Mẹ Tôi : Một Phụ Nữ Tiêu Biểu của Nam Kỳ Lục Tỉnh

Lâm Vĩnh-Thế

Hình Mẹ tôi chụp khoảng đầu thập niên 1960

Mẹ tôi, tên là Nguyễn Thị Ất, sanh năm Ất Tỵ (1904) tại Quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định nhưng không rõ ngày tháng sanh, và mất ngày 4-7-1979, nhằm ngày 11 tháng 6 năm Kỷ Mùi tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 75 tuổi.  Tro cốt của Mẹ Tôi hiện nay được lưu giữ tại Vạn Thọ Cổ Tự tọa lạc tại số 212/125 đường Nguyễn Văn Chuyển (trước đây gọi là đường Nguyễn Hữu Cảnh) bên bờ Hoàng Sa của Kênh Nhiêu Lộc, Phường Tân Định, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh.

Toàn cảnh Chùa Vạn Thọ Bên Bờ Kênh Nhiêu Lộc

Trước Khi Lập Gia Ðình

Mẹ tôi là người con thứ tư trong một gia đình gồm bảy anh chị em, 2 trai và 5 gái.  Trong thời Pháp thuộc, vào cuối thế kỷ thứ 19, Ông Ngoại tôi, cụ Nguyễn Ngọc Bích, làm Cai Tổng trông coi tổng An Điền gồm 9 làng (hay cũng gọi là xã) trong đó có  làng Linh Đông, nơi đặt quận lỵ của Quận Thủ Đức.  Trước khi làm Cai Tổng, Ông Ngoại tôi làm nghề cá, có vựa cá rất lớn tại Thủ Đức, có cả ghe đi xuống tận Miền Tây mua cá về vựa và bán lẻ lại cho bạn hàng tại các chợ trong vùng Thủ Đức – Dỉ An. Khi đã làm Cai Tổng, Ông Ngoại giao lại công việc đi về Miền Tây mua cá cho Cậu Ba (con trai lớn của Ngoại, anh của Mẹ tôi), nhưng vựa cá thì vẫn tiếp tục do Bà Ngoại tôi trông coi với sự phụ giúp về sổ sách của Mẹ tôi.

Hình Ông Ngoại tôi, Cai Tổng An Điền, Quận Thủ Đức

Vì là con gái cưng của Ông Ngoại, Mẹ tôi là người con gái duy nhứt trong nhà được đi học cho đến hết Lớp Ba (cours élémentaire), biết đọc và viết chữ Quốc ngữ, thuộc cửu chương và biết làm 4 phép toán, và cũng biết được một ít tiếng Pháp.  Nhờ vậy Mẹ tôi đã có thể giúp Bà Ngoại lo sổ sách cho vựa cá của gia đình cho đến khi lập gia đình. 

Một điều không ngờ là mặc dù Ông Ngoại là một viên chức hành chánh quan trọng tại địa phương mà Mẹ tôi lại không có giấy khai sanh.  Theo lời Mẹ tôi kể lại cho chị em chúng tôi nghe thì sự việc như sau: chính vì là Cai Tổng, Ông Ngoại cứ ỷ y, lúc nào muốn làm giấy khai sanh lại không được, nên không cần làm ngay, rốt cuộc lâu ngày rồi Ông Ngoại quên luôn.  Về sau, khi chị em chúng tôi đều đã trưởng thành, vì có công việc gì đó đòi hỏi phải có giấy khai sanh, Mẹ tôi, lúc đó đã ngoài 60 tuổi, phải ra tòa để xin cấp một bản Án Thế Vì Khai Sanh.  Khi đó Mẹ tôi phải về Thủ Ðức tìm 2 ông cậu đều đã trên 80 tuổi để làm người chứng.

Lập Gia Ðình

Mẹ tôi lập gia đình lúc khoảng 17 tuổi (khoảng năm 1921).  Qua sự giới thiệu của Ông Huyện Của (Ông Nguyễn Văn Của là cha của ông Nguyễn Văn Xuân về sau là Thủ Tướng của Chính phủ Trung Ương Lâm Thời thời, từ 2-6-1948 đến 30-6-1949), Ông Bà Ngoại kết thông gia với gia đình họ Lâm ở Chợ Lớn. 

Họ Lâm này là một dòng họ người Minh Hương đã từ Miền Nam Trung Hoa (tỉnh Quảng Ðông) sang lập nghiệp tại Việt Nam có lẽ từ đầu thế kỷ thứ 19 (đời Nhà Nguyễn).  Ðến đời thứ ba, cụ Lâm Quang Kiển (là Ông Cố Nội của tôi), thì gia đình họ Lâm đã giàu có lớn trong giới người Minh Hương tại Chợ Lớn.  Cụ Lâm Quang Kiển chính là người đứng đầu (với chức vụ Ðại Ðồng Sư) một Ban Trị sự của Hội Minh Hương Gia Thạnh có nhiệm vụ xây cất lại mới hoàn toàn ngôi đình của Hội vào năm Tân Sửu, niên hiệu Thành Thái thứ 13 (1901).  Ngôi đình này hiện nay vẫn còn và đã được công nhận là Di Tích Lịch Sử Văn Hóa từ năm 1992.1  Cụ Lâm Quang Kiển và người hôn phối là Cụ Bà Trần Thị Lợi sanh được 3 người con, hai gái và 1 trai (là Ông Nội của tôi).

Ông Nội tôi, mà người đương thời gọi là Ông Huyện Ngọ (vì được chính phủ Pháp ban cho chức Huyện Danh Dự), tên trong gia phả là Lâm Lệ Thủy, với tên trong giấy khai sanh là Lâm Văn Ngọ, sanh ngày 1-12-1882 (nhằm ngày 21 tháng 10 năm Nhâm Ngọ, đời Vua Tự Ðức), là em vợ của Ông Huyện Của.  Số là Ông Nguyễn Văn Của, sau khi bà vợ đầu tiên (tức mẹ của Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân) qua đời, đã tái giá và người vợ thứ nhì này chính là người con gái lớn của Cụ Lâm Quang Kiển, tức là chị ruột của Ông Nội tôi, hay Bà Cô của tôi.     

Hình Ông Nội tôi Trong Thời Gian Tham Dự Thế Chiến I tại Pháp

Hình Ông Nội tôi chụp tại Tòa soạn báo Lục Tỉnh Tân Văn mà ông là Chủ nhiệm

Ông Lâm Văn Ngọ và người hôn phối là Bà Trần Thị Ðính chỉ sanh được một người con trai duy nhứt là Ba tôi, tên trong gia phả là Lâm Nhựt Thanh, với tên trong giấy khai sanh là Lâm Ðình Thâm, sanh năm 1901 (không biết ngày tháng) tức là năm Tân Sửu.

Sau đám cưới, Mẹ tôi về sống bên gia đình họ Lâm, trong một ngôi nhà rất lớn tại số 14 đường Trần Thanh Cần (về sau đổi tên là đường Hải Thượng Lãn Ông).  Ba Mẹ tôi chung sống hạnh phúc được 27 năm (Ba tôi mất đầu năm 1948) và sanh được tất cả 8 người con, 3 trai và 5 gái.

Hình Ba tôi mặc quốc phục

HÌnh Mẹ tôi chụp sau khi lập gia đình với Ba Tôi

Hình Ba Mẹ tôi với Anh Hai Lâm Vĩnh Tường khoảng đầu thập niên 1920

Thờ Chồng Nuôi Con

Lúc góa chồng, Mẹ tôi mới 44 tuổi.  Bà ở vậy, không tái giá, thủ tiết thờ chồng  và nuôi con khôn lớn cho đến tuổi trưởng thành.  Khi Ba tôi qua đời, 4 người con lớn của Ba Mẹ tôi đều đã mất, chỉ còn lại 4 chị em chúng tôi là:

  • Chị Lâm Nguyệt Anh, sinh năm 1933, lúc đó được 15 tuổi, đang học Lớp Deuxième Année Trường Áo TÍm (tức là Trường Trung Học Gia Long sau này)
  • Chị Lâm Nguyệt Phương, sanh năm 1936, lúc đó được 12 tuổi, đang học Lớp Nhứt (Cours Supérieur) tại Trường Nữ Tiểu Học Ðakao
  • Anh Lâm Vĩnh Tế, sanh năm 1939, lúc đó được 9 tuổi, đang học Lớp Ba (Cours Elémentaire) tại Trường Nam Tiểu Học Ðakao
  • Và tôi, Lâm Vĩnh Thế, sanh năm 1941, lúc đó được 7 tuổi, đang học Lớp Chót (Cours Enfantin) tại Trường Nam Tiểu Học Ðakao

HÌnh Mẹ tôi chụp chung với 4 chị em chúng tôi khoảng giữa thập niên 1950

Trước khi Ba tôi qua đời, nhà họ Lâm đã không còn giàu có như trước kia nữa, một phần vì cuộc khủng hoảng kinh tế lớn của thập niên 1930, một phần do việc tiêu phá của Ông Nội tôi.  Sau cái chết trong cùng một năm của 3 người con gái lớn, Ba Mẹ tôi rất lo sợ và nghĩ rằng ngôi nhà số 14 đường Trần Thanh Cần có thể bị trù ếm chi đó nên không muốn ở đó nữa, và đã được Ông Nội tôi cho phép ra ở riêng.  Ba Mẹ tôi dọn ra ở vùng Ðakao, trong một căn phố trên đường Mayer (về sau, trong thời VNCH, đổi tên là Hiền Vương, và sau 1975 thì là đường Võ Thị Sáu), sau đó mới dọn về căn phố số 54 đường Faucault (về sau đổi tên thành đường Nguyễn Phi Khanh), nơi Ba tôi qua đời, và nơi mà tôi đã sống suốt 40 năm, từ khi sanh ra (năm 1941) cho đến khi mang gia đình rời Việt Nam đi định cư tại Canada (năm 1981).

Trước khi Ba tôi mất, gia cảnh của Ba Mẹ tôi tương đối khó khăn, chật vật.  Ba tôi đã mất việc làm tại Tòa soạn nhựt báo Lục Tỉnh Tân Văn, mà Ông Nội tôi làm Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút, vì tờ báo đã đóng cửa.2   Mẹ tôi phải hàng ngày vất vả làm bánh (Mẹ tôi gọi là bánh mì hột gà, làm bằng bột mì pha trứng, xe tròn và dài như ngón tay, và chiên lên) bỏ mối cho những người đi bán dạo trong các xóm quanh vùng Ðakao và Tân Ðịnh để kiếm tiền nuôi gia đình.  Sau khi Ba tôi mất, do một sự tình cờ may mắn, Mẹ tôi được giới thiệu vào một cái nghề rất đặc biệt: nghề bán hột xoàn.  Tôi gọi nó là một nghề đặc biệt vì nó thật là đặc biệt với những đặc tính như sau: 1) không có một trường chuyên môn nào dạy cái nghề nầy cả, chỉ là nghề dạy nghề; 2) không cần có vốn liếng gì cả; và, 3) không cần phải có cơ sở vật chất gì cả.  Ngược lại cái nghề đặc biệt này lại rất cần phải có 2 loại “vốn” rất đặc biệt: 1) phải có môt mạng lưới giao thiệp rộng rãi; và 2) phải có uy tín thật tốt.  Phần đông những người làm nghề này đều là những phụ nữ trung niên thuộc giới trung lưu.  Vì là một nghề buôn bán nên dĩ nhiên đối tượng của những người làm nghề nầy chỉ gồm 2 hạng người: người có hột xoàn muốn bán và người có tiền muốn mua hột xoàn.  Người làm nghề này chính là người tạo ra nhịp cầu giữa người mua và người bán, và lợi tức của họ là tiền huê hồng tạo ra do sự chênh lệch giữa giá bán và giá mua.  Tiền huê hồng này người trong giới bán hột xoàn gọi là “tiền xe” nghĩa là chi phí mà họ phải bỏ ra khi di chuyển (lúc đó thường là đi xích lô đạp) giữa người bán và người mua. 

Mẹ tôi bước vào cái nghề bán hột xoàn đặc biệt này trong một giai đoạn cũng rất là đặc biệt và thuận lợi.  Ðó là vào đầu thập niên 1950 khi chiến tranh Việt-Pháp ngày càng khốc liệt, nông thôn không có an ninh nữa.  Một mặt, nhiều gia đình giàu có ở nông thôn bỏ ra thành, về Sài Gòn sinh sống, họ phải tìm người giúp bán nữ trang của họ để có tiền mua nhà cửa, hay mở cửa hàng buôn bán.  Mặt khác, một giai cấp mới hình thành: những dân môi giới, thầu khoán làm ăn với quân đội viễn chinh Pháp và trở nên giàu có nhanh chóng.  Những bà vợ (cả vợ chánh thức lẩn vợ bé, tình nhân, gái bao, vv) của những người thành công trong giai cấp mới này đều cần mua sắm nữ trang để làm của, cũng như để phòng khi gặp bất trắc, khó khăn.   Nhờ những giao thiệp đã có từ thời Ba tôi còn sống và với danh tiếng là “con dâu Ông Huyện Ngọ,” Mẹ tôi vào nghề một cách trôi chảy với mạng lưới của riêng bà càng ngày càng mở rộng.  Một thời gian sau Mẹ tôi được nhiều người trong giới bán hột xoàn đặt cho một cái tên là “Bà Phán,” mặc dù Ba tôi cả đời chưa hề làm một ông Thông Phán bao giờ, và với uy tín càng ngày càng được nâng cao.  Trong khi hành nghề, dĩ nhiên Mẹ tôi không tránh được phải giao thiệp với các tiệm bán nữ trang kim hoàn ở khu Chợ Cũ, thuộc Quận 2, Sài Gòn (đặc biệt là đường Guynemer, thời VNCH đổi lên là Võ Di Nguy) với các lỳ do sau đây: 1) nhờ họ tân trang lại các đồ nữ trang mà người quen giao cho nhờ bán như là đánh bóng lại các hột xoàn, sửa chửa các khuy, dây chuyền, vv; 2) đồng thời cũng hỏi thăm họ luôn để nắm được giá cả đương thời để có thể nói giá một cách dễ chấp nhận đối với người mua (vì người mua, trước khi quyết định mua, họ cũng biết đi dọ giá ở các tiệm kim hoàn).  Sau một thời gian, chủ nhân các tiệm kim hoàn này, đặc biệt là bà chủ tiệm Thiên Tường, trên đường Võ Di Nguy, rất tin cậy Mẹ tôi và chính bà ấy cũng có giao một số nữ trang của tiệm cho Mẹ tôi đem đi bán giùm (một chuyện rất hiếm xảy ra trong giới chủ nhân các tiệm kim hoàn).  Sau cùng, cũng do một mối quan hệ đặc biệt, Mẹ tôi quen được một phụ nữ có chồng người Pháp, mà về sau chị em chúng tôi đều gọi là Cô Tư Villard.  Cô Tư có chồng là ông Frank Villard, người Pháp nhưng có quốc tịch Mỹ (chắc là song tich).  Ông Villard có mở một công ty chuyên nhập cảng hột xoán từ Thụy Sĩ vào Việt Nam.  Dĩ nhiên, phần làm ăn chánh của công ty này là cung cấp hột xoàn cho các tiệm kim hoàn, nhứt là các tiệm lớn ở Sài Gòn trên đường Catinat (về sau thời VNCH đổi tên là đường Tự Do) và trong Chợ Lớn trên đường Ðồng Khánh.  Nhưng do quan hệ riêng đặc biệt đó, Cô Tư luôn luôn dành cho Mẹ tôi một số hột xoàn loại tốt (trắng xanh), và Mẹ tôi mang ra tiệm Thiên Tường nhờ họ làm thành những món nữ trang mà Mẹ tôi biết đang là hàng “hot” trên thị trường lúc đó.  Với việc này, Mẹ tôi không còn chỉ là người môi giới trong nghề bán hột xoàn nữa mà trở thành một nhà cung cấp.  Dĩ nhiên, lợi tức hàng tháng của Mẹ tôi tăng lên rất nhiều, không còn chỉ thuần túy là “tiền xe” nữa.   Vì vậy chỉ trong một thời gian ngắn chừng vài ba năm, Mẹ tôi đã vượt ra khỏi cuộc sống khó khăn, chật vật của giai đoạn trước khi Ba tôi mất, và độ 10 năm sau thì Mẹ tôi đã tạo được một tài sản khá lớn và đời sống gia đình tôi có thể nói là đã trên mức trung lưu. 

Trong khoảng thời gian này, mỗi năm vào dịp bãi trường, Mẹ tôi đều tổ chức đi nghĩ hè cho cả gia đình, và về sau, khi hai chị đã lập gia đình rồi, thì chỉ còn Mẹ và hai anh em tôi thôi.  Lúc đó, ngoài công việc chánh Mẹ tôi vẫn giữ là nghề bán hột xoàn, Mẹ tôi còn chuyển sang kinh doanh thêm một nghề rất mới mẻ ở Sài Gòn lúc đó: nghề cho mướn xe taxi.  Mẹ đã mua được một số xe taxi (tôi không nhớ rõ con số này, nhưng ít nhứt cũng 4, 5 chiếc, toàn là xe hơi của Pháp, loại Renault 4, bốn máy), và có mướn một thầy ký để lo chuyện sổ sách và bảo trì xe, vv.  Mỗi xe cho mướn một ngày 200 đồng, như vậy mỗi ngày Mẹ tôi có thêm thu nhập ít nhứt là từ 800 đến 1000 đồng (trong khi đó, lương tháng của một thư ký công nhựt phù động tại các công sở chưa tới 1000 đồng).  Trở lại việc đi nghĩ hè, sau khi đã sở hữu một số xe taxi như vậy, mỗi năm cứ đến hè thì Mẹ tôi bỏ ra một tháng trời, không làm ăn gì hết để đưa hai anh em tôi đi chơi, có năm thì đi Nha Trang, có năm đi Ðà Lạt, có năm đi Vũng Tàu, Long Hải, vv.  Mỗi lần như vậy, Mẹ tôi đều gọi về chiếc taxi mà người mướn là Chú Sáu, là người tài xế mà Mẹ tôi tin tưởng nhứt, trả tiền tương đương với lợi tức một tháng để Chú Sáu đưa về cho vợ con vì Chú Sáu sẽ lái xe cùng đi với ba mẹ con tôi trong suốt cuộc hành trình một tháng đó.  Mẹ tôi đưa cho Anh Tế tôi một số tiền khoảng 30.000 đồng để anh ấy giữ và trang trải tất cả mọi chi phí như xăng nhớt, khách sạn, nhà hàng, vv.  Mẹ tôi nói rõ chừng nào hết số tiền đó thì về.  Về việc học hành của chị em chúng tôi thì Mẹ tôi luôn luôn mua sắm đầy đủ sách vở cần thiết cho việc học hành của chúng tôi.  Mẹ rất hãnh diện vì tất cả 4 chị em chúng tôi đều thi đậu vào hai trường Gia Long và Petrus Ký.  Khi cần phải học thêm những lớp luyện thi thì Mẹ đều cho chúng tôi tiền để đóng học phí.

Ðiều làm Mẹ tôi vui mừng nhứt là việc bốn chị em chúng tôi học hành đều đạt kết quả tốt.  Chị Anh đã đậu xong bằng Diplôme và chuyển sang học đệ nhị cấp, Lớp Second, tại Trường Marie Curie.  Sau đó Mẹ tôi cho chị đi Pháp học.  Nhưng sau khi đậu bằng Tú Tài I (Baccalauréat 1ère partie), Chị than lạnh và buồn, nhớ nhà nên xin Mẹ tôi cho chị trở về VN.  Năm sau chị thi đậu bằng Tú Tài II Pháp ban Philosophie (ban Triết) và xin vào dạy Pháp Văn tại Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký ở Sài Gòn.  Hai năm sau, chị thi đậu vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (Khóa 3, tức khóa đầu tiên tại Sài Gòn).  Năm 1958, chị ra trường và được bổ nhiệm về Tổng Nha Thuế Vụ.  Chị Phương sau đó cũng đậu bằng Brevet và nghĩ học ra đi làm việc tại Tổng Nha Ngân Khố.  Anh Tế, sau khi đậu Tú Tài II Pháp, ban Math Elem (ban Toán) năm 1958, vào học trường Ðại Học Khoa Học Sài Gòn, và liên tiếp trong hai năm 1959 và 1960, đã lấy được 2 chứng chỉ: 1) MPC (Math-Phisique-Chimie = Toán Lý Hóa), và 2) Chimie Générale = Hóa Học Ðại Cương.  Năm 1960, anh được học bổng Colombo, rời Việt Nam đi du học ở Canada và đậu bằng Tiến Sĩ Hóa Học tại Ðại Học Montréal vào năm 1967.  Phần tôi, thì đậu bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp năm 1957, bằng Tú Tài I Ban Khoa Học Thực Nghiệm (Ban A) năm 1959, và bằng Tú Tài II (cũng Ban A) năm 1960.  Sau đó tôi thi đậu vào Trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn, Ban Sử Ðịa, ra trường năm 1963, và được bổ nhiệm về dạy môn Sử Ðịa cho các lớp đệ nhị cấp (từ Ðệ Tam đến Ðệ Nhứt) tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa.

Xin mở một dấu ngoặc ở đây để nói một vài điều về ngôi mộ của Ba tôi.  Như tôi đã viết ở trên, họ Lâm là một gia đình giàu có.  Ông Cố của tôi, cụ Lâm Quang Kiển, đã mua một miếng đất khá lớn để làm nghĩa trang riêng cho họ Lâm.  Các cụ tổ, của các đời trước Ông Cố, và sau đó, chính Ông Cố và Bà Cố, và cả Bà Nội đều được chôn cất tại nghĩa trang đó trong những ngôi mộ to lớn và kiên cố.  Khi Ba tôi mất, năm 1948, trong thời gian chiến tranh Việt-Pháp, vùng đất có nghĩa trang của dòng họ Lâm vẫn còn nằm trong khu vực do Việt Minh kiểm soát, người thành phố bị cấm không cho vào, nên Mẹ tôi đành chịu không thể chôn cất Ba tôi trong nghĩa trang của dòng họ Lâm được.  Biết được chuyện khó khăn này của Mẹ tôi, Bà Nguyễn Văn Của (đây là người vợ thứ ba của ông Huyện của, sau khi người vợ thứ nhì là Bà Cô, chị ruột của Ông Nội tôi, đã mất; bà này lại rất thương Ba Mẹ tôi, nên Ba Mẹ tôi cũng coi như cô ruột và bắt chi em chúng tôi cũng phải gọi là Bà Cô) đã cho phép Mẹ tôi được chôn cất Ba tôi trong nghĩa trang riêng của gia đình Ông Huyện Của.  Lúc đó, Mẹ tôi còn ở trong hoàn cảnh khó khăn nhiều về tài chánh nên ngôi mộ của Ba tôi rất khiêm tốn, nằm trong một góc trong cùng của nghĩa trang của dòng họ Nguyễn này.  Nhưng thật lạ lùng, sau khi Ba Tôi đã được an táng vào ngôi mộ đó chừng vài năm thì, như đã trình bày bên trên, công việc làm ăn của Mẹ tôi đã phát triển rất tốt đẹp và 10 năm sau thì Mẹ tôi đã có được một tài sản đáng kể.  Mẹ tôi chưa bao giờ xác nhận với chị em chúng tôi điều này, nhưng tôi tin chắc đây là điều Mẹ tôi đã tin: đó là nhờ ngôi mộ của Ba tôi đã tình cờ được đặt trúng vào một địa huyệt tốt theo phong thủy.  Lý do để tôi tin như vậy là vì vào năm 1960, khi Ông Nội tôi mất, chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa đã kiểm soát được an ninh toàn hoàn các vùng đất chung quanh Sài Gòn và việc đi lại thăm viếng các ngôi mộ trong nghĩa trang riêng của dòng họ Lâm không còn bị cản trở nữa.  Và vì thế Ông Nội tôi đã được Mẹ tôi chôn cất trong nghĩa trang đó bên cạnh mộ của Bà Nội tôi.  Ðây chính là thời điểm tốt nhứt để cải táng ngôi mộ của Ba tôi và đưa hài cốt của Ba tôi về chôn cất trong nghĩa trang của dòng họ Lâm, cho Ba tôi được nằm chung với Ông Bà Nội tôi.  Lúc đó Mẹ tôi lại đã có dư thừa khả năng tài chánh để làm việc cải táng này, nhưng Mẹ tôi đã không làm.  Chỉ có thể giải thích quyết định của Mẹ tôi không cải táng mộ của Ba tôi vì Mẹ tôi đã thật lòng tin vào chuyện phong thủy này.  Xin đóng lại dấu ngoặc ở đây.

Làm Tròn Bổn Phận Con Gái và Con Dâu

Sinh ra, lớn lên và được dạy dỗ theo Nho Giáo trong gia đính Ông Ngoại, Mẹ tôi hiểu rất rõ trách nhiệm của một người phụ nữ trong xã hội: làm con, làm vợ, làm dâu.  Và Mẹ tôi đã thật sự làm tròn tất cả các bổn phận đó.

Sau khi Cậu Ba của tôi (người con trai lớn của Ông Bà Ngoại) bị bạo bệnh qua đời lúc còn rất trẻ, Ông Ngoại rất buồn, và sau đó không lâu cũng qua đời.  Mẹ tôi đã lập gia đình về sống bên nhà chồng ở Chợ Lớn, Má Bảy (em gái của Mẹ tôi) thay thế Mẹ tôi giúp Bà Ngoại trông coi sổ sách cho vựa cá của gia đình.  Xin mở một dấu ngoặc ở đây để nói một chút về cách gọi các dì bên ngoại của tôi.  Tôi thật sự không rõ có phải là do Bà Ngoại tôi đặt ra hay không, nhưng trong gia đình bên ngoại của tôi, tất cả các con cháu đều gọi các dì (chị hay em của mẹ minh) là Má.  Mẹ tôi là người con thứ tư trong gia đình: người chị lớn nhứt là Má Hai, rồi đến người anh lớn là Cậu Ba, kế đến là Má Tư, Mẹ tôi là Má Năm, kế đó là 2 người em gái là Má Sáu và Má Bảy, và sau cùng là người em trai út là Cậu Tám.  Xin đóng dấu ngoặc lại ở đây.  Tính tình Má Bảy thì quá hiền lành và có lòng nhân hay thương và giúp đở người khác nên đã bị nhiều bạn hàng lừa gạt và kết quả là vựa cá càng ngày càng thua lỗ khiến Bà Ngoại phải quyết định không làm ăn nữa, bán lại cho người khác và nghĩ hưu luôn.  Mẹ tôi rất thương Bà Ngoại nhưng không giúp gì được trong việc này vì đâu còn ở Thủ Ðức nữa, chỉ thỉnh thoảng được Ba tôi đưa về Thủ Ðức thăm Ngoại thôi.  Sau đó thì cả 2 gia đình đều suy sụp do nạn khủng hoàng kinh tế.  Sau khi bị khủng hoảng tâm thần khá trầm trọng vì bị mất cả 3 đứa con gái trong cùng một năm đến nổi khiến Ba Mẹ tôi phải xin Ông Nội cho rời khỏi ngôi nhà từ đường rộng lớn đó của dòng họ Lâm trong Chợ Lớn ra sống riêng ở Ðakao và sau đó phải bương chải tìm cái sống để nuôi mấy đứa con nhỏ.  Một chuyện khá đặc biệt xảy ra trong khoảng thời gian này đã ảnh hưởng quan trọng đến một quyết định về sau này của Mẹ tôi.  Sau khi mất trong cùng một năm cả 3 người con gái, Mẹ tôi lại liên tiếp sanh thêm 2 người con gái nữa, đó là Chị Anh và Chị Phương.  Ba Mẹ tôi quyết định “ký bán” cả 2 chị cho Má Tư tôi; lúc đó Má Tư đã sanh được tất cả 8 người con mà toàn là con gái: Chị Hai, Chị Ba, Chị Tư, Chị Năm, Chị Sáu, Chị Bảy, Chị Tám và Chị Chín; do đó Má Tư đã đặt tên tiếp cho Chị Anh là Con Mười, và Chị Phương là con Mười Một (về sau gọi tắt là Con Một).  Tuy nói là “ký bán” nhưng thật ra Ba Mẹ tôi vẫn nuôi hai chị trong nhà, nên trong một thời gian khá dài hai anh em tôi và sau này các anh chị em bà con trong họ ngoại đều gọi 2 chị là Chị Mười và Chị Một.  Tôi nghĩ có lẽ đó là giai đoạn khó khăn nhứt trong đời sống của Ba Mẹ tôi, và tôi không được biết gì nhiều hơn ngoài những chuyện đã nêu trên do chính Mẹ tôi kể lại. Tôi chỉ được tận mắt chứng kiến việc Mẹ tôi lo cho Ngoại sau khi Mẹ tôi đã làm ăn khá lên.  Lúc đó Mẹ tôi thường đem xe taxi (cũng do Chú Sáu đó lái) lên Thủ Ðức rước Bà Ngoại về ở nhà 54 Nguyễn Phi Khanh chơi, có khi vài ba tuần, có khi cả tháng rồi mới đưa Bà Ngoại trở về Thủ Ðức.  Trong suốt thời gian những lần có Ngoại ở nhà, đích thân Mẹ tôi lo chuyện cơm nước, tắm rửa, thay quần áo, và cả may quần áo mới cho Ngoại.  Lúc đó tôi hảy còn nhỏ, còn đang học Tiểu học, chưa biết suy nghĩ, tôi chỉ biết vui trong việc dành ngoái trầu trong ống ngoái cho Ngoại.  Sau này khi đã trưởng thành, mỗi khi nhớ lại chuyện Ngoại về chơi với chúng tôi, tôi suy nghĩ và tin rằng đó là những khoảng thời gian mà Mẹ tôi muốn bù đắp lại cho Ngoại có lẻ sau một thời khá dài (20 năm chăng?) đã không lo được cho Ngoại như ý Mẹ mong muốn.  Khi Bà Ngoại mất, vào Hè năm 1960, thì cũng chính một tay Mẹ lo chu tất toàn bộ đám tang rất lớn cho Bà Ngoại ở Thủ Ðức.   Có 2 chuyện liên quan đến đám tang của Ngoại mà tôi vẫn còn nhớ: 1) Chuyện Mẹ tôi mua cái hòm để chôn Ngoại: từ lúc ăn lễ Lục Tuần (60 tuổi) Bà Ngoại đã mua sẳn một cái hòm (thời đó người ta thường gọi là cái thọ) và để trong Chúa Huê Nghiêm là một ngôi chùa lớn trong vùng Thủ Ðức thời đó để dành sẳn khi nào Ngoài mất thì sẽ sử dụng (đây là một chuyện rất thông thường trong dân gian ở đất Nam Kỳ Lục Tỉnh); khi mất, Bà Ngoại đã 90 tuổi, cái hòm để trong Chùa Huê Nghiêm đã bị hư nhiều, không thể sử dụng được nữa, Mẹ tôi phải tức tốc về Sài Gòn ngay để mua một cái hòm mới cho Ngoại ở tiệm hòm Tôbia nổi tiếng ở Tân Ðịnh; 2) Ngày cử hành đám tang Ngoại, tôi không có mặt ở Thủ Ðức để đưa tiển Ngoại vì phải ở lại Sài Gòn để đi thi vấn đáp Tú Tài II tại Trường Petrus Ký; 3 ngày sau tôi mới được theo Mẹ tôi về Thủ Ðức để tham dự lễ mở cửa mả cho Ngoại.3

Ðối với gia đình bên chồng, Mẹ củng luôn luôn làm tròn bổn phận một người con dâu trong gia đình.  Lúc mới lập gia đình với Ba tôi, Ông Cố và Ông Bà Nội tôi vẫn còn sống, thì sau khi Mẹ tôi sanh được Anh Hai Tường, khoảng năm 1922, nhà họ Lâm lúc đó sống trong tình trạng “Tứ đại đồng đường,” nghĩa là 4 thế hệ cùng sống chung trong một nhà, một chuyện khá hiếm và rất quý.  Một năm sau, Mẹ tôi sanh thêm được Chị Ba Sương.  Thời gian đó chắc phải là thời gian hạnh phúc nhứt trong đời của Mẹ tôi như trong hình sau đây:

Hình Mẹ tôi với Anh Hai Lâm Vĩnh Tường và Chị Ba Lâm Ngọc Sương

Thời gian này không kéo dài được lâu.  Sau đó là một khỏang thời gian khá dài với quá nhiều chuyện đau buồn trong đại gia đình họ Lâm cũng như trong tiểu gia đình của Ba Mẹ tôi.  Ông Cố tôi rất đau buồn vì chuyện không chịu chăm chỉ làm ăn để phát triển cơ nghiệp họ Lâm mà chỉ ăn chơi phá tiêu pha quá đáng của Ông Nội tôi khiến cụ phải bỏ tiền ra nhiều lần để mua lại hoặc chuộc lại những bất động sản mà Ông Nội đã bán hay cầm cố.  Sau đó thì Bà Nội bị bạo bệnh từ trần, Ông Nội lại càng lúng sâu hơn vào con đường ăn chơi phá sản.  Ông Cố càng buồn rầu hơn mà không làm sao thay đổi được tình hình này và sau đó thì Ông Cố mất.  Tuy nhiên trước khi qua đời, Ông Cố đã nhờ luật sư làm giấy tờ để ngôi nhà từ đường ở số 14 đường Trần Thanh Cần làm của hương hỏa, tuyệt đối không thể bán hay cầm cố được, nhờ đó ngôi nhà này, mãi đến trước năm 1975 vẫn còn là tài sản của bên nội tôi.  Sau đó là việc Ba Mẹ tôi bị mất trong cùng một năm 3 người con gái trong căn nhà đó nên phải xin ra ở riêng.  Kế tiếp là cuộc đại khủng hoảng kinh tế của thập niên 1930 làm suy sụp hoàn toàn tình trạng tài chánh của cả 2 họ nội ngoại.  Ông Nội tôi và Ba tôi phải đi làm công cho tờ nhựt báo Lục Tỉnh Tân Văn của Ông Huyện Của, Ông Nội làm Chủ Nhiệm rồi sau kiêm Chủ Bút luôn, Ba tôi thì làm Thơ ký tòa soạn.  Ðến năm 1944 thì cả Ông Nội và Ba tôi đều mất việc vì tờ báo đình bản.  Cũng năm này thì Ba Mẹ tôi mất luôn người con trai đầu lòng là Anh Hai Tường lúc đó mới được trên 20 tuổi.  Trong suốt thời gian khoảng hơn 20 năm này, Ba Mẹ tôi phải chịu đựng không biết bao nhiêu là đau buồn nhưng vẫn còn có hạnh phúc là còn có nhau.  Ba tôi là một người chồng gương mẫu, thương yêu và rất chung thủy với Mẹ tôi.  Ðầu năm 1948 thì Ba tôi mất.  Kể từ đây, Mẹ tôi phải gánh chịu tất cả mọi khó khăn trong cuộc đời một mình bà.  Nhưng Mẹ vẫn vượt qua được tất cả.  Ðồi với bên gia đình nhà chồng, Ông Bà Nội chồng (tức là Ông Bà Cố tôi) đã mất, Mẹ chồng và chồng cũng đều đã mất, Mẹ tôi chỉ còn bổn phận làm dâu đối với Cha chồng, tức là Ông Nội tôi mà thôi.  Sau khi làm ăn khá lên nhiều, Mẹ tôi đã nhiều lần mời, năn nỉ ông cụ về ở chung với chúng tôi trong căn phố mướn ở đường Nguyễn Phi Khanh, Ðakao vì ngôi nhà hương hỏa trong Chợ Lớn ông cụ, vì không thể bán hay cầm cố được, đã cho người ta thuê làm kho hàng từ lâu rồi.  Nhưng lần nào cũng vậy, ông cụ đều từ chối, một phần có thể vì ông cụ không muốn tạo gánh nặng thêm cho Mẹ tôi, phần khác có lẽ vì ông cụ đã quen với cuộc sống tự do buông thả như vậy rồi, không muốn bị trói buộc vào một khuôn khổ nào hết.  Chuyện Mẹ tôi chỉ có thể làm là thỉnh thoảng hỏi thăm bà con trong Chợ Lớn xem Ông Nội đang ở đâu để đi thăm và biếu ông một ít tiền.  Có một thời gian ông cụ còn bị vướng mắc chuyện pháp luật thế nào đó nên bị giam ở Khám Chí Hòa trong khoảng 2 năm.  Suốt thời gian này, tháng nào Mẹ tôi cũng đều đi thăm nuôi ông cụ.  Nhưng có một điều rất đặc biệt là Mẹ không hề cho chị em chúng tôi biết câu chuyện như thế nào và cũng không hề cho chúng tôi cùng đi thăm ông cụ một lần nào cả.  Rõ ràng là Mẹ tôi muốn một mình tự gánh vác chuyện không tốt này với bổn phận dâu con nhưng tuyệt đối không muốn chị em chúng tôi phải cùng gánh lấy cái mặc cảm không tốt đó về Ông Nội.  Ðến đầu năm 1960, được một người bà con trong một cánh họ Lâm ở Chợ Lớn cho hay ông cụ bịnh rất nặng, Mẹ tôi lập tức đi tìm và mang Ông Nội tôi về nhà ở Ðakao để lo thuốc thang cho ông cụ (lần này chắc ông cụ cũng biết sắp chung cuộc rồi nên không từ chối nữa) nhưng rất đáng buồn lần này thì đã quá trễ, chỉ độ mấy ngày sau thì Ông Nội tôi mất, vào ngày 16-1-1960.  Mẹ đứng ra lo đám tang cho Ông Nội thật tốt và đưa linh cửu của Ông Nội vào an táng trong nghĩa trang riêng của đòng họ Lâm bên cạnh mộ của Bà Nội.  Việc an táng Ông Nội giúp Mẹ hoàn tất bổn phận dâu con đối với gia đình nhà chồng. 

Giữ Quan Hệ Tốt Với Cộng Ðồng Người Minh Hương

Như vừa trình bày bên trên, Mẹ tôi, sau khi đã lập gia đình với Ba tôi, luôn luôn tự xem mình là người nhà họ Lâm, nghiêm chỉnh thi hành đầy đủ bổn phận dâu con.  Mẹ tôi cũng luôn luôn giữ một mối liên hệ thật tốt với các cánh họ khác trong gia tộc họ Lâm, đặc biệt với cánh họ của Ông Chú Năm Lâm Văn Tuất, em chú bác ruột của Ông Nội chúng tôi.  Lý do chánh của mối liên hệ này là vì, không những đây là cánh họ Lâm gần gủi nhứt với cánh họ Lâm của gia đình Ba tôi, mà còn vì cái tình thân rất khắng khít từ bao nhiêu năm giữa Ông Nội tôi và Ông Chú Năm Tuất nữa.  Ba tôi cũng chơi rất thân với các Chú con trai của Ông Chú Năm, như Chú Hai Mậu (tên trong gia phả là Lâm Nhựt Thạnh), Chú Năm Tân (Lâm Nhựt Tân), và Chú Bảy Chương (Lâm Nhựt Chương).  Quan hệ giữa hai cánh họ Lâm này càng khắng khít hơn nhiều nữa sau một biến cố xảy ra năm 1945.  Mùa Thu năm 1945, cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ và các Chú Năm Tân và Chú Bảy Chương đã tham gia nhưng không may bị quân Pháp bắt được.  Chính Ông Nội tôi đã đứng ra bảo lãnh để người Pháp trả tự do cho hai chú.  Sau đó cũng chính Ông Nội đã đứng ra lo các thủ tục cho Chú Năm Tân đi Pháp du học.  Về sau, khi Chị Anh của tôi được Mẹ tôi cho đi Pháp học thì Mẹ tôi đã nhờ Chú Năm Tân đứng ra làm là người bảo hộ của Chị Anh trong thời gian ở Pháp, tỉnh Besançon, phía Ðông nước Pháp, giáp với Thụy Sĩ vì lúc đó Chú Năm đang học tại đại học ở đó–Université de Besançon—về ngành kỷ sư hóa học; chính vì vậy sau này gia đình Chị Anh và gia đình Chú Năm đã có một quan hệ rất tốt, ngay cả sau 1975, khi cả 2 gia đình đều đã sống ở hải ngoại.  Chị em chúng tôi cũng chơi khá thân với các con của Chú Hai Mậu và riêng tôi đặc biệt có cảm tình nhiều nhứt với Quang (Lâm Vĩnh Minh), người con thứ nhì của Chú Hai, một người rất hiền lành, chơn chất.  Sau này Mẹ tôi lại đứng ra làm mai cho người con trai trưởng của Chú Hai là Thọ (Lâm Vĩnh Thọ) cưới Yến là con gái lớn của Anh Tư Trình ở trên Thủ Ðức.  Anh Tư là con trai thứ của Má Hai, chị cả của Mẹ tôi, tức là anh em bạn dì ruột với tôi, vì vậy Yến gọi Mẹ tôi là Bà Dì Năm, và gọi tôi là Chú Út.  Vì các mối quan hệ không đồng vai vế này nên sau đám cưới, Mẹ tôi bảo vợ chồng Thọ-Yến mỗi người cứ xưng hộ theo quan hệ riêng: Thọ vẫn gọi tôi là Anh Út, và Yến thì cứ tiếp tục gọi tôi là Chú Út.

Sau khi Ba tôi qua đời, không những tiếp tục duy trì quan hệ tốt với các cánh họ Lâm, Mẹ tôi còn giữ quan hệ rất tốt với cộng đồng người Minh Hương trong Chợ Lớn, đặc biệt là với Hội Minh Hương Gia Thạnh (MHGT).  Như đã trình bày bên trên, Ông Cố tôi, cụ Lâm Quang Kiển, là người đã có chức vụ cao trong Hội và có công lớn trong việc xây dựng ngôi đình MHGT.  Ðến đời kế tiếp, Ông Nội tôi đã có thời gian đãm nhận vai trò Phó Chủ Hội (tương đương với bây giờ gọi là Phó Chủ TỊch Hội).  Trong thời gian này, Ba tôi đã giữ chức Phó Hồi.  Cũng chính trong thời gian này, vào cái ngày nổ kho đạn ở Sài Gòn, Ba tôi đã mang cả gia đình vào tỵ nạn trong Ðình.  Và gia đình tôi đã ở đó một thời gian khá dài, đến mấy tháng, cho đến khi tình hình an ninh vãn hồi mới trở về nhà ở Ðakao.  Trong Hội MHGT, chức Phó Hồi là để lo tổ chức việc cúng kiến trong Đình.  Việc cúng kiến này tổ chức rất nhiều lần trong một năm, với việc mua sắm, chuẩn bị các mâm lễ vật và thực hiện các chương trình cúng kiến rất phức tạp.  Công việc rất là nặng nhọc; vì vậy Hội quyết định chức Phó Hồi mỗi người chỉ giữ một năm thôi.  Ðiều quan trọng là chức vụ đó là cửa ngỏ để thăng tiến trong Hội.  Sau một năm làm Phó Hồi sẽ đương nhiên thăng lên Chánh Hồi, sau một năm làm Chánh Hồi sẽ đương nhiên thăng lên Hương Trưởng, và sau ba năm làm Hương Trưởng sẽ đương nhiên thăng lên Hương Trưởng Trị Sự.  Chỉ có những người đã là Hương Trưởng Trị Sự mới được ứng cử vào các chức vụ Chánh Chủ Hội và Phó Chủ Hội.  Lúc Ba tôi mất, ông mới đang là Chánh Hồi.  Sau khi Ba tôi mất, Chú Hai Mậu đã có lúc lên đến Hương Trưởng Trị Sự, nhưng chú mất trước khi có được đủ thời gian (3 năm) để có thể ứng cử chức Phó Chủ Hội.  Sau khi Ba tôi đã mất, Mẹ tôi vẫn tiếp tục mối quan hệ thật tốt với Hội MHGT.  Mẹ luôn luôn đến phụ giúp trong những dịp Ðình tổ chức cúng kiến.4  Hàng năm, cứ đến dịp Trung Thu và Tết, Mẹ đều dẫn chị em chúng tôi (về sau, khi các chị đã có gia đình rồi thì chỉ còn anh Tế và tôi) vào Ðình, trước là lạy các bàn thờ trong Chánh Ðiện, sau là dự tiệc trà do Hội tổ chức, ăn bánh uống nước và lãnh quà (Trung Thu) và lãnh bao lì xì (Tết) do ông Chánh Chủ Hội ban phát.  Trong thời gian đó tôi còn nhớ Hội MHGT trãi qua 2 đời Chánh Chủ Hội lả ông Chung Văn Hải và ông Kha Vạng Lượng, mà chị em chúng tôi đều gọi là Bác Hai Lượng, một người bạn hồi còn đi học của Ba tôi.  Bác Hai Lượng có nhiều con, mà người con gái lớn là Cô Kha Thị Huởn, lúc đó đã là một nữ giáo sư của Trường Nữ Trung Học Gia Long.  Tôi thật sự không rõ có phải là do sự gợi ý của Cô Hưởn hay không nhưng khi lên làm Chánh Chủ Hội, Bác Hai Lượng đã đặt ra một cái lệ mới trong Hội là thưởng tiền cho tất cả con cháu nào của hội viên thi đậu các bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp của Việt Nam hay bằng Brevet của Pháp là 500 đồng (lúc đó kỳ thi Diplôme đã bỏ) và bằng Tú Tài Việt hay Pháp là 1.000 đồng.  Anh Tế và tôi đều được Mẹ tôi đích thân dẫn vào Ðình để nhận các món tiền thưởng này từ tay Bác Hai Lượng khi chúng tôi khi đậu các bằng cấp đó.  Cuối năm 1967, sau khi tôi đã tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn, lập gia đình, đi dạy học ở Kiến Hòa được 3 năm (1963-1966), đã sanh được đứa con đầu lòng là cháu Lâm Thế Dũng, và đã được thuyên chuyển về Sài Gòn, dạy học tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Ðức, thì Mẹ tôi đã làm thủ tục đưa tôi vào làm Hội viên (trong Hội gọi là Hiệp Lý), và Hội đã cấp cho tôi một giấy chứng nhận gọi là Tờ Cử như trong hình sau đây:

Tôi là đứa con duy nhứt trong nhà đã trở thành một Hội viên chính thức của Hội MHGT: các chị vì là phái nữ nên con cái đương nhiên phải theo họ cha nên không thể làm Hội viên được, còn Anh Tế, sau khi đi du học Canada đã ở lại không về Việt Nam nữa nên cũng không thể làm Hội viên.  Tôi sẽ nói thêm về Tờ Cử này trong một phần sau. 

Quan Hệ Tốt Với Các Em và Các Cháu

 Sau khi lập gia đình, Mẹ tôi đã tự coi mình là người của họ Lâm.  Trong một thời gian khá dài, quan hệ giữa Mẹ và những người bên ngoại, ngay cả anh chị em ruột, tương đối giới hạn.  Người duy nhứt thường lui tới với Ba Mẹ tại số 14 đường Trần Thanh Cần là Cậu Tám, em trai út của Mẹ tôi.  Chỉ sau khi Ba Mẹ tôi dọn ra khỏi căn nhà từ đường này và sống trong căn phố mướn tại số 54 đường Nguyễn Phi Khanh thì các mối quan hệ với bên ngoại tôi mới phát triển lên nhiều.

Như đã trình bày bên trên, Mẹ tôi có tất cả 7 anh chị em, kể theo thứ tự lớn nhỏ là: chị cả là Má Hai, rồi đến người anh lớn là Cậu Ba, kế đến là một người chị là Má Tư, rồi đến Mẹ tôi (là Má Năm), kế tiếp là 2 người em gái là Má Sáu, Má Bảy, và sau cùng đến người em trai út là Cậu Tám.  Một cách trực tiếp, Mẹ tôi đều có một quan hệ thật tốt với tất cả mọi người trong gia đình, trừ Cậu Ba vì Cậu Ba đã mất tương đối sớm.  Trong hai người chị, Má Hai và Má Tư, Mẹ tôi gần gủi với Má Tư hơn và chính vì vậy Mẹ tôi đã có cái quyết định “ký bán” hai Chị Anh và Chị Phương cho Má Tư như đã trình bày bên trên.  Ðối với ba người em thì Mẹ tôi đều rất thương cả ba người, nhưng đã có một mối quan hệ rất đặc biệt với hai người là người em kế là Má Sáu, và người em trai út là Cậu Tám.

Má Sáu, tên trong giấy khai sanh là Nguyễn Thị Báu, sanh năm 1906 (Ðinh Mùi), nhỏ hơn Mẹ tôi 2 tuồi, đã lập gia đình với Dượng Sáu tên Lê Hoàng Kế, gia đình ở Bà Rịa, trong một vùng có địa danh là Ông Trịnh (thuộc xã Tân Phước, huyện Tân Thành, tỉnh Bà RỊa – Vũng Tàu hiện nay).  Không rõ vì lý do gì, sau khi sanh được một con trai đặt tên là Lê Văn Tốt (sanh khoảng năm Kỷ Tỵ 1929, lớn hơn tôi đúng 1 con giáp 12 năm; vì vậy tôi vẫn luôn luôn kêu bằng anh mặc dù nếu theo đúng vai vế thì tôi mới là vai anh), Má Sáu tôi quyết định dứt khoát chia tay với Dượng Sáu (mặc dù, theo lời kể lại của Mẹ tôi thì Dượng Sáu có mấy lần tìm đến, năn nỉ Má Sáu xin nối lại tình vợ chồng) và ôm con về ở với Ba Mẹ tôi.  Có lẽ do lễ giáo ngày xưa, con gái đã gả về nhà chồng rồi thì không có thể trở về sống với cha mẹ ruột được, nên Má Sáu tôi đã có quyết định sống với chị mình là Mẹ tôi.  Ba Mẹ tôi chấp nhận cho hai mẹ con Má Sáu sống trong nhà, và từ ngày đó trở đi, hai chị em đã sống cạnh nhau, giúp đở lẩn nhau, cùng chia xẻ ngọt bùi thăng trầm với nhau trong suốt một thời gian thật dài, khoảng nửa thề kỷ, cho đến khi Mẹ tôi qua đời vào năm 1979.  Ba Mẹ tôi, nhứt là Ba tôi, rất thương Anh Tốt, coi như đứa con trai thứ nhì (lúc đó Ba Mẹ chỉ còn Anh Hai Tường đã được gần 10 tuổi, tất cả 4 người con nhỏ là Chị Anh, Chị Phương, Anh Tế và tôi đều chưa sanh ra). 

Hình Mẹ tôi (mặc áo dài bông) và Má Sáu cùng đi lể ở Lăng Ðức Tả Quân Lê Văn Duyệt khoảng cuối thập niên 1950

Hình Má Sáu (ở tiền cảnh) tại đám tang của Mẹ tôi tháng 7-1979

Má Sáu tánh tình hiền lành, lại chịu khó, không thích se sua, không thích đi ra ngoài, và rất thích làm những công việc ở trong nhà, nên đã giúp Ba Mẹ tôi rất nhiều.  Mẹ tôi chắc chắn đã rất cảm kích về sự đóng góp của Má Sáu cho gia đình chúng tôi.  Một chuyện như sau đã cho thấy sự thương yêu của Mẹ tôi dành cho Má Sáu.  Khi cả nhà được Ba tôi đưa vào lánh nạn trong Ðình MHGT, vấn đề gạo thì không phải lo vì trong Ðình lúc nào cũng có trữ một số lượng gạo rất lớn do nhu cầu cúng kiến hàng năm rất nhiều lần của Ðình.  Nhưng thức ăn thì vô cùng khó khăn vì rất khan hiếm do chủ trương tiêu thổ kháng chiến của Việt Minh.  Do ăn uống thiếu thốn, vì người lớn lại còn nhịn ăn để dành phần cho 4 chị em chúng tôi, Má Sáu đã bị bại liệt, không đi được.  Mẹ tôi đã đem đi bán món nữ trang cuối cùng là đôi bông hột xoàn sính lễ mà gia đình Ba tôi đã cho lúc đám cưới để lo thuốc men cho Má Sáu.  Nhờ vậy Má Sáu đã phục hồi được khả năng đi lại mặc dù từ đó về sau, cho đến khi Má Sáu qua đời vào năm 1991, đôi chân Má Sáu rất yếu.  Sau khi Ba tôi mất, và nhứt là sau khi Mẹ tôi đã vào nghề bán hột xoàn, gần như ngày nào Mẹ tôi cũng ở ngoài đường nhiều hơn là ở trong nhà.  Mọi việc trong nhà Mẹ tôi giao hết cho Má Sáu.  Vì vậy, đối với 4 chị em tôi, Má Sáu là bà mẹ thứ hai vì Má Sáu là người quán xuyến tất cả mọi chuyện trong nhà: chợ búa, nấu nướng, giặt giủ, ngay cả kể chuyện đời xưa. 

Anh Tốt, người con trai duy nhứt của Má Sáu, được Ba Mẹ tôi cho đi học đàng hoàng cho tới Lớp Nhứt (Cours Supérieur) ở Trường Nam Tiểu Học Ðakao.  Cuối năm đó anh thị đậu bằng Tiểu bọc (Certificat d’Etudes Primaires, trường gọi tắt là bằng Certificat) làm Ba Mẹ tôi và Má Sáu rất mừng.  Nhưng sau khi thi rớt vô Trường Lycée Petrus Ký thì anh ở nhà luôn vì Ba Mẹ tôi đâu có khả năng tài chánh để cho anh đi học trường tư.  Sau khi Anh Hai Tường mất năm 1944, anh Tốt trở thành đứa con trai cột trụ của gia đình, vì 4 chị em tôi, tuy lúc đó đã có mặt nhưng đều còn nhỏ, người lớn nhứt là Chị Anh cũng chỉ mới 11 tuổi lại là con gái.  Khi quân Pháp trở lại chiếm Nam Kỳ, 1945-46, Anh tốt, lúc đó mới được khoảng 15-16 tuổi, đã tham gia rất tích cực vào việc mưu sinh của gia đình.  Hằng ngày, công việc chánh yếu của anh ấy là phụ giúp Mẹ tôi trong việc làm bánh mì hột gà để bán, như chẻ củi, chụm lửa, chạy ra chợ mua thêm bột mì, trứng, dầu vì Ba Mẹ tôi đâu có vốn nhiều để mua nhiều trữ sẳn, cứ hết thì mua thêm.  Lúc xế chiều khi việc làm bánh đã xong trong ngày, anh thường xin Mẹ tôi một vài đồng bạc, ra chợ tìm mua các loại trái cây rồi đem đến các nơi có trại lính Pháp để đổi với lính Pháp (vì với trình độ đậu bằng Certificat anh đã nói được tiếng Pháp khá giỏi) lấy thuốc lá, bánh kẹo, xô-cô-la rồi đem ra chợ bán để kiếm lời đem về cho Mẹ tôi. Vài năm sau khi Ba tôi mất, quân Pháp đã làm chủ được tình hình trong Nam, một số công ty nhỏ của người Pháp được thành lập và Anh Tốt tìm được việc làm tại một ông ty xuất nhập cảng tên là Toutimport ở đường Pellerin (thời VNCH đổi tên là đường Pasteur) dưới Chợ Cũ. Cả nhà rất mừng. Nhưng anh chỉ làm được mấy năm thì bị động viên vào quân đội.  Lúc đó Chiến Tranh Việt-Pháp đã sắp kết thúc.  Sau khi được huấn luyện ở Trung Tâm Huấn Luyện Quán Tre (về sau đổi tên thành Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung), anh ra đơn vị là một Tiểu Ðoàn Khinh Binh thì Hiệp ÐỊnh đình chiến Genève được ký kết.  Mẹ tôi và Má Sáu rất là mừng nhưng không được lâu.  Trong thời gian này anh Tốt đã gặp gỡ và mướn nhà sống lén lút (không có làm đám cưới gi cả) với một người phụ nữ gốc Hoa tên Vân và sanh được 2 đứa con gái.  Năm 1955, đơn vị của anh được lệnh tham gia chiến dịch tiếp quản vùng Liên Khu 5 cũ của Việt Minh ở ngoài Trung.  Anh Tốt đã tử nạn khi chiếc quân xa chở đơn vị anh bị lật ở Tuy Hòa và anh được chôn cất trong một nghĩa trang của quân đội tại Nha Trang.  Còn quá trẻ và không có khả năng nuôi con, chị Vân đó đã mang 2 đưa con gái nhỏ đến giao chọ Mẹ tôi và Má Sáu để đi lấy chồng khác.  Mẹ tôi nhận nuôi đứa con gái lớn (tên khai sanh là Lê Kim Loan, tên ở nhà là Mimi) và đi tìm người cô của Anh Tốt (bà Tư Lê Thị Mưu, chị ruột của Dượng Sáu Lê Hoàng Kế) để nhờ nuôi đưa con gái nhỏ (tên khai sanh là Lê Kim Phụng, tên ở nhà là Ðờni.  Một thời gian ngắn sau, Bà Mưu tìm được Chị Vân và trả Ðờni lại với lý do nó cứng đầu quá bả không dạy được, và Chị Vân đem bỏ nó vào Cô Nhi Viện trên Thủ Ðức.  Ðược tin này, Mẹ tôi lập tức cho người đi tìm Chị Vân bảo chị ấy phải lên Cô Nhi Viện xin con Ðờni lại và đem về giao cho Mẹ tôi nuôi luôn.  Thời gian này, khoảng năm 1956, Mẹ tôi đã khá giả lắm rồi, có dư thừa khả năng để nuôi cả 2 đứa con Anh tốt, vậy tại sao Mẹ lại chỉ nuôi 1 đứa thôi ?  Tôi nghĩ là vì một ý tốt của Mẹ như sau: Mẹ muốn tránh cho Má Sáu khỏi bị mang tiếng là dành hết 2 đứa cháu nội, muốn vậy thì nên chia sẻ với bên Nội của Anh Tốt, như vậy 2 đứa cháu, 1 sẽ sống với Bà Nội và 1 sẽ sống với Bà Cô, nhứt là vì Dượng Sáu Kế, sau khi lấy vợ khác thì không sanh được đứa con nào nữa cả và bà chị là Bà Tư Mưu thì không có gia đình, như vậy 2 đứa cháu này là 2 đứa cháu nội duy nhứt của gia đình họ Lê.  Tôi tin chắc là Mẹ tôi đã bàn bạc chuyện này với Má Sáu trước khi quyết định như vậy.  Chỉ sau khi Bà Tư Mưu không chịu nuôi nữa thì Mẹ tôi mới quyết định nuôi cà 2 đứa cháu nội của Má Sáu.  Như vậy, tất cả 3 thế hệ của gia đình người em gái kế là Má Sáu đều đã sống dưới sự cưu mang, đùm bọc và thương yêu của Mẹ tôi, ngay cả từ khi Mẹ tôi còn sống rất chật vật khó khăn.  Và đây cũng không phải là những đứa cháu duy nhứt mà Mẹ tôi đã cưu mang, đùm bọc trong cuộc đời của bà.

Cũng giống như đối với Má Sáu, Mẹ tôi cũng có một mối quan bệ rất đặc biệt với người em trai út là Cậu Tám.  Cậu Tám, tên khai sanh là Nguyễn Văn Tuất, sanh năm Canh Tuất (1910), là người em trai duy nhứt của Mẹ tôi, và cũng có lẽ là người em mà Mẹ tôi thương nhứt trong nhà.   Như đã trình bày bên trên, sau khi đã lập gia đình và về sống bên nhà chồng trong Chợ Lớn, Cậu Tám là người em duy nhứt thường tới thăm Ba Mẹ tôi tại căn nhà từ đường đó.  Sau đó Cậu lập gia đình và sanh được 2 người con, 1 trai tên Nguyễn Hóa Hải (cùng sanh năm Kỷ Tỵ 1929 như Anh Tốt, con Má Sáu) và 1 gái tên Nguyễn Thị Mai (nhỏ hơn Anh Hải vài ba tuổi).  Năm 1939, Cậu Tám tình nguyện sang Pháp đánh Ðức.  Năm 1940, khi Pháp thua trận và bị Ðức chiếm đóng, Cậu theo đồng đội, vượt biển Manche, sang Anh theo sự kêu gọi của Tướng De Gaulle.  Tháng 6-1944, Cậu có mặt trong đoàn quân dưới quyền Tướng Leclerc tham dự cuộc đổ bộ tại Normandie giải phóng nước Pháp.  Cậu tham dự nhiều trận đánh, lập nhiều chiến công và được khá nhiều huy chương của quân đội Pháp.  Khi Thế Chiến 2 chấm dứt, Cậu không về Việt Nam, ở lại Pháp luôn, và sau đó sang Bắc Phi sinh sống và làm việc ở Rabat, thủ đô của Maroc.  Tại đây Cậu lập gia đình với một phụ nữ Pháp và sanh được 3 người con, 1 gái và 2 trai.  Ỏ Việt Nam, biết Cậu Tám không về nữa, Mợ Tám giao 2 đứa con lại cho Bà Ngoại tôi (tức là Bà Nội của 2 người này) nuôi và đi lấy chồng khác.  Trước hoàn cảnh thương tâm của hai đứa cháu và cũng để đở gánh nặng cho Bà Ngoại, Mẹ tôi quyết định mang cả hai cháu về nuôi luôn, mặc dù hoàn cảnh của Mẹ lúc đó, khoảng năm 1949-50, ngay sau khi Ba tôi vừa mất, còn rất nhiều khó khăn.  Hai anh Hải và Tốt, cùng một tuổi lại là anh em cô cậu ruột với nhau, đã chơi với nhau rất thân.  Sau đó cả 2 cùng đi xin việc chung và đều được hảng Toutimport nhận vào làm cùng một lúc.  Và sau đó, cả 2 anh cũng đều bị động viên cùng một lúc.  Sau thời gian huấn luyện ở Quán Tre, trong khi anh Tốt ra đơn vị như đã trình bày bên trên, thì anh Hải (tôi cũng gọi anh Hải bằng anh cũng như với anh Tốt, mặc dù cả 2 người đều là vai em đối với tôi) được giữ lại trung tâm huấn luyện phụ trách công tác nhiếp ảnh.  Trong thời gian này Không Quân Việt Nam vừa mới thành hình, cần tuyển nhiều quân nhân, anh Hải nộp đơn và được gọi đi dự một kỳ thi tuyển chọn người để Không Quân gởi sang Pháp học sửa máy bay.  Trong khi chờ đợi kết quả của kỳ thi tuyển này thì xảy ra biến cố Bình Xuyên, đơn vị của anh Hải cũng bị điều động ra đóng ngay dưới chưn Cầu Chữ Y chuẩn bị tấn công sang khu Chánh Hưng (bên kia cầu) nơi đóng Tổng Hành Dinh của Tướng Bảy Viển (Thiếu Tướng Lê Văn Viễn), thủ lãnh BÌnh Xuyên.  Mẹ tôi rất lo, nhưng thật may, ngay hôm đó ở nhà nhận được thơ của Không Quân báo cho biết anh Hải đã đậu kỳ thi tuyển và phải trình diện ngay với Bộ Tư Lệnh (tạm thời) của Không Quân đặt tại số 110 đường Testard (sau này đổi tên thành đường Trần Quý Cáp) để làm thủ tục đi Pháp.  Mẹ tôi mừng vô cùng, và cầm cái thơ đi ngay ra chổ đơn vị anh Hải đang đóng quân, tìm gặp vị sĩ quan chỉ huy đơn vị để trình cái thơ.  Anh Hải được cho rời đơn vị ngay để đi trình diện tại Bộ Tư Lệnh Không Quân.  Sau đó anh Hải lên đường đi Pháp bằng tàu biển của hảng Messageries Maritimes và nhập học tại căn cứ không quân Pháp ở thành phố Rochefort.  Sau một năm huấn luyện tại Rochefort, anh Hải trở về nước, phục vụ tại sân bay Biên Hòa với cấp bậc Trung Sĩ Nhứt.  Mấy năm sau, Mẹ tôi lo cưới vợ cho anh Hải.  Nhờ người quen giới thiệu, Mẹ tôi đã cưới được vợ cho anh Hải là chị Nhiểm, cháu nội của nhà văn Hồ Biểu Chánh.  Hai vợ chồng anh Hải sanh được tất cả 5 đứa con, 2 trai và 3 gái.  Năm 1975, gia đình anh Hải di tản sang Mỹ và sống ở Nam Cali cho đến khi anh Hải mất vào khoảng năm 2005.

Về phần người con gái của Cậu Tám, Chị Ba Mai, sau một thời gian ở với Mẹ tôi, đã trốn nhà đi ra khu, theo Việt Minh.  Năm 1954, sau khi Hiệp Ðịnh Genève được ký kết, Chị Mai theo đơn vị tập kết ra Bắc luôn, mãi đến sau ngày 30-4-1975 mới về Nam.  Chị đã đến thăm Mẹ tôi ngay hôm về tới Sài Gòn, và được Mẹ tôi cho biết Anh Hải và gia đình đã di tản sang Mỹ.  Chị cho biết đã lập gia đình với một anh cán bộ tập kết người Nam và có được 4 đứa con, 3 gái và 1 trai.  Mẹ tôi hỏi về công việc làm thì Chị Mai cho biết là làm Bác sĩ.  Mối quan hệ giữa Mẹ tôi và Chị Mai được tái lập.  Sau đó thỉnh thoảng Chị vẫn đến thăm Mẹ tôi, và ngay chính cái hôm Mẹ tôi bị tai biến mạch máu nảo đưa đến cái chết của Mẹ tôi sau đó 5 ngày, Chị Mai cũng có mặt và cùng với tôi đưa Mẹ tôi vào Bệnh Viện Sài Gòn cứu cấp ngay lập tức vì chị cũng là Bác Sĩ nên có quen biết với các bác sĩ của bệnh viện.           

Lập Gia Ðình Cho Các Con

Sau khi Anh Hai Lâm Vĩnh Tường mất vào khoàng năm 1944, trước đó cả 3 người chị kế là Chị Ba Lâm Ngọc Sương, Chị Tư Lâm Ngọc Thu và Chị Năm Lâm Ngọc Diệu đều đã mất rồi, Chị Sáu Lâm Nguyệt Anh trở thành người con lớn nhứt trong gia đình.  Sau khi mất cả 3 người con gái trong cùng một năm, Ba Mẹ tôi quyết định không giữ truyền thống của dòng họ Lâm dùng chữ Ngọc làm chữ lót cho tên các con gái nữa; vì thế cả 2 chị Anh và chị Phương đều có tên với chữ lót là Nguyệt thay vì Ngọc.  Chữ lót cho tên con trai thì Ba Mẹ tôi (và bản thân tôi sau này) vẫn tiếp tục giữ đúng theo quy định trong Gia phả của họ Lâm.  Thứ tự các chữ dùng làm chữ lót cho tên con trai của các đời là như sau, do Cụ Tổ Lâm Các Quới đã quyết định: Tường – Quang – Lệ – Nhựt – Vĩnh –Thế – Kỳ – Xương.  Thí dụ trong cánh họ của tôi thì như sau:

  • Ông Sơ: Cụ Lâm Tường
  • Ông Cố: Cụ Lâm Quang Kiển
  • Ông Nội: Cụ Lâm Lệ Thủy
  • Ba tôi: Ông Lâm Nhựt Thanh
  • Tôi: Lâm Vĩnh Thế; anh Tư tôi là Lâm Vĩnh Tế
  • Các con tôi: Lâm Thế Dũng, Lâm Thế Trung
  • Cháu nội tôi: Lâm KỳTrân

Kể từ giữa thập niên 1960 trở đi, khi anh chi em chúng tôi đều đã trưởng thành có gia đình, Mẹ tôi suy nghĩ về cách xưng hô giữa các con trong nhà, và nhận ra là lộn xộn quá đối với chị Anh và chị Phương.  Nếu theo thật đúng thứ tự các con Mẹ tôi đã sanh ra thì Chị Anh phải là Chị Sáu, Chị Phương phải là Chị Bảy; nhưng sau đó do quyết định “ký bán” hai chị cho Má Tư, Chị Anh đã được gọi là Chị Mười và Chị Phương đã được gọi là Chị Một.  Vì vậy Mẹ tôi đã quyết định hủy bỏ hết và sắp xếp lại thứ tự trong nhà và bảo chúng tôi bắt đầu gọi Chị Anh là Chị Hai, Chị Phương là Chị Ba, Anh Tế là Anh Tư, và tôi là Út.  Quyết định này bề ngoài xem có vẻ đơn giản, chỉ là sửa đổi lại cách xưng hô giữa chị em trong nhà.  Sau này, càng suy nghĩ tôi càng thấy không phải vậy, không đơn giản như vậy.  Tôi nghĩ và tin rằng Mẹ tôi là một người rất trọng lễ giáo, trọng tôn ti trật tự trong gia đình.  Vậy tại sao trong việc này Mẹ lại xóa bỏ cái tôn ti trật tự đó.  Sau cùng tôi nghiệm ra rằng Mẹ tôi quyết định như vậy vì Mẹ tôi sau cùng đã nhận ra rằng tuyệt đối, ở cái tuổi 60 của mình, không nên giữ trong lòng cái quá khứ đau buồn của việc mất cả 4 người con lớn trong đó có việc mất cả 3 người con gái trong cùng một năm đó nữa.  Tôi tin là tôi đã nghĩ đúng vì từ đó cho đến ngày Mẹ vĩnh viễn ra đi vào năm 1979, tôi không bao giờ nghe Mẹ tôi nhắc lại khoảng thời gian với chuyện đau buồn đó nữa cả. 

Với cuộc sống vật chất của gia đình đã hoàn toàn ổn định và thoải mái rồi, và với các con cũng trưởng thành, Mẹ tôi bắt đầu tính đến việc lập gia đình cho chị em chúng tôi.  Một lần nữa, Mẹ cho thấy cá tính tôn trọng ngôi thứ trong nhà.  Mẹ lo chuyện này cho Chị Anh trước vì chị là Chị Hai.  Ðám cưới Chị Hai và Anh Hai được tổ chức             vào năm 1957 khi Chị Hai vẫn còn đang học năm cuối tại Học Viện Quốc Gia Hành Chánh.  Anh Hai, tên Nguyễn Minh Trí, sanh cùng năm 1933 với Chị Hai, con trai lớn của Ông  Nguyễn Văn Hóa, chủ nhân của nhà hàng cơm Tây Casino Dakao (đối diện với rạp chiếu bóng Casino Dakao, bây giờ gọi là rạp Cầu Bông), lúc đó còn đang ở trong Không Quân và đang phục vụ tại căn cứ Không Quân Biên Hòa.

Hình đám cưới Chị Hai – Anh Hai

Mấy tháng sau, Mẹ tôi lo tiếp đám cưới cho Chị Ba.  Anh Ba, tên Trần Quốc Kỳ, sanh năm 1935, lớn hơn Chị Ba 1 tuổi, con của Ông Bà Trần Ngọc Xuân, công chức hồi hưu sống tại Nam Vang.  Vì vậy, sau đám cưới, Chị Ba về sống với nhà chồng tại Nam Vang.

Hình đám cưới Chị Ba – Anh Ba

Hè năm 1961, sau khi tôi đã học xong năm thứ nhứt tại Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn, do yêu cầu của tôi, Mẹ tôi lo tổ chức Lễ Sơ Vấn cho tôi với bà xã tương lai của tôi là cô Võ Thị Nhơn Nghĩa, sanh năm 1943, nhỏ hơn tôi 2 tuổi, con gái thứ của Ông Bà Võ Văn Ðỡm, công chức Tòa Ðô Chánh Sài Gòn, và là em gái của một người bạn thân của tôi ở Petrus Ký là Anh Võ Văn Minh.  Cũng chính Mẹ tôi đứng ra lo đám cưới cho vợ chồng tôi vào ngày 6-10-1963 sau khi tôi ra trường.

Hình đám cưới của vợ chồng tôi

Phần Anh Tế, sau khi đậu xong Tiến Sĩ, anh quyết định ở lai Canada luôn, không về nước, và sống chung với chị Raymonde Charron thuộc một gia đình người Québecois ở Montréal.  Mẹ tôi không vui, nhưng tôn trọng ý muốn không về Việt Nam của anh ấy.  Nhưng Mẹ tôi không thể chấp nhận chuyện trai gái sống chung với nhau mà không có cưới hỏi.  Vị vậy Mẹ đã thuyết phục được Anh Tế phải làm đám cưới đàng hoàng với chị Raymonde.  Mẹ đích thân đi chọn nữ trang và may áo dài (theo ni tấc do Anh Tế đo và gởi về) gởi sang Montréal để lo đám cưới của Anh Tế với chị Raymonde.  Anh chị không có con vì không muốn có con.   

Mấy năm sau, Mẹ tôi rất hạnh phúc vì đã có được một đàn cháu 6 đứa nội ngoại đầy đủ trai gái.  Anh Chị Hai sanh được 2 con gái là Nguyễn Minh Phượng (sanh năm 1959) và Nguyễn Minh Hoàng (sanh năm 1961); Anh Chi Ba sanh được 3 đứa con, 2 trai và 1 gái, Trần Quốc Khánh (sanh năm 1958), Trần Phương Mai (sanh năm 1962) và Trần Quốc Khải (sanh năm 1963); và vợ chồng tôi sanh được 1 con trai là Lâm Thế Dũng (sanh năm 1964).  VÌ thế Mẹ quyết định chụp một tấm hình chung cho cả đại gia đình như sau:

Hinh Mẹ tôi và cả đại gia đình khoảng giữa năm 1965

(thêm cà 2 đứa cháu nội của Má Sáu)

Từ đó trở đi, hằng năm, thay vì đi nghĩ hè với các con như trước kia, nay Mẹ tôi đi nghĩ hè với các cháu.  Phượng-Hoàng-Mai-Khánh-Khải-Dũng cứ bãi trường, nghĩ hè là được Bà Nội/Ngoại dẫn đi Vũng Tàu, Long Hải, Nước Ngọt ở chơi, tắm biển mấy tuần, có năm đi cả tháng luôn.  Thường thì Anh Chị Hai (bây giờ được mấy đứa nhỏ gọi bằng Ba Hai Má Hai, theo đúng truyền thống của gia đình) dùng xe hơi nhà đưa ra và sau đó đón về.

Hình Mẹ tôi đi nghĩ hè với cáccháu – Hình 1

Hình Mẹ tôi đi nghĩ hè với các cháu – Hình 2

Ðời Sống Tâm Linh Của Mẹ Tôi

Trong suốt thời gian gần 20 năm, sau khi Ba tôi mất vào năm 1948 cho đến năm 1966 khi tôi được thuyên chuyển về dạy học ở Thủ Ðức, Mẹ tôi gần như không có cuộc sống riêng tư.  Mẹ tôi dành hết thời gian để lo làm ăn buôn bán, kiếm sống và nuôi các con cho đến tuổi trưởng thành, có gia đình và sự nghiệp.  Từ những năm 1964-65 đã có một số dấu hiệu việc làm ăn của Mẹ tôi không còn trôi chảy, suông sẽ như trước nữa.  Thầy ký mà Mẹ tôi mướn để trông coi dàn xe taxi bắt đầu có những hành vi gian lận gây thua lỗ cho Mẹ tôi.  Mẹ tôi quyết định không làm nữa, cho Thầy ký nghĩ việc, và bán hết các xe taxi.  Sau đó, một vài người quen lâu năm trong giới bán hột xoàn với Mẹ đã gạt Mẹ trong một vài vụ mua bán làm cho Mẹ phải mất một số tiền khá lớn.  Mẹ suy nghĩ rất nhiều về các việc này, và tin rằng việc làm ăn thành công của mình là do Ỏn Trên ban cho (qua ngôi mộ đắc địa của Ba tôi) để Mẹ có thể nuôi con khôn lớn.  Bây giờ các con đều đã trưởng thành, học thành tài và đã có sự nghiệp vững chắc hết rồi.  Ỏn Trên dùng những chuyện không tốt trên để báo cho Mẹ biết là cái thời làm ăn tốt đẹp đó đã hết hạn, không nên tiếp tục nữa.  Thế là Mẹ tôi quyết định chấm dứt tất cả mọi việc làm ăn buôn bán.

Ngoài việc vui với đàn cháu, bây giờ Mẹ tôi dành toàn thời gian còn lại để lo cho cuộc sống tinh thần của mình.  Bản thân được đào tạo từ trong một môi trường lễ giáo, tôn kính Trời Phật, thánh thần, Mẹ tôi ngay từ thời còn trẻ đã có một đời sống tâm linh rất tốt.  Mẹ tôi luôn luôn tin tưởng vào một Ðấng Thiêng Liêng ở Cõi Trên nên trong đời sống hàng ngày luôn luôn làm lành lánh dữ, giúp đở người nghèo khó.  Mẹ có lập bàn thở Phật trong nhà và mỗi ngày đều dâng cúng hoa quả, thấp nhang lạy Phật.  Trong nhà cũng có một bàn thờ riêng thờ ông bà.  Sau khi Ba tôi mất, cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, Mẹ luôn luôn giữ việc cúng giổ của ông bà hai bên nội ngoại, cũng như của Ba tôi, rất đầy đủ trong nhà.  Chị em chúng tôi (trừ Anh Tế) với cả tiểu gia đình (mặc dù cả hai chị về sau đều theo Công giáo) đều phải luôn luôn có mặt trong các ngày giổ đó. 

Sau khi nghĩ hưu, Mẹ tôi đã gia nhập một cơ đạo huyền bí mà tất cả niềm tin cũng như mọi sinh hoạt đều đặt trên các đàn cơ mà đạo hữu tin tưởng là do các đấng thiêng liêng giáng hạ và giáo huấn đệ tử.  Trong khoảng thời gian các thập niên 1950, 1960 và 1970, tại Sài Gòn, đã xuất hiện khá nhiều những giáo phái như thế; tôi tin rằng những vị sáng lập ra các giáo phái này đều có liên hệ it nhiều tới Đạo Cao Ðài hay phái Thông Thiên Học, và phương tiện truyền giáo đều là dựa vào đàn cơ.

Hình Mẹ tôi mặc đạo tràng

Cho đến ngày vĩnh viễn ra đi, Mẹ tôi đã là một đệ tử thuần thành, luôn luôn tham gia vào tất cả các hoạt động của cơ đạo, mà chủ yếu là các chuyến đi gọi là hành pháp do các vị ân sư truyền đạt qua các buổi hầu đàn.  Các chuyến đi hành pháp này đều đã được ấn định ngày giờ cụ thể với mục đích rõ rệt, phần lớn là để yểm trấn các trọng địa duyên hải của Việt Nam để chống lại các mưu đồ xâm lăng của ngoại bang.  Ðể giữ kín mục đích chính này, các chuyến đi hành pháp như vậy đều mang tính cách từ thiện.  Cụ thể là các chuyến đi hành pháp tại các đảo Phú Quí (ngoài khơi Phan Thiết), Côn Sơn (quần đảo án ngữ các cửa sông Cửu Long), Hòn Sơn Rái hay Lại Sơn (ngoài khơi Hà Tiên, trong Vịnh Thái Lan).  Nhờ có được những quan hệ cá nhân với một vài cấp chỉ huy trong Hải Quân, các chuyến đi hành pháp này đều được thực hiện bằng các chiến hạm của Hải Quân trong các chuyến công tác tiếp tế cho các đơn vị trấn đóng trên các đảo đó.  Các đệ tử trong cơ đạo tham dự các chuyến đi này đóng góp tài vật làm thành những món quà cho binh sĩ của các đơn vị trấn thủ, cũng như các gia đình khó khăn trên đảo, hay các tù nhân đang bị giam giữ tại nhà tù Côn Sơn.

Khi không phải tham gia các chuyến đi hành pháp đó với các vị huynh đệ tỉ muội trong cơ đạo, thì Mẹ tôi cùng một vài bà bạn thân tự tổ chức các chuyền đi hành hương, thăm viếng các chùa chiền trên khắp các vùng đất nước, từ vùng cao nguyên, cho đến miền duyên hải, từ Miền Ðông Nam Bộ, đến Miền Tây Hậu giang, Thất Sơn.  Có thể nói dấu chân hành hương của Mẹ tôi đã in gần như khắp nơi trên lãnh thổ cũa Việt Nam Cộng Hòa, từ vĩ tuyến 17 trở vào cho đến Mũi Cà Mau.  Tại mỗi ngôi chùa, Mẹ tôi đều quyên cúng một ít tiền để giúp chùa trang trải chi phí về nhang đèn. 

Ngoài ra, Mẹ tôi cũng tham gia rất tích cực vào sinh hoạt của Hội Minh Hương Bảy Phủ trong Chợ Lớn dành riêng cho nữ giới.  Bức ảnh sau đây chụp kỷ niệm trong một dịp Lễ Cúng Vía Bà Ngũ Hành:

Hình Mẹ tôi và Các Bà trước Hội quán của Hội Minh Hương Bảy Phủ – Hàng đầu, người đầu tiên phía tay phải là Mẹ tôi

Những Năm Cuối Ðời

Ðầu năm 1974, chị em chúng tôi quyết định tổ chức Lễ Thất Tuần cho Mẹ vì năm đó Mẹ được đúng 70 tuổi.  Nhân dịp này cánh họ Lâm, mà đại diện là Chú Năm Lâm Nhựt Tân, đã đến chung vui với gia đình tôi, đã tặng cho Mẹ bức hoành phi với 4 chữ Tiết Hạnh Khả Tôn.  Mẹ rất vui vì thấy rõ việc hy sinh thủ tiết thờ chồng nuôi con khôn lớn của mình trong suốt mấy chục năm dài khổ cực khó khăn đó đã được bên nhà chồng đánh giá cao.  Mẹ càng vui hơn vì sự thành đạt của các đứa con thương yêu của Mẹ.  Chị Hai nay đã là một công chức cao cấp trong ngành thuế vụ: Chánh Sự Vụ Sở Thuế Lợi Tức Pháp Nhân của Tổng Nha Thuế Vụ, thuộc Bộ Tài Chánh.  Anh Tư là một giáo sư đại học tại Canada.  Còn tôi, đứa con út nhỏ bé của Mẹ, sau khi du học ở Hoa Kỳ về, cũng đã là một giáo sư đại học, Trưởng Ban Thư Viện Học, Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn, thuộc Ðại Học Vạn Hạnh, đồng thời cũng là Chủ TỊch Hội Thư Viện Việt Nam, và là một Hội Viên của Hội Ðồng Văn Hóa Giáo Dục.  Mẹ rất mãn nguyện vì tin rằng tất cả chúng tôi sẽ còn thành công hơn nữa trong sự nghiệp. 

Nhưng rõ ràng là chuyện đời không thể nói trước được.  Ngày 30-4-1975 ập đến, cuốn đi hết tất cả những thành quả mà chị em chúng tôi đã đạt được và đưa chúng tôi vào một tương lai vô cùng đen tối và hoàn toàn bế tắc.  Mẹ tôi vô cùng buồn khổ, nhứt là vì Mẹ nghĩ rằng chính Mẹ đã khiến chúng tôi lâm vào cảnh cùng đường này.  Khi tình hình chiến sự ở Cao Nguyên và Miền Trung đã diễn ra rất bất lợi cho VNCH, Anh Tế đã làm giấy bảo lãnh gởi về cho tât cả 3 gia đình chị em chúng tôi ở VN.  Nhưng khi Chị Anh và tôi cùng ra Tòa Ðại Sứ Canada ở đường Nguyễn Du trình giấy bảo lãnh để xin được giúp đở để di tản khỏi Việt Nam thì nhân viên tại đây cho biết họ không thể làm gì để giúp chúng tôi cả.  Họ bảo chúng ta phải xin giấy thông hành (passport) của VN cho phép rời VN trước rồi họ sẽ cấp chiếu khán nhập cảnh (visas d’entrée = entry visas) để đi Canada, nghĩa là họ hành xử như trong những trường hợp di dân bình thường, một điều cực kỳ vô lý trong hoàn cảnh của VNCH vào thời gian này. (Sau này, đài CBC = Radio Canada đã có một phóng sự điều tra do ký giả Mike Duffy thực hiện lên án rất nặng nề thái độ và cách hành xử của Tòa Ðại Sứ Canada tại Sài Gòn trong thời gian các tháng 3 và 4-1975).  Thấy rõ không có thể trông cậy vào Tòa Ðại Sứ Canada được, Chị Anh và tôi chuyển hướng qua phía người Mỹ.  Ngày 22-4-1975, Chị Anh và tôi ra Cơ quan USAID, đóng tại đường Lê Văn Duyệt, kế bên trụ sở của Tổng Liên Ðoàn Lao Ðộng Việt Nam.  Tại đây đã có rất đông người Việt và toàn là những người đã từng được USAID cấp học bổng đi Mỹ du học.  Mọi người xếp hàng rất trật tự để chờ phiên mình vào.  Tại đây, chúng tôi đã được cấp giấy giới thiệu để lên Tân Sơn Nhứt làm manifest để được di tản khỏi VN.  Vậy là chúng tôi yên tâm đã có cách ra khỏi VN rồi.  Chúng tôi nói cho Mẹ biết để chuẩn bị chuyện ra đi.  Nhưng thật hoàn toàn bất ngờ, Mẹ từ chối, không chịu đi, Mẹ nói: “Má già rồi, trên bảy mươi rồi, còn đi đâu nữa, tụi con muốn đi thì cứ đi đi, Má không đi đâu.”  Chị em chúng tôi làm sao có thể bỏ Mẹ lại cho được.  Chúng tôi đành phải chấp nhận ở lại thôi.

Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Mẹ tôi đã nhận ra là mình đã quyết định sai lầm và chính mình đã hại con cái mình rồi.  Nổi hối hận này làm Mẹ tôi suy sụp một cách rất rõ rệt và nhanh chóng về cả tinh thần lẩn thể xác.

Hình Mẹ tôi chụp chung với cả gia đình Tết 1974

Hình Mẹ tôi chụp chung với cả gia đình Tết 1978

Mẹ bán đi một số nữ trang, mua vàng để cho tôi đi vượt biên nhưng tôi đi mấy lần mà không thành.  Tháng 1-1979, gia đình Chị Anh đi vượt biên theo lối bán chính thức với giấy tờ giả làm người Hoa.  Chuyền đi thành công trót lọt nhưng sau đó mấy tháng trời không có tin tức già cả làm Mẹ tôi rất lo, huyết áp lên cao quá và hậu quả không tránh được: Mẹ tôi bị tai biến mạch máu nảo, hôn mê 5 ngày trong bịnh viện, đưa về nhà được chưa đến một ngày thì Mẹ tôi mất vào lúc 7 giờ sáng ngày Thứ Tư, 4-7-1979, nhằm ngày 11 tháng 6 năm Kỷ Mùi.  Sau đám tang, theo lời dặn từ trước của Mẹ, thi hài của Mẹ đã được hỏa táng và tro hài cốt được đưa vào thờ trong Chùa Vạn Thọ ở Tân Ðịnh. 

Sau khi được Anh Tế bảo lãnh vào Canada, Chị Anh mới biết tin Mẹ tôi đã mất.  Chị rất đau buồn, như đã thể hiện rất rõ rệt trong bài thơ khóc Mẹ sau đây của Chị:

Khóc Mẹ

Mẹ mất rồi: 4-7-79

Kính dâng hương hồn Mẹ

Thôi thế từ nay cách biệt rồi

Còn gì mong nữa hởi mẹ ôi

Ðời con như mãnh buồm theo gió

Như cánh bèo mây, như nước trôi.

Nhớ thuở ra đi, biệt mẹ hiền

Cảnh nhà tan nát, phận đảo điên

Ly hương vĩnh viễn, lìa bạn hữu

Bỏ lại mẹ già, dạ chẳng yên.

Phút chốc nghe tin mẹ chẳng còn

Ðất bằng sóng dậy, biển thành non

Ngày mong gặp mẹ thành mây khói

Ðầu vở, tim đau, dạ héo hon.

Mẹ đã yên bề, mẹ có hay

Ðời con hiu quạnh ở chốn này

Tìm đâu bóng mẹ ngày xưa nữa

Chỉ thấy chân trời bóng nhạn bay.

Khổ nổi lòng con cứ vấn vương

Ảnh hình từ mẫu với tình thương

Ngàn năm ấp ủ lòng con mãi

Dù ở phương xa ngút dặm trường.

Ngày tháng mẹ ban quá nhiệm mầu

Bao năm gánh nặng nghĩa càng sâu

Giờ đây vắng mẹ ngàn nhung nhớ

Khóc mẹ lòng con ứa lệ sầu.

Thắp nén nhang lòng gởi mẹ yêu

Tình con thương mẹ biết bao nhiêu

Cúi xin thượng đế ngài thương xót

Cứu rổi linh hồn mẹ thoát siêu.

Thành Montréal

 1 ngày thu buồn năm 1979

L.N. Anh

Mối Quan Hệ Ðặc Biệt giữa Mẹ Tôi và Tôi

Mẹ tôi rất thương tôi vì tôi là con út và đây là chuyện bình thường trong bất cứ gia đình nào.  Nhưng bây giờ, ở cái tuổi gần “tám bó” này, nhìn vào một số sự việc trong đời sống của bản thân tôi, và suy nghĩ thật kỷ, tôi nghiệm ra rằng quả thật giữa hai mẹ con tôi đã có một số chuyện rất đặc biệt.

Chuyện thứ nhứt khi nó xảy ra thì tôi còn quá nhỏ, thú thật tôi hoàn toàn không nhớ gì hết, tôi chỉ nghe Chị Hai tôi kể lại mà thôi.  Ðó là buổi sáng ngày 8-4-1946 khi xảy ra vụ nổ kho đạn ở gần Sở Thú Sài Gòn.  Tất cả cư dân vùng Ðakao đều phải di tản để tránh cảnh có thể bi lạc đạn.  Lúc đó tôi chưa đầy 5 tuổi, còn ở nhà, chưa đi học.  Sau khi Ba tôi chạy xe đạp vào Trường Nam Tiểu Học Ðakao rước Anh Tế tôi về, cả gia đình chúng tôi cùng ra khỏi nhà để di tản.  Ba tôi đi đầu, dẫn chiếc xe đạp có Anh Tế ngồi trên boọc-ba-ga, kế tiếp là Anh Tốt dẫn Má Sáu, rồi đến Chị Anh và Chị Phương, sau cùng là Mẹ tôi dắt tôi.  Mới ra khỏi nhà được chưa tới 100 m, thì tôi ngồi phịch xuống đường, không chịu đi nữa, khóc và đòi Mẹ tôi phải ẩm.  Ngay lúc Mẹ tôi cuối xuống ẩm tôi thì một mảnh bom khá lớn xẹt ngang trên đầu Mẹ tôi và chém vào cây cột đèn đường làm bể một miếng to bằng cái dĩa bàn.  Chị Hai kể lại lúc đó nghe tiếng tôi khóc đòi ẩm Chị quay lại và nhìn thấy rõ mọi việc.  Chị tin là do hành động vô tri, trẻ con, nhỏng nhẻo đó, tôi thực sự đã cứu mạng Mẹ tôi.  Và Chị cũng tin rằng chính Mẹ cũng nghĩ như vậy nên về sau Mẹ tôi còn thương yêu tôi nhiều hơn nữa.

Chuyện thứ nhì thì tôi biết rất rõ vì xảy ra khi tôi đã trưởng thành và là một chuyện hết sức quan trọng trong đời tôi: đó là chuyện tôi lập gia đình.  Như đã trình bày bên trên, hè năm 1961, khi tôi xin Mẹ tôi đi hỏi vợ cho tôi, Mẹ tôi bằng lòng ngay, không vặn hỏi tôi điều gì cả, cho thấy Mẹ rất thương và chiều tôi.  Năm 1963, tôi tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm thì Mẹ tôi lại một tay lo tất cả mọi việc để tổ chức đám cưới cho tôi.  Lúc đó tôi còn chưa được bổ nhiệm, đâu có tiền bạc gì, mọi chi phí về nữ trang, lễ vật, tiệc tùng Mẹ tôi lo hết.  Tiệc cưới của chúng tôi được tổ chức linh đình tại tửu lầu Ðồng Khánh trong Chợ Lớn với tất cả 22 bàn khách cho cả hai họ.

Chuyện thứ ba, xảy ra vào năm 1971, lúc tôi vừa bước vào cái tuổi “tam thập nhi lập.”  Lúc đó tôi đang phục vụ tại Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Ðức (KMTÐ), vừa là Giáo sư giảng dạy môn Kiến Thức Xã Hội, vừa phụ trách trông coi thư viện của trường.  Việc tôi đãm nhận thêm công tác điều hành thư viện là một việc tình cờ nhưng là một ngã rẽ bất ngờ và may mắn trong cuộc đời làm việc của tôi.5 Sau một thời gian công tác, tôi được Giáo Sư Hiệu Trưởng Phạm Văn Quảng gởi đi học một khóa huấn luyện căn bản về thư viện do Cơ Quan Phát Triển Thư Viện (Library Development Authority) của USAID tổ chức tại Sài Gòn trong 2 tuần lễ.  Khoảng giữa năm 1971, cơ quan này quyết định cấp một học bổng cho tôi đi du học tại Hoa Kỳ về ngành thư viện.  Giáo Sư Phạm Văn Quảng rất vui mừng cho tôi và ký ngay hợp đồng với USAID về việc này.  Tuy nhiên, vì Trường KMTÐ là một đơn vị trực thuộc trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn (ÐHSPSG), hợp đồng này phải được sự chấp thuận của Giáo Sư Trần Văn Tấn, Khoa Trưởng của ÐHSPSG thì mới thi hành được.  Tôi đã đích thân mang hợp đồng này về Sài Gòn, xin vào gặp Giáo Sư Tấn để xin ông ký chấp thuận, nhưng không rõ vì lý do thật là chuyện gì, cả 2 lần Giáo Sư Tấn đều từ chối, viện dẫn đủ thứ lý do (nào là tôi không muốn anh bỏ ngành sử địa của anh, nào là để tôi tìm học bổng cho anh đi Pháp lấy tiến sĩ đệ tam cấp về ngành Sử, vv và vv.), nhưng nhất quyết không chịu ký vào hợp đồng này.  Tôi thật sự thất vọng và thấy hoàn toàn bế tắc.  Một vài ngày sau lần thứ nhì gặp Giáo Sư Tấn, trong một bửa cơm chiều, chợt Mẹ tôi hỏi (sau khi từ Kiến Hòa chuyển về dạy tại Trường KMTÐ, vợ chồng tôi và đứa con trai lại trở về sống chung với Mẹ tôi tại căn phố mướn ở Ðakao) “con có chuyện gì mà Má thấy con lo quá vậy?”  Tôi nói cho Mẹ tôi biết việc bế tắc đối với Giáo Sư Tấn.  Mẹ tôi nói ngay: “con đừng lo nữa, để Má tính cho.”  Sáng hôm sau, Mẹ tôi bảo tôi mang giấy tờ đi gặp Giáo Sư Tấn một lần nữa.  Mẹ tôi đưa cho tôi một cái khăn tay của Mẹ đã xếp kín lại bên trong có để một vật gì đó, và dặn tôi: “con không được mở ra coi cái gì bên trong nha, cứ để nguyên như vậy trong túi áo con, nhớ không, không được mở ra nha, ổng sẽ ký giấy tờ cho con liền, chừng nào xong con đem về đưa lại cho Má.”  Lần này tôi cũng vào phòng làm việc của Giáo Sư Khoa Trưởng Trấn Văn Tấn, gặp và đưa tờ hợp đồng cho ông ấy, và ông ấy ký ngay lập tức, không nói một lời nào với tôi cả, hoàn toàn trái ngược với hai lần trước.  Tôi mừng quá, cám ơn ông ấy và ra khỏi phòng ngay.  Về đến nhà, tôi đưa lại cái khăn tay cho Mẹ tôi và thuật lại mọi việc cho Mẹ tôi nghe.  Mẹ tôi không nói một lời nào hết, chỉ ra trước bàn thờ thắp nhang và khấn vái gì đó thật nhỏ, tôi không nghe được gì hết.  Thú thật cho đến ngày hôm nay, ghi lại những dòng chữ này, tôi vẫn hoàn toàn không biết bên trong cái khăn tay đó là cái vật gì vì Mẹ tôi cũng không bao giờ nói cho tôi biết. Nhờ sự giúp đở này của Mẹ, tôi đã được đi du học 2 năm tại Hoa Kỳ (từ tháng 8-1971 cho đến cuối tháng 5-1973), và đó là phương tiện giúp tôi gặt hái được những thành công rất tốt đẹp trong hai năm 1973-1975 sau khi về nước vào tháng 5-1973, cũng như sau năm 1981 khi đã định cư tại Canada.

Chuyện thứ tư cũng không kém phần huyền bí như chuyện thứ ba vừa kể trên, và đặc biệt còn huyền bí hơn nữa vì nó xảy ra sau khi Mẹ tôi đã qua đời.  Câu chuyện như sau.  Khoảng đầu tháng 4-1979, sau khi tôi đã đi vượt biên một vài lần không thành công, và sau khi gia đình Chị Anh đã ra đi theo diện bán chính thức (từ cuối tháng 1-1979 và đến lúc đó vẫn không có tin tức gì cả), Anh Tế đánh điện tín về cho biết sẽ gởi giấy tờ về để bảo lãnh về cho Mẹ và Má Sáu di dân qua Canada.  Khoảng đầu tháng 6-1979 thì chúng tôi nhận được các giấy bảo lãnh đó.  Tờ bảo lãnh thứ nhứt thì có tên Mẹ tôi đứng đầu kèm theo danh sách gia đình tôi (lúc đó vợ chồng tôi đã có thêm một đứa con trai được 3 tuổi, là cháu Lâm Thế Trung, sanh năm 1976). Tờ bảo lãnh thứ nhì thì dành riêng cho Má Sáu.  Khi Mẹ tôi, Má Sáu và tôi ra Phường để nộp đơn thì Công An Phường cho biết chỉ nhận đơn của Mẹ tôi và Má Sáu thôi, còn đơn của vợ chồng tôi thì vì chúng tôi còn là công nhân viên nhà nước nên họ không nhận.  Mẹ tôi không chịu nộp đơn và chúng tôi ra về.  Về nhà rồi Mẹ mới nói “Má nộp đơn là cho gia đình con cùng đi chung, chớ đi một mình thì Má đi làm gì.”  Thế là cả nhà quyết định dẹp luôn cái vụ xin đi bảo lãnh này.  Cuối tháng 6-1979, Mẹ tôi bị tai biến mạch máu nảo và mất vào ngày 4-7-1979.  Sau khi cúng đủ 7 cái thất cho Mẹ tôi, và, đặc biệt trong thời gian 49 ngày này, đêm nào tôi cũng tụng kinh A Di Ðà và Ðịa Tạng cho Mẹ tôi (đây là lần đầu tiên và cũng là duy nhứt trong đời tôi tụng 2 kinh này liên tục trong 49 đêm), theo lời khuyên của bạn bè thân tình, sang tháng 9-1979, tôi và bà xã tôi lại cùng đi với Má Sáu tôi đã ra Phường lần thứ nhì để nộp đơn xin đi Canada.  Thật lạ lùng, không những nhận đơn của Má Sáu tôi, lần này Công An Phường còn vui vẻ nhận cả đơn của vợ chồng tôi, lại còn ân cần căn dặn chúng tôi khoan xin nghĩ việc để còn tiếp tục được mua gạo theo giá chính thức cho công nhân viên nhà nước, chờ khi nào đã được cấp giấy xuất cảnh rồi hảy xin nghĩ việc.  Thật tình mà nói, nộp đơn thì tôi cứ nộp, nhưng tin là sẽ đi được thì lúc đó tôi không tin chút nào hết, vì tôi nghĩ lúc trước Mẹ còn sống và làm đầu tàu thì gia đình tôi còn có cơ may được kéo theo, chớ còn bây giờ chỉ là anh em bảo lãnh cho nhau thì làm gì có hy vọng đi được.  Một thời gian ngắn sau, Phòng Công Tác Người Nước Ngoài (trên đường Nguyễn Du, nên thường được gọi tắt là Nguyễn Du, gần ra tới ngả ba với đường Lê Văn Duyệt, chính là tòa nhà trụ sở cũ của Tòa Ðại Sứ Canada trước ngày 30-4-1975, nơi mà Chị Anh và tôi đã đến và đã không nhận được sự giúp đở gì cả) gởi giấy báo cho Má Sáu tôi ra nhận giấy xuất cảnh.  Ðây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy hồ sơ của gia đình tôi có vấn đề rồi, vì cả 2 hồ sơ cùng nộp một ngày, cùng do một người (Anh Tế) bảo lãnh, vậy mà chỉ có hồ sơ của Má Sáu được giải quyết và cấp giấy xuất cảnh.  Khi có phái đoàn của Sở Di Dân Canada (Immigration Canada) đến Sài Gòn tôi đưa Má Sáu đi gặp phái đoàn (nói là phái đoàn chớ thật ra chỉ có 1 người duy nhứt là ông Bersma).  Vì thuộc diện R (Relatives = Bà con, dành cho anh chị em, cô dì chú bác) chớ không phải diện F (Family = Gia đình, dành cho vợ chồng, cha mẹ con cái), nên Má Sáu phải qua hệ thống chấm điểm (The Point System của Immigration Canada) và kết quả là Má Sáu bị từ chối vì không đủ điểm, không được Canada cấp giấy nhập cảnh (Entry visa).  

Tôi và bà xã tôi thấy rõ là nếu không áp dụng thủ tục “đầu tiên” thì chắc chắn hồ sơ mình sẽ nằm im vĩnh viễn.  Thế là chúng tôi bắt đầu tiến hành việc tìm “đường dây” để “chạy.”  Chuyện không đễ chút nào, và cũng phải trãi qua cảnh “tiền mất tật mang” vì bị bọn cò mồi lường gạt.  Sau cùng thì chúng tôi cũng tìm được một “đường dây” có thực chất và đàng hoàng.  Nhưng hồ sơ của chúng tôi mấy lần từ Phòng Công Tác Người Nước Ngoài (Nguyễn Du) chuyển lên Sở Công An Thành phố đều bị bát với lý do là người nộp đơn (tức là tôi) là chuyên viên nhà nước đang cần.  Thời gian qua cũng nhanh, thấm thoát đã gần 2 năm mà hồ sơ của gia đình tôi vẫn không được giải quyết, vẫn không được cấp giấy xuất cảnh.  Ðầu tháng 7-1981, chúng tôi cúng mãn tang Mẹ.  Sau đó, mọi việc chợt thông suốt, trong vòng 2 tháng tôi ra khỏi Việt Nam.  Một buổi sáng đầu tháng 7-1981, người của “đường dây” đến nhà gặp tôi và hỏi tôi một câu hoàn toàn bất ngờ: “anh họ Lâm, vậy anh có phải là người gốc Hoa không?”  Tôi trả lời anh ta tôi đúng là người gốc Hoa nhưng từ bao nhiêu đời rồi, bản thân tôi không bao giờ tự xem mình là người Hoa cả.  Anh ta lại hỏi: “nhưng anh có giấy tờ gì chứng tỏ anh là người gốc Hoa không?”  Tôi trả lời là tôi không biết nhưng tôi sẽ cố tìm xem có giấy tờ gì không rồi sẽ cho anh ấy biết.  Sau khi anh ta ra về, tôi mở cái tủ sắt của Mẹ tôi và tìm thấy ở đáy tủ cái Tờ Cử của Hội MHGT mà tôi đã trình bày bên trên.  Lúc đó Tờ Cử bị xếp làm 8, sau 14 năm, đã gần như rách thành 8 mãnh, và màu giấy đã vàng (xin xem lại tấm ảnh Tờ Cử ở trang 14). Tôi lấy băng keo dán các đường gấp lại, đem ra tiệm chụp hình nhờ chụp lại, xong rửa ra 1 tấm khổ 18 x 24 cm.  Hai ngày sau, người đó trở lại, tôi đưa cái ảnh của Tờ Cử cho anh ta xem, anh ta nói ngay: “vậy là tốt quá rồi, anh yên tâm đi, chắc chắn lần này sẽ ra được xuất cảnh cho anh.”  Và đúng như lời anh ta nói,chỉ độ hơn 2 tuần sau, gia đình tôi nhận được thơ mời của Nguyễn Du đến nhận các giấy xuất cảnh.  Ðúng ngay hôm đó, phài đoàn Immigration Canada lại sang, nên ngay ngày hôm sau gia đình tôi được ông Bersma phỏng vấn và tôi cũng phải trãi qua hệ thống chấm điểm và tôi đủ điểm đậu.  Trong dịp này tôi lại dẫn theo Má Sáu tôi cùng đển xin gặp ông Bersma để xin ông ấy chiếu cố.  Mặc cho tôi “hát bài con cá” cho trường hợp của Má Sáu tôi, ông Bersma vẫn làm đúng theo luật, và Má Sáu vẫn bị đánh rớt như lần trước.  Mấy ngày sau, gia đình tôi được giấy gọi đi khám sức khỏe ở Bệnh Viện Chợ Rẩy.  Kết quả khám sức khỏe của cả gia đình tôi đều tốt đẹp, hồ sơ được gởi sang Bankok và độ 2 tuần sau thì gia đình tôi nhận được các giấy nhập cảnh của Canada từ Bangkok gởi qua.  Tôi làm thủ tục đăng ký chuyến bay và gia đình tôi rời Việt Nam đi Canada vào ngày 23-9-1981.  Tính ra từ lúc nộp đơn (tháng 9-1979) cho đến lúc ra khỏi nước (tháng 9-1981) là đúng 2 năm.  Trong thời gian 24 tháng đó, 22 tháng đầu hồ sơ xin xuất ngoại đi Canada của gia đình tôi hoàn toàn không có một bước tiến triển nào cả mặc dù tôi đã tìm mọi cách và cũng bị mất khá nhiều tiền, nhưng sau khi mãn tang Mẹ tôi, chỉ trong vòng 2 tháng, 7-9/1981, tất cả mọi chuyện đã diễn ra nhanh chóng ngoài sức tưởng tượng (lấy được giấy xuất cảnh, được Immigration Canada phỏng vấn và chấm điểm, khám sức khỏe, nhận được giấy nhập cảnh của Canada, làm thủ tục đăng ký chuyến bay, và bao nhiêu thủ tục khác của Việt Nam như hợp lệ ngân hàng, hợp lệ nhà đất, chích ngừa, cân đo hành lý) để gia đình tôi ra khỏi Việt Nam.  Và tất cả đã khởi sự từ cái Tờ Cử của Hội MHGT mà Mẹ tôi đã làm cho tôi cách đó 14 năm về trước.  Như vậy, không còn nghi ngờ gì nữa cả, chính Mẹ tôi đã cứu tôi (và cả gia đình tôi) ra khỏi Việt Nam.  Và cũng thật rõ ràng tôi là đứa con út được Mẹ tôi thương yêu nhứt nhà và chính vì vậy tôi có bổn phận thiêng liêng là phải ở cạnh Mẹ để lo chuyện trăm tuổi cho Mẹ.  Khi nào lo xong thì mới có thể ra đi được.   

Thay Lời Kết

Cuộc đời của Mẹ tôi, từ khi còn con gái, đến khi lập gia đình, rồi lâm vào cảnh góa bụa, thủ tiết thờ chồng nuôi con khôn lớn, khi các con đã thành đạt thì vui với cháu, và sau cùng dành khoảng đời còn lại của mình cho một cuộc sống tâm linh đạo hạnh, có thể nói là một cuộc đời tiêu biểu cho thế hệ của bà, của những người phụ nữ đã sống trọn đời theo đúng tiêu chuẩn của xã hội truyền thống của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh mà nhà thơ và nhà ái quốc nổi danh của vùng đất này, cụ Nguyễn Ðình Chiểu (1822-1888), đã mô tả ngay trong phần mở đầu trong tác phẩm Lục Vân Tiên nổi tiếng của cụ:

Trai thời trung-hiếu làm đầu

Gái thởi tiết-hạnh là câu trau mình.6 

Ghi Chú:

  1. Lâm Vĩnh Thế.  Ðình Minh Hương Gia Thạnh, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/lam-vinh-the/dhinh-minh-huong-gia-thanh
  2. Lâm Vĩnh Thế.  Lục Tỉnh Tân Văn: một trong những tờ báo sống lâu nhứt của Nam Kỳ trước năm 1945, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/i-j-k-l-m/lam-vinh-the/luc-tinh-tan-van-mot-trong-nhung-to-bao-song-lau-nhut-cua-nam-ky-truoc-nam-1945
  3. Lâm VĨnh Thế.   “Ngoại Tôi,” trong Tập san nghiên cứu văn hóa Ðồng Nai – Cửu Long, số 6 (Tháng 5/2007), tr. 325-330.
  4. Xin đọc thêm chi tiết trong bài Ðình Minh Hương Gia Thạnh, đã dẫn bên trên, trong mục “Những Ngày Lễ Hội Của Ðình Minh Hương.”
  5. Lâm Vĩnh Thế.  Một ngã rẽ bất ngờ và may mắn, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.ca/2016/07/mot-ngare-bat-ngo-va-may-man-lam-vinh-a.html
  6. Nguyễn Ðình Chiểu.  Lục Vân Tiên ; sửa đúng theo bản của cụ Trương Vĩnh Ký phát-hành năm 1889 gồm có 21 đoạn 2.076 câu; Nguyễn Thành Tâm chú-thích.  In lần thứ nhứt.  Saigon: Tân  Việt, 1951.  Tr. 20.  Trên trang nhan đề của tác phẩm này, tên tác già được ghi là Ðồ Chiểu.