự hiện diện của nhân viên Pháp.  Ông muốn thẳng thắn báo cho tôi biết những suy nghĩ của ông về cuộc khủng hoảng đang diễn ra. Ông nói rằng ông chưa báo cáo cho Chính phủ của ông về những quan điểm mà ông sắp nói cho tôi biết.  Ely nói rằng sứ mạng của chúng tôi tại đây giống nhau, là bảo vệ Việt Nam cho thế giới tự do và ngăn chặn sự bành trướng của Cộng sản tại Ðông Nam Á.  Ông nói rằng theo ông sứ mạng nầy có một tầm quan trọng đặc biệt và tin rằng những công tác mà hai người chúng tôi có thể được giao phó trong tương lai cũng chưa chắc gì có thể mang một trách nhiệm nghiêm trọng hơn, bởi vì chúng tôi là những “khuôn mặt chủ chốt” trong tình hình hiện nay.

3.  Ông nói rằng ông ta và tôi đã được chỉ thị cứu nguy cho Việt Nam, cùng với ông Diệm5 .Ông nói rằng ông tin là chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được, mặc dù về phần ông, ông tự thấy đôi khi ông đã tỏ ra vụng về.Cho đến hiện nay chúng tôi đã tránh được một cuộc nội chiến có thể làm mất Việt Nam.  Ông tiếp tục nói rằng bây giờ không thể cứu ông Diệm được nữa, trừ phi phải chấp nhận cái giá phải trả để có thể vượt qua những khó khăn vô cùng lớn lao, và nếu giữ ông Diệm lại thì điều đó chỉ có nghĩa là giúp Việt Nam duy trì một vị Thủ Tướng tệ hại nhứt mà Việt Nam chưa từng có.

4.  Ely tin rằng ông Diệm đã hoàn toàn bị cô lập, không còn ai ủng hộ ông ngoài gia đình ông và có lẽ độ mười người bạn.  Quân Ðội đã bỏ rơi ông; thành phần trí thức thì chống ông; quần chúng thì không ủng hộ ông, họ thà là theo bất cứ người nào khác mà có khả năng tranh thủ và giữ được họ.  Uy tín của ông Diệm ở các tỉnh đã sút giãm một cách nghiêm trọng, và trong quân đội chỉ còn hai hay ba tướng lãnh còn trung thành với ông.

5.  Ðường lối tiếp cận chung đối với Bảo Ðại mà chúng tôi đã đồng ý khuyến cáo lên hai chính phủ (Pháp và Hoa Kỳ) có thể tạm thời cứu nguy cho ông Diệm, nhưng các vấn đề của ông ta vẫn y nguyên.  Ely nói rằng, với tư cách là một người Quốc Gia, ông Diệm đã ở vào một thế bất thường là chỉ được sự ủng hộ của Ely và tôi, và hậu quả là ông ta còn là bù nhìn hơn bất cứ vị tiền nhiệm nào của ông ta nữa.  Ông (Ely) nói rằng ông cảm thấy rõ rệt vì quyền lợi của Việt Nam và thế giới tự do, không thể duy trì ông Diệm được nữa.  Ông nói, trái lại, ông Diệm phải được nhanh chóng thay thế vì nếu trì hoãn thì sẽ gây nguy hại cho tương lai của Việt Nam.  Vì thế, ông nói, ông ta và tôi phải chứng minh cho hai chính phủ (Pháp và Hoa Kỳ) là không thể nào tiếp tục đường lối hiện nay, và hai chính phủ phải yêu cầu Bảo Ðại cách chức ông Diệm và cử người thay thế.

6.  Ely tiếp tục nói thêm rằng, theo ý ông, Việt Nam vẫn có thể được cứu nguy, và kể ra các yếu tố thuận lợi như sau:

A.  Việt Minh hiện không hoạt động mạnh tại Việt Nam như người ta đã lo sợ.

B.  Tình hình kinh tế tương đối tốt, so với Miền Bắc.

C.  Dân chúng tương đối vẫn còn đứng giữa, và có thể tranh thủ được.

D.  Quân Ðội có nhiều tiềm năng và có thể được chương trình TRIM6 giúp nâng cấp lên nhiều.

E.  Chính phủ hiện đã có nhiều kế hoạch và cải cách rất hay, do chúng ta làm ra, mà một chính phủ mới và làm việc hiệu quả hơn có thể thi hành.

7.  Ely nói rằng những yếu tố thuận lợi nầy còn được tăng cường do nghĩa vụ chung của Pháp và Hoa kỳ đối với người di cư mà chúng ta đã cứu và mang từ miền Bắc vào.

8.  Ely nói rằng ông không cho rằng thành tích của ông Diệm là hoàn toàn xấu cả, và ông hy vọng là ông Diệm có thể sẽ được giữ lại trong Nội Các mới.  Ely kể ra như thành tích của ông Diệm các việc như là tình hình tương đối ổn định sau Hiệp Ðịnh Genève, các công tác giúp đỡ người di cư, và các chương trình xã hội đã được thực hiện do chỉ thị của Thủ Tướng.  Tuy nhiên, ông nói tiếp, một nhân vật khác cần phải có ngay để thi hành các chương trình quan trọng và chuẩn bị cho Tổng Tuyển Cử7 trong tương lai. Ông nói rằng chúng ta không nên nói là cuộc thí nghiệm với ông Diệm là một thất bại, nhưng đúng hơn phải nói là thời của ông Diệm đã qua rồi và sự lựa chọn một người mới là một điều phải làm.

9.  Ely nói rằng tầm quan trọng mà ông ta gán cho sự cộng tác giữa ông ta và tôi lớn lao đến độ ông ta đã quyết định thông báo cho tôi những kết luận nầy trước khi thông báo chúng cho những người cộng tác thân cận nhất của ông.  Ông nói thêm rằng cho đến ngày hôm kia ông vẫn còn tin là chúng ta phải tiếp tục ủng hộ ông Diệm, nhưng hôm nay, 7 Tháng Tư, sau trọn một ngày suy nghĩ rốt ráo về mọi khía cạnh, ông đã đi đến kết luận là để cứu vãn Việt Nam cho thế giới tự do, ông Diệm phải được thay thế.  Ông nói là ông hiểu rằng tôi cần có thi giờ để nghiên cứu các nhận xét của ông và ông ta đã không đòi hỏi tôi phải trả lời ngay.

KIDDER

JAK-2

Công Ðiện Ðến             Bộ Ngoại Giao

27-21                                               Tối Mật    

27-22                                                Số kiểm soát:  3952

Nhận:           7 Tháng 4, 1955, 3:01 Chiều

Từ       Saigon

Gởi:     Bộ Trưởng Ngoại Giao

Số:       4399, 7 Tháng 4, 11:00 Tối (Phần Một của Hai Phần)

NIACT

            Của Collins Gởi Ông Bộ Trưởng

            Kính thưa Ông Bộ Trưởng:

Ngay cả trước khi tôi nhận được bức thư của Ông Bộ Trường (DEPTEL 4330), tôi đã cân nhắc nhiều về việc viết cho Ông Bộ Trưởng sự ước tính của tôi về những cơ may của Ông Diệm trong việc tiếp tục ở chức vụ Tổng Thống Việt Nam8 .  Tôi vừa gởi cho Ông Bộ Trưởng một công điện (EMBTEL 4382) để báo cáo về những quan điểm của Tướng Ely về vấn đề nầy. Tôi nghĩ rằng tôi phải trình bày cho Ông Bộ Trưởng và Tổng Thống những phán xét của tôi về vấn đề nầy và về những biến cố gần đây.

Như Ông Bộ Trưởng đã biết, tôi đã làm tất cả những gì có thể làm được trong thẩm quyền của tôi để giúp Ông Diệm, theo đúng chỉ thị ban đầu của Tổng Thống và những chỉ thị tiếp theo của Ông Bộ Trưởng và Bộ.   Trong nhiều thông điệp khác nhau, và trong báo cáo Tháng Giêng của tôi, tôi đã nói rõ về những nghi ngờ ngày càng gia tăng của tôi đối với khả năng lãnh đạo của Ông Diệm trong hoàn cảnh khó khăn và phức tạp hiện nay tại Việt Nam.

Bây giờ tôi phải nói rằng phán quyết của tôi là Ông Diệm không có khả năng tạo ra được sự thống nhất cần phải có về mục tiêu và hành động của dân tộc nầy, điều chủ yếu để ngăn chận quốc gia nầy rơi vào vòng kiểm soát của Cộng Sản.  Tôi rất tiếc phải nói ra điều nầy nhưng tôi cũng cần phải nói rõ là tôi tin chắc vào điều nầy.

Trong thời gian năm tháng qua từ ngày tôi sang đây, tôi đã cảm phục Ông Diệm rất nhiều.  Ông có nhiều đức tính tốt, trong sạch, là một người quốc gia nhiệt thành và rất kiên định.  Tuy nhiên, cũng chính những đức tính nầy, gắn liền với sự thiếu sót của Ông về mặt thực tế chính trị, tính không chịu thỏa hiệp, không thể quan hệ tốt với những người có khả năng khác, và khuynh hướng luôn luôn nghi ngờ động cơ của những người bất đồng ý kiến với ông, đã khiến cho Ông trên thực tế không thể nào giữ được sự đoàn kết trong Chính phủ nầy.  Như tôi đã nhiều lần nêu ra, Ông quan tâm nhiều đến sự cố vấn của các người em của Ông, Ông Luyện và Ông Nhu9 hơn là của Tướng Ely và tôi.  Ông đã nhiều lần từ chối việc tản quyền, giao phó trách nhiệm cho các bộ trưởng của Ông, cũng như không chịu tham khảo ý kiến của họ trước khi quyết định những việc quan trọng. Ðiều nầy đã đưa đến việc từ chức của một số ít những người có khả năng trong nội các của Ông, những người không phải, xin lập lại, không phải là những kẻ chỉ biết vâng dạ.

Tôi đồng ý với sự đánh giá của Tướng Ely và của những người như Bác sĩ Quát10 , Ðổ11 và Minh12 , là ông Diệm sẽ không thành công trong việc tìm được những người mới có khả năng để tham gia vào một chính phủ cải tổ.  Những yếu tố trên đây đã là tệ hại, nhưng có lẽ điều sau đây còn nghiêm trọng hơn, đó là sự bất lực rõ rệt của Tổng Thống (Ông Diệm) trong việc suy nghĩ và hoạch định một cách sáng tạo.  Trong suốt thời gian tôi ở đây, tôi chưa bao giờ thấy được ở ông một tư tưởng xây dựng nào của chính ông.  Tất cả những chương trình tiến bộ mà chúng ta đã gán cho Ông, thực ra, đều đã được làm ra do cố gắng chung của Tướng Ely và tôi và bộ tham mưu của chúng tôi.  Tôi vẫn chưa biết rõ là Ông Diệm có thật sự nắm vững tầm quan trọng của các chương trình nầy hay không cũng như những khó khăn lớn lao trong việc thực thi chúng hay không.

KIDDER

JNA

Công Ðiện Ðến                 Bộ Ngoại Giao

27-H                                            Tối Mật                       Số kiểm soát:  3950

Nhận: 7 Tháng 4, 1955,                                              2:28 giờ chiều

Từ       Saigon

Gởi:     Bộ Trưởng Ngoại Giao

Số       4399, 7 Tháng 4, 11 giờ tối (Phần II  của Hai phần)

NIACT

Thay vì bám chặt vào lộ trình tuy có khó khăn nhưng rõ ràng trong việc thực thi các chương trình nầy, Ông Diệm đã nhiều lần đi lạc ra ngoài mục tiêu, cũng như Don Quixote đã nhiều lần vọt ra khỏi lộ trình để đi thăm thú các cối xay gió.  Trong những lần như vậy, khi thì tìm cách thuyên chuyển các sĩ quan quân đội mà ông xem như là trung thành với tướng Hinh13 , khi thì có hành động đối phó với Ông Soái14 và Ba Cụt15 , khi thì cách chức cấp chỉ huy cảnh sát, Ông Diệm hoàn toàn mất phương hướng đối với những mục tiêu chính yếu, và gần như không thể nào lôi kéo Ông trở về chính lộ.  Chúng tôi đã chứng kiến chuyện nầy nhiều lần.

Tóm lại, mặc dù Ông Diệm có nhiều đức tính tốt, sự phán quyết có suy nghĩ của tôi là Ông ấy thiếu khả năng lãnh đạo và khả năng điều hành để có thể thành công trong việc đứng đầu một chính phủ có nhiệm vụ phải chống lại sự thống nhất hành động và hiệu quả của Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh.

Nói như thế thì tôi cũng xin nói thêm ngay là tôi không tin là Ông Diệm là một nhân tố không thể thiếu được trong việc thực hiện mục tiêu của chúng ta tại Việt Nam, nghĩa là, cứu quốc gia nầy khỏi hiểm họa Cộng Sản.  Tôi tin rằng những chương trình mà Tướng Ely và tôi đã đưa ra rất tốt và có thể thực hiện được.  Nhưng những người kế nhiệm chúng tôi phải có được một Tổng Thống và Nội Các mà họ có thể cùng làm việc được, và, trong một mức độ nào đó, cùng nói một ngôn ngữ như chúng ta và kiên định trong việc thi hành các chương trình nầy.

Tôi tin rằng Ông Trần Văn Ðỗ hay Bác sĩ Quát có thể thành lập và điều khiển thành công một chính phủ như thế.

Nếu chính phủ chúng ta chấp nhận một thay đổi như thế, tôi xin khuyến cáo là chúng ta phải đặt điều kiện tiên quyết, với sự đồng ý của Tổng Thống Diệm và sự ủng hộ hoàn toàn của Bảo Ðại, là phải lấy lại quyền kiểm soát cảnh sát từ Bình Xuyên16 .  Ông Bộ Trưởng có thể cảm thấy là nếu làm được điều nầy thì chúng ta nên để cho Ông Diệm thêm một thời gian để xem ông ta có thể mở rộng chính phủ và đẩy mạnh các chương trình phát triển hay không.  Tôi tin rằng chúng ta không nên chờ đợi.  Sau khi làm xong việc chuyển giao quyền lực về cảnh sát và công an từ Bình Xuyên để giữ thể diện cho Ông Diệm, chúng ta nên tiến hành ngay việc bổ nhiệm ông Ðổ hay ông Quát làm Tổng Thống cho quốc gia nầy.

Tôi cảm thấy không nên kéo dài bức thư nầy hơn nữa bằng cách đề ra các buớc kế tiếp mà chúng ta phải theo để lập chính phủ mới và giải quyết các vấn đề ngắn hạn và dài hạn đối với các giáo phái17 .  Tôi sẵn sàng trình lên Ông Bộ Trưởng các khuyến cáo nầy ngay nếu Ông Bộ Trưởng muốn như vậy.

Tôi hoàn toàn hiểu rõ sự nghiêm trọng của các khuyến cáo mà tôi vừa đưa ra bên trên.  Tôi cần thưa với Ông Bộ Trưởng là lòng tôi nặng chĩu đau buồn khi tôi viết thư nầy.  Tuy nhiên, điều nầy hoàn toàn không phải do cảm giác thất bại trong mục tiêu của chúng ta tại đây.  Tôi vẫn cảm thấy là nếu chúng ta có được một lãnh tụ bản xứ thích hợp, một điều có thể xảy ra được, những chương trình mà chúng ta đã khởi sự vẫn có thể được tiến hành một cách có hiệu quả và có thể cứu Việt Nam khỏi hiểm họa Cộng Sản.

Kính Thư,

Joe Collins

KIDDER

CES/33

Thay Lời Kết:

Trong suốt thập niên 1950, những người quan tâm về tình hình chính trị tại Việt Nam đều nghĩ và tin rằng Ông Ngô Ðình Diệm có được sự hậu thuẫn tuyệt đối của Hoa Kỳ, và nhờ đó Ông đã vượt qua tất cả các cuộc khủng hoảng nghiêm trọng trong suốt thời gian 1954-1955.  Tài liệu mật nầy là một bằng chứng cho thấy không phải như vậy. Tài liệu nầy đã được soạn thảo sau vụ khủng hoảng chính trị xảy ra trong tháng 3-1955. Các giáo phái Cao Ðài, Hòa Hảo liên kết với Bình Xuyên và một số chính khách như Nguyễn Tôn Hoàn (Ðại Việt), Phan Quang Ðán (Dân Chủ), và Hồ Hữu Tường, vv, thành lập “Mặt Trận Thống Nhứt Toàn Lực Quốc Gia” vào đầu tháng 3, yêu cầu Ông Ngô Ðình Diệm cải tổ chính phủ, và ngày 21-3 ra tối hậu thư buộc chính phủ phải cải tổ trong vòng năm ngày.  Khi Ông Diệm từ chối, ngày 30-3-1955, các Quốc Vụ Khanh, và Tổng Bộ Trưởng thuộc các giáo phái đồng loạt từ chức.  Trước đó, ngày 29-3, Tổng Trường Phụ Tá Quốc Phòng Hồ Thông Minh cũng đã từ chức.  Ðêm 29 rạng ngày 30-3, lực lượng Công An Xung Phong (Bình Xuyên) tấn công trụ sở Cảnh Sát Ðô Thành, Bộ Tổng Tham Mưu, và pháo kích vào Dinh Ðộc Lập.  Tướng Ely phải đứng ra dàn xếp một cuộc ngưng bắn tạm thời. Biến cố nầy đã đưa Tướng Ely và Tướng Collins đến kết luận là Ông Diệm phải được thay thế.

Sau khi gởi các công điện nêu trên, ngày 23-4, Tướng Collins được lệnh gọi về Washington để tham khảo về khuyến cáo của ông.  Về đến nơi ông vào thẳng Toà Bạch Ốc để gặp Tổng Thống Eisenhower, và được Tổng Thống hứa ủng hộ bất cứ khuyến cáo nào ông đưa ra.  Tướng Collins sau đó đến Bộ Ngoại Giao và nói cho ông Kenneth Young, Trưởng Ban Ðông Nam Á Vụ, kiêm Trưởng Ủy Ban Ðặc Nhiệm về Việt Nam biết về nội dung cuộc hội đàm của ông vớI Tổng Thống.  Trước một sự đã rồi như thế, ông Young đề nghị một công thức khả dĩ có thể chấp nhận được như sau: đưa Ông Diệm lên làm Tổng Thống với quyền hành tượng trưng, và Bác sĩ Phan Huy Quát làm Thủ Tướng với thực quyền.  Lúc đầu, Ngoại Trưởng Dulles không tán thành, cả Tướng Collins cũng không chịu.  Nhưng sau khi ông Young vận động được sự hậu thuẫn của ông Allen Dulles, Giám Ðốc C.I.A., Thượng Nghị Sĩ Mike Mansfield, và Thứ Trưởng Ngoại Giao Phụ Trách Vùng Viễn Ðông Walter Robertson, cả Ngoại Trưởng Dulles và Tướng Collins đều đồng ý.  Ngày 28-4, Tướng Collins bay trở về Saigon.  Ngoại Trường Dulles ký công điện với nội dung về sự thay đổi chính sách của Hoa Kỳ đối với vấn đề lãnh đạo tại Việt Nam như đã nói trên và công điện được gởI ngay về Saigon để mọi việc được chuẩn bị trước khi Tướng Collins về tới Saigon.  Nhưng ngay trong ngày hôm đó, chiến cuộc lại bùng nổ tại Saigon giữa Bình Xuyên và chính quyền Ngô Ðình Diệm.  Lần nầy, với các Tiểu Ðoàn Nhảy Dù dưới quyền chỉ huy của Ðại Tá Ðỗ Cao Trí, Quân Ðội Quốc Gia đã đánh bật Bình Xuyên ra khỏi Saigon-Chợ Lớn.  Các đơn vị Cao Ðài, dưới quyền Thiếu Tướng Trịnh Minh Thế, đẩy quân Bình Xuyên ra khỏi khu vực Chánh Hưng – Cầu Tân Thuận.  Bình Xuyên phải rút vào Rừng Sát (và sau đó sẽ bị tiêu diệt luôn trong Chiến Dịch Hoàng Diệu do Ðại Tá Dương Văn Minh chỉ huy).  Ngày 30-4, Chính phủ Ngô Ðình Diệm đã hoàn toàn làm chủ được tình thế. Chính phủ Hoa Kỳ lại thay đổi chính sách.  Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ cấp tốc điện sang Saigon, ra lệnh tiêu hủy bức công điện đã gởi ngày 28-4  và lại quay về chính sách cũ là ủng hộ chính phủ Ngô Ðình Diệm.     

Ghi Chú:

1.  Tổng Thống Hoa Kỳ vào thời điểm nầy là Thống Tướng (Tướng năm sao) hồi hưu Dwight David Eisenhower (1890-1969).  Tướng Eisenhower tốt nghiệp Trường Võ Bị Westpoint năm 1915, đã từng là Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Ðồng Minh trong Ðệ Nhị Thế Chiến.  Ông là Tổng Thống  thứ 34 của Hoa Kỳ trong 2 nhiệm kỳ (1953-1961).

2.  Ðại Tướng (Tướng bốn sao) Joseph Lawton Collins (1896-1987), tại thời điểm nầy, là Ðại Diện Ðặc Biệt của Tổng Thống Eisenhower tại Việt Nam.Tướng Collins tốt nghiệp Trường Võ Bị Westpoint năm 1917, đã từng là Tư Lệnh Quân Ðoàn VII  (VII Corps) tại chiến trường Normandy trong Ðệ Nhị Thế Chiến, và cũng từng đảm nhận chức vụ Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ (U.S. Army Chief of Staff, 1949-1953).

3.  Ðại Tướng Paul Henry Romauld Ely (1897-1975), tại thời điểm nầy, là Cao Ủy kiêm Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại Việt Nam.  Ông tốt nghiệp trường Võ Bị Saint Cyr, đã từng đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội Pháp, như Tư Lệnh Quân Khu 7 (1947), Tổng Thanh Tra Quân Ðội (1948), Ðại Diện Pháp trong Bộ Tư Lệnh NATO (1950-53).  Ông rời Việt Nam vào giữa năm 1955, trở về Pháp giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng cho đến cuối tháng Giêng năm 1959, và về hưu năm 1961.

4.  Ông John Foster Dulles (1888-1959), tại thời điểm này là Tổng Trưởng Ngoại Giao của Hoa Kỳ.

5.  Ông Ngô Ðình Diệm (1901-1963), tại thời điểm này là Thủ Tướng Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Ðại cử nhiệm.  Sau khi tổ chức Trưng Cầu Dân Ý ngày 23-10-1955 truất phế Quốc Trưởng Bảo Ðại, ông trở thành Tổng Thống đầu tiên của Viêt Nam Cộng Hòa vào ngày 26-10-1955.  Ông bị lật đổ và giết chết cùng với bào đệ là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu trong cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963.

6.  TRIM là chữ viết tắt của Training Relations Instruction Mission, tức phái bộ phụ trách về huấn luyện quân sự do Trung Tướng (Tướng ba sao) John W. O’Daniel (1894-1975) cầm đầu.  Tường O’Daniel đang giữ chức Tư Lệnh Lục Quân Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương khi ông được Tổng Thống Eisenhower cử sang Việt Nam vào năm 1953 để ước lượng về nhu cầu quân sự của Pháp.  Một năm sau ông được điều động trở lai Việt Nam để chỉ huy Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự Hoa Kỳ tại Ðông Dương (U.S. Military Assistance Advisory Group – Indochina, US. MA AG-I).  Với kinh nghiệm huấn luyện cho Quân Ðội Nam Hàn, ông đã đóng góp nhiều vào việc trang bị và huấn luyện cho Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam trong giai đoạn mới thành lập nầy. Ông rời Việt Nam vào Tháng Mười năm 1955, hồi hưu và thành lập Hội Những Người Bạn Hoa Kỳ của Việt Nam (American Fiends of Vietnam).

7.  Theo Hiệp Ðịnh Ðình Chiến ký ngày 20-7-1954 tại Genève, một cuộc Tổng Tuyển Cử sẽ được tồ chức tại cả hai miền Nam và Bắc Việt Nam vào tháng 7-1956. 

8.  Ðây là một lỗi của Tướng Collins, ông dùng từ President, thay vì Premier hay Prime Minister, để chỉ Ông Ngô Ðình Diệm, và ông lập lại từ President nầy trong suốt bức thư của ông.  Ở thời điểm nầy Ông Ngô Ðình Diệm vẫn còn là Thủ Tướng.  Ông Ngô Ðình Diệm chỉ trở thành Tổng Thống sau cuộc Trưng Cầu Dân Ý để truất phế Quốc Trưởng Bảo Ðại ngày 23-10-1955, và sau khi Hiến Ước Tạm Thời được công bố tại Dinh Ðộc Lập vào ngày 26-10-1955.  

9.  Ông Ngô Ðình Luyện và Ông Ngô Ðình Nhu.  Ông Ngô Ðình Luyện là em út của Ông  Diệm, đã giúp rất nhiều trong việc vận động cho Ông Diệm ở Pháp, về sau trở thành Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Anh.  Ông Ngô Ðình Nhu (1910-1963) là em kế của Ông Diệm, đã tổ chức bộ máy chính trị trong nước cho Ông Diệm, về sau trở thành Cố Vấn Chính Trị cho Ông Diệm.

10.  Ông Phan Huy Quát (1909-1979), thuộc Ðảng Ðại Việt, đã tham chính nhiều lần trong các chính phủ trước Chính phủ Ngô Ðình Diệm.Về sau ông là Thủ Tướng VNCH trong một thời gian ngắn (từ ngày 16-2-1965 đến ngày 12-6-1965.Sau ngày 30-4-1975, ông bị chính quyền Cộng sản bắt giam, sau một chuyến vượt biên thất bại, và chết trong trại giam vào ngày 27-4-1979.

11.  Ông Trần Văn Ðỗ (1903-1990), Bác sĩ Y Khoa, đã từng là Tổng Trưởng Ngoại Giao đầu tiên của Chính phủ Ngô Ðình Diệm, Trưởng phái đoàn Quốc Gia Việt Nam tại Hội Nghị Genève 1954.  Ông đã từ chức vào đầu năm 1955 để phản đối việc ông Diệm không chịu mở rộng thành phần Chính phủ. Về sau, ông còn đảm nhận chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao thêm 3 lần nữa trong các Chính phủ Phan Huy Quát, Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Lộc.

12.  Ông Hồ Thông Minh, một nhân sĩ, đã từng là Tổng Trưởng Phụ Tá Quốc Phòng trong Chính Phủ Ngô Ðình Diệm, đã từ chức để phản đối việc ông Diệm không chịu mở rộng thành phần Chính phủ.

13.  Trung Tướng Nguyễn Văn Hinh (1915-2004), con trai của cựu Thủ Tứớng Nguyễn Văn Tâm, sĩ quan Không Quân Pháp, được Quốc Trưởng Bảo Ðại phong Thiếu Tướng và cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng đầu tiên của Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam.  Ông chống lại Thủ Tướng Diệm nhưng thất bại và phải rời khỏi Việt Nam ngày 19-11-1954.  Ông trở về phục vụ Không Quân Pháp và sau cùng, trước khi hồi hưu, ông thăng lên đến cấp Trung Tướng, đảm nhận chức vụ Tư Lệnh Lực Lượng Không Quân Chiến Lược của Pháp (Force de Frappe Nucléaire).

14.  Trung Tướng Trần Văn Soái (1889-1961), một tướng lãnh thuộc giáo phái Hòa Hảo, từng giữ chức vụ Quốc Vụ Khanh, Ủy viên Quốc Phòng trong Chính phủ Ngô Ðình Diệm cải tổ ngày 24-9-1954, từ chức ngày 30-3-1955 để phản đối việc ông Diệm không chịu mở rộng thành phần Chính phủ.

15.  Trung Tướng Lê Quang Vinh (1923-1956), một tướng lãnh thuộc giáo phái Hòa Hảo, nổi tiếng trong thời gian chống Pháp, đã về hợp tác với Chính phủ Diệm nhưng sau đó lại ly khai.  Trong Chiến dịch Hoàng Diệu dưới quyền chỉ huy của Tướng Dương Văn Minh ở Miền Tây Nam Phần, ông bị bắt tại Chắc Cà Ðao, Long Xuyên vào ngày 13-4-1956, bị đưa ra tòa xử tử hình, và bị hành hình vào ngày 13-7-1956. 

16.  Bình Xuyên là tên của lực lượng quân sự dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Lê Văn Viễn, thường được gọi là Bảy Viễn.

17.  Giáo phái là từ chính trị thông dụng trong thời điểm nầy để chỉ chung các lực lượng quân sự của hai tôn giáo Cao Ðài và Hòa Hảo.