Đakao Ngày Tháng Cũ: Xóm Faucault

Lâm Vĩnh-Thế

    Tôi sinh ra tại Nhà Bảo Sanh của Bác sĩ Khải (mà người dân địa phương lúc đó gọi là Nhà thương Ông Khải) tại Bà Chiểu (xã Bình Hòa, Gia Định) nhưng sau một tuần thì Ba tôi rước hai mẹ con tôi về nhà tại Đakao.  Do đó, tôi lớn lên tại Sài Gòn và sống trọn 40 năm (1941-1981) trong khu Đakao trước khi rời Việt Nam đi định cư tại Canada vào tháng 9-1981.  Bước vào tuổi 80 này, rất may mắn, trí nhớ tôi vẫn còn khá tốt và bài viết này được viết ra để chia xẻ với các bạn những điều tôi còn nhớ được về khu Đakao của những ngày tháng cũ, của các thập niên 1940-1950-1960.

Bản Đồ Khu Đakao Trước 1975

    Ngôi nhà nơi tôi đã sống và lớn lên mang số 54 của con đường nhỏ và ngắn có tên Pháp là Rue Faucault.  Sau năm 1954, trong thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, tên đường được đổi sang tên Việt là đường Nguyễn Phi Khanh, và tên đường này vẫn còn được giữ nguyên cho đến ngày hôm nay.  Con đường này, như các bạn thấy trong bản đồ bên trên, đi từ ngã ba của hai con đường chánh của khu Đakao là đường Đinh Tiên Hoàng (trước 1954 có tên Pháp là Albert 1er) và đường Hiền Vương (trước 1954 có tên Pháp là Mayer) cho đến ngã tư, nơi gặp nhau của 3 con đường là đường Trần Quang Khải (trước 1954 có tên Pháp là Paul Bert), đường Trần Khắc Chân (trước 1954 có tên Pháp là Général Mangin), và đường Trần Văn Thạch (trước 1954 có tên Pháp là Vassoigne).  Các con đường trong khu Đakao đã được tôi kể lại khá tỉ mỉ trong cuốn sách Đakao Trong Tâm Tưởng, ở Phần 1 – Những con đường ở Đakao, từ trang 6 đến trang 46.[1] 

Bìa trước của sách Đakao Trong Tâm Tưởng

Đường Nguyễn Phi Khanh chỉ dài độ 500-600 mét và gồm phần lớn là nhà ở.  Số nhà trên đường Nguyễn Phi Khanh được khởi đầu từ phía ngã ba với đường Đinh Tiên Hoàng và đường Hiền Vương (hay phía Đakao), bên tay phải là số chẳng và bên tay trái là số lẻ, vì vậy có thể coi phía đó như là đầu đường, và phía ngã tư với các đường Trần Khắc Chân, Trần Quang Khải và Trần Văn Thạch (phía Tân Định) là cuối đường.  

Trọn con đường chỉ có chừng 3-4 căn nhà được sử dụng làm nơi làm ăn buôn bán mà thôi.  Từ phía đầu đường, căn nhà đầu tiên bên tay trái là tiệm cà phê Thái Chi nổi tiếng của khu Đakao (tiệm này chỉ có mặt từ sau năm 1954 vì hai vợ chồng chủ nhân là người Bắc Di Cư).  Ngó xéo qua bên kia đường là một tiệm bán mì, hủ tiếu của người Hoa (không có bảng hiệu).  Cách đó độ 30-40 m, bên kia đường là nhà của Cụ Ba La (một người Bắc Di Cư) có gắn một tấm bảng nhỏ có ghi hàng chữ như sau:  Ba La – Tử Vi, Bói Dịch.  Qua khỏi ngã ba với đường Lý Văn Phức (trước 1954 là đường Lesèble) độ chừng 50 mét, cũng bên tay trái là tiệm Ô Mai Bắc Việt, ngó xéo qua phía bên kia đường (về hướng cuối đường) độ chừng 10 mét là tiêm cơm tấm cũng rất nổi tiếng của Bà Ba Liên (cũng không có bảng hiệu), và sau hết, qua khỏi ngã ba với đường Huyền Quan, cũng bên tay tái, gần cuối đường là phòng mạch và hốt thuốc Bắc của Y Sĩ Điều.

    Giống như các con đường khác trong khu Đakao, đường Nguyễn Phi Khanh cũng có một số đường hẻm nhỏ, một số là hẻm cụt và một số giúp đi thông qua được đến các con đường nằm chung quanh là các đường Trần quang Khải, Lý Trần Quán (trước năm 1954, có tên Pháp là Barbier) và Lý Văn Phức.

    Từ đầu đường vào khoảng 40-50 m, phía bên tay phải, ngó xéo qua tiệm cà phê Thái Chi, là con hẻm đầu tiên, bề ngang rất hẹp, có lẻ độ chừng 1,5 m thôi.  Ở ngoài đầu đường hẻm nhỏ này, nhìn từ ngoài đường vào, bên tay phải là cái tiệm bán mì, hủ tiếu đã nói ở trên, mà bà con lối xóm thường gọi là tiệm Xẩm Mập vì bà chủ người Hoa tương đối mập mạp; bên tay trái là một căn nhà khá lớn, mặt tiền khá dài, và là một vựa bán sỉ gà vịt cho các bạn hàng của Chợ Đakao và Chợ Tân Định.  Đường hẻm này là một hẻm cụt, chỉ dài độ 20 m, bên trong chỉ có ba căn nhà nhỏ của ba gia đình người Hoa: 1) Chú Hải là thợ mộc, chuyên đóng bàn ghế; 2) Chú Chiêu có một xe bán nước ngọt;[2] và 3) Một chú có một xe mì bán dạo mà tôi không biết tên, chỉ gọi là Ba con Muối.[3]

    Đi thêm độ chừng 30-40 m về phía cuối đường, phía bên trái có một con hẻm cụt nữa.  Trong hẻm cụt này là một vài gia đình lao động nghèo người Việt mà tôi chỉ còn nhớ gia đình của Chú Hai Hòa thợ sơn.  Hàng năm, cứ đến gần Tết thì Mẹ tôi đều nhờ Chú đến quét nước vôi cho căn nhà của gia đình tôi.  Chú Hai Hòa có nhiều con trong đó có thằng Nghĩa cùng học chung với tôi tại Trường Nam Tiểu Học Đakao.  Đối diện bên kia đường cũng có một con hẻm nhỏ, bề ngang chỉ độ hơn 1 m thôi, cũng là hẻm cụt, trong đó chỉ có một căn nhà nhỏ mà chủ nhà có mở một lớp học cho các trẻ con trong xóm học để chuẩn bị xin vào Lớp Chót của hai Trường Tiểu Học Nam và Nữ của khu Đakao.  

Hẻm kế tiếp, cũng phía bên tay trái, là hẻm số 37, cũng là một hẻm cụt.  Hẻm này khá rộng, xe hơi có thể chạy vô được, mặt hẻm tráng xi măng rất tốt, bên trong hẻm có 2 dãy nhà đâu mặt nhau.  Tôi còn nhớ được một vài gia đình đã sống trong hẻm này: 1) nhà Thầy giáo (tôi không còn nhớ tên) dạy Lớp Nhứt B của Trường Nam Tiểu Học Đakao; 2) nhà gia đình anh Phan Thanh Liêm về sau là một Giáo sư Đệ nhị Cấp dạy môn Triết; và 3) nhà gia đình Giáo sư Lương Lê Đồng, Hiệu Trưởng Trường Trung Tiểu Học Tư Thục Huỳnh Khương Ninh nổi tiếng của khu Đakao.  (Sau ngày 30-4-1975, Giáo sư Đồng trở thành vị Giám Đốc đầu tiên của Sở Giáo Dục Thành phố Hồ Chí Minh).

Cách đó không xa lắm, là hẻm số 45.  Hẻm này khá rộng, và có lẽ là con hẻm quan trọng nhứt của đường Nguyễn Phi Khanh vì có nhiều chi tiết rất đáng nhớ.  Vào trong độ 15 m thì hẻm chia ra hai nhánh; một nhánh là một ngõ cụt, đi thẳng vào sâu thêm độ 20 m nữa thì hết; một nhánh rẽ phía tay phải, nhánh này khá hẹp, đi quanh co và sau cùng thông ra được một con hẻm khác rộng hơn nhiều dẫn ra đường Lý Văn Phức, đối diện với cổng sau của Đất Thánh Chà (sang thập niên 1950, Đất Thánh Chà bị giải tỏa và trở thành cư xá cho nhân viên Sở Vệ Sinh của Thành phố Sài Gòn).  Trong phần đầu của hẻm này, trước khi đến chỗ chia làm hai nhánh, phía tay trái là bức tường bên hông của ngôi biệt thư lớn số 43, phía tay phải có một một dãy nhà nhỏ độ 3-4 căn, trong đó có một căn là của gia đình Anh Nê.  Anh Nê là một người Pháp lai tên là René Robert, có vợ Việt và đã quyết định ở lại Việt Nam sau khi Quân Đội Viễn Chinh Pháp rút về nước, và đổi sang tên Việt là Trần Văn Nên, nhưng bà con lối xóm cứ quen gọi là Anh Nê.  Anh là một vận động viên xe đạp nổi tiếng, đã từng nắm giữ chức vô địch về môn đua nước rút trong một thời gian.  Trong nhánh ngõ cụt có hai gia đình người Bắc, một gia đình chuyên làm các đồ hàng mã, gia đình kia thì có một người con trai về sau là một nam ca sĩ nhi đồng rất nổi danh mà báo chí Sài Gòn lúc đó gọi là thần đồng Quốc Thắng.[4] Ngay tại chỗ ngõ hẻm này chia làm hai nhánh có một ngôi nhà khá lớn của một gia đình rất đông anh em, trong đó có 2 người con trai rất nổi tiếng: 1) Giáo Sư Cỗ Tấn Luông của Trường Trung Tiểu Học Tư Thục Huỳnh Khương Ninh được mọi người trong xóm kính mến, và 2) Đại Tá Cỗ Tấn Tinh Châu, một sĩ quan cao cấp của binh chủng Thủy Quân Lục Chiến rất nổi tiếng, đã từng là Tiểu đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 (1963), với chức vụ sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Đặc Khu Rừng Sát (tháng 4-1975).[5, 6] 

Cách hẻm số 45 độ hơn 20 m, phía bên kia đường, có một con hẻm nhỏ giữa hai căn nhà số 48 và 50.  Hẻm này chạy dài suốt bên hông của căn phố số 50, và ăn thông sang được đường Paul Bert.  Sang khoảng đầu thập niên 1950, những gia đình sống trong các căn phố bên đường Paul Bert đã cho xây một bức tường gạch cao ngăn không cho qua lại nữa, và con hẻm này biến thành một hẻm cụt, và đương nhiên trở thành một phần đất của căn nhà số 50.  Sang cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970, phần đất đó được làm thành một phòng để cho gia đình đứa con trai út trú ngụ.

Tiếp tục đi về hướng cuối đường thêm một khoảng độ gần 100 m, đối diện với ngã ba với đường Lesèble thì có một đường hẻm nữa, bề ngang độ hơn 2 m, ăn thông qua đến đường Paul Bert.  Lúc còn nhỏ, khi Mẹ tôi sai tôi đi công việc gì bên đường Paul Bert thì tôi thường dùng hẻm này để đi cho mau.  Hẻm này cũng không còn nữa từ giữa thập niên 1950 vì đã có một căn nhà được xây lên ngay tại đó.  Cách đó độ 50 m, cùng một bên đường cũng, có một con hẻm tương tư, cũng thông qua đường Paul Bert và sau đó cũng bị xây tường ngăn lại.  Bên kia đường, kế bên tiệm Ô Mai Bắc Việt cũng có một con hẻm cụt rất nhỏ.  

Đối diện với tiệm cơm tấm của Bà Ba Liên cũng có một hẻm khá rộng nhưng là hẻm cụt.  Trong hẻm này có một gia đình của một bà quả phụ có ba người con, một người con trai lớn, và hai người con gái nhỏ.  Tôi không còn nhớ gì nhiều về hai người con gái đó, nhưng tôi không bao giờ quên người con trai lớn.  Đó là Anh Nhứt, Nguyễn Văn Nhứt, người hiền lành, đẹp trai, cao lớn, mãnh khảnh, học rất giỏi, tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Sài Gòn vào năm 1965.  Nhưng không ngờ Anh lại quá vắn số, vừa ra trường, và, theo luật thời bấy giờ, bị trưng tập vào quân đội (Trung Đoàn 7, Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Quân Đoàn III) với cấp bậc Trung Úy và chỉ một thời gian ngắn sau đó thì tử trận, cùng với Bộ Chỉ Huy của Trung Đoàn, trong một trận phục kích ở Dầu Tiếng vào tháng 10 năm 1965.[7, 8, 9] Cả xóm Nguyễn Phi Khanh đều xúc động nghe tin Anh tử trân, nhứt là thương cảm cho bà mẹ góa của Anh đã phải chịu thêm cái đau đớn mất đứa con trai duy nhứt.  

Con hẻm cuối cùng của đường Faucault, cũng năm bên tay trái, cách hẻm vừa nói trên độ 50 m là con hẻm rất nhỏ, đi vòng vo và sau cùng nối vào một con hẻm khác rộng hơn ăn thông ra đường Barbier.  Ngay đầu con hẻm rộng của đường Barbier này có một ngôi biệt thự khá lớn về sau, khoảng cuối thập niên 1950 hay đầu thập niên 1960, trở thành Trường Mẫu Giáo Mạnh Mẫu khá nổi tiếng.

    Con đường Faucault tuy nhỏ và ngắn, xóm Faucault tuy nhỏ bé nhưng lại là một phần của khu Đakao vốn là một trung tâm văn hóa khá quan trọng của thành phố Sài Gòn mang nhiều màu sắc có thể gọi là “địa linh nhơn kiệt.”

    Trong cuốn sách Đakao Trong Tâm Tưởng, phần Đakao: Một Trung Tâm Văn Hóa, các trang 122-127, tôi đã đề cập đến các ngôi đình trong khu Đakao [10], trong đó có Đình Sơn Trà, nằm gần cuối đường Faucault, ngay ngã ba với Đường Huyền Quan, (trước 1954, đường Huyền Quan có tên Pháp là Génibrel), một con đường rất nhỏ, và rất ngắn, nối liền hai con đường Faucault và Barbier.

Cổng chánh vào Đình Sơn Trà

    Sau đây là phần tôi ghi lại kỷ niệm tuổi thơ của tôi về Đình Sơn Trà trong cuốn sách Đakao Trong Tâm Tưởng:

“Trên đường Nguyễn Phi Khanh, ngay ngã ba với đường Huyền Quan, gần ra tới ngã ba với đường Trần Quang Khải, cũng có một ngôi đình lớn là đình Sơn Trà.  Ðình nầy chỉ nhỏ hơn đình Nam Chơn thôi, phía trước và dọc theo cạnh đường Huyền Quan là hàng rào cây sống.  Trước mặt tiền của điện thờ cũng là một sân đất lớn và, cũng như đình Nam Chơn, đây là nơi dựng rạp trong các dịp cúng kỳ yên.  Chính tại ngôi đình nầy tôi đã được mẹ tôi cho đi theo để coi những vở tuồng hát bội nổi tiếng của thời đó như tuồng San Hậu, Huê Dung Ðạo, Thần Nữ Dưng Ngủ Linh Kỳ, Trãm Trịnh Ân…, với các cô đào hát bội một thời vang bóng như Cô Năm Ðồ, Cô Cao Long Ngà … Tôi còn nhớ mãi cái không khí ngột ngạt của các đêm hát bội tại đây.  Rạp bằng vải bố, che không cao lắm, bên trong rạp rất chật, và nóng bức.  Sân khấu bằng gổ cũng không cao lắm, và gần như lúc nào cách bài trí cũng giống nhau, dầu là cảnh nhà dân, nhà quan, hay cung vua, cũng chỉ thấy có một cái bàn với hai cái ghế để ở hai bên, cả bàn và ghế đều có tấm phủ mầu sắc đẹp.  Ngay đưới sân khấu, chỉ có hai hay ba hàng đầu là để ghế, các hàng còn lại toàn là băng gổ.  Ngay trước cái ghế ở chính giữa hàng ghế đầu có để một cái trống lớn, và người ngồi ở cái ghế đó thỉnh thoảng cầm cây chầu đánh vào trống mấy cái thùng thùng.  Về sau lớn lên tôi mới biết đó là một vị chức sắc trong đình có nhiệm vụ “cầm chầu” để làm cái việc đánh giá cách trình diễn của các nghệ sĩ trên sân khấu.  Thỉnh thoảng người đi xem cũng tham gia vào việc tán thưởng các nghệ sĩ bằng tiền, họ kẹp tiền vào các cây quạt xếp bằng giấy và liệng quạt lên sân khấu.  Ðoàn hát luôn luôn có người phụ trách đi lượm các cây quạt, gở tiền ra và mang quạt không trả lại cho khán giả.” [11]

    Ngoài tính cách “địa linh” của ngôi đình Sơn Trà cổ kính (có lẽ đã được xây dựng từ đầu thế kỳ 20, đến nay đã có mặt trên dưới một trăm năm), xóm Faucault lại cũng là một vùng đất tương đối có thể gọi là “nhơn kiệt” vì đã sản sinh ra một số nhân vật có tiếng tăm trong lịch sư cận và hiện đại của Miền Nam, cũng như một số khá đông các vị khoa bảng tập trung trong một khu đất thật nhỏ trong xóm.

    Đối diện với căn nhà nơi gia đình tôi sinh sống (số 54) là một căn nhà xưa rất lớn, mang số 47.  Đó là nhà từ đường của gia đình ông Nguyễn Văn Của.  Ông Của là một nhà tư bản Việt có quốc tịch Pháp, chủ nhân nhà in và nhà xuất bản lớn tại Sài Gòn là Imprimerie de l’Indochine (1917-1944), và về sau là Giám Đốc – Chủ Nhơn (Directeur – Propriétaire) của tờ nhựt báo tiếng Việt lớn và sống lâu năm nhứt của Sài Gòn thời bấy giờ (1907-1944) là tờ Lục Tỉnh Tân Văn.[12] Người con trai trưởng của ông Của là ông Nguyễn Văn Xuân, vì có quốc tịch Pháp, đã được gởi đi du học Pháp từ nhỏ, tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa nổi tiếng của Pháp (Ecole Polytechnique), gia nhập quân đội Pháp, và trở thành sĩ quan gốc Việt đầu tiên thăng cấp Thiếu Tướng (Général de Brigade, tướng hai sao) vào năm 1947,[13] với cấp bậc sau cùng là Trung Tướng (Général de Division, tướng ba sao) từ ngày 4-5-1949 [14]  Ông là vị Thủ Tướng đầu tiên của Chính phủ Trung Ương Lâm Thời được thành lập vào ngày 2-6-1948 [15] với cả quốc kỳ là lá cờ vàng ba sọc đỏ, và quốc ca (là bản Thanh Niên Hành Khúc, gốc là bản Tiếng Gọi Sinh Viên do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác từ năm 1941) được các chính phủ Miền Nam sử dụng cho đến ngày 30-4-1975. 

Cựu Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân (1892-1989)

    Hai mươi năm sau, cũng có dính líu đến ngôi nhà số 47 này lại là một vị tướng lãnh nổi tiếng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH).  Một người trong dòng họ của ông Của, được cử làm quản gia, trông nom ngôi nhà từ đường này, có một người con gái lập gia đình với một sĩ quan QLVNCH, tên Nguyễn Viết Thanh, lúc đó còn mang cấp bậc Đại Úy.  Năm 1968, vị Đai Úy đó nay là Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh, Tư Lệnh Quân Đoàn IV.  Ngày 2-5-1970, lúc 1 giờ 40 trưa, trong khi đang thị sát mặt trận tại biên giới Việt-Miên, ông đã tử nạn khi phi cơ trực thăng của ông đụng với một trực thăng Cobra của quân đội Mỹ.  Ông được truy thăng lên Trung Tướng.  Tướng Thanh chính là vị tướng đứng hàng thứ ba trong bốn vị tướng lãnh nổi tiếng thanh liêm của VNCH: “Nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng.” [16] 

Thiếu Tướng Nguyễn Viết Thanh, Tư Lệnh Quân Đoàn IV (1931-1970)

    Cũng chính ngay kế bên ngôi nhà số 47 này, cả 2 hai bên đường, trong một khoảng diện tích độ chừng vài chục mét vuông thôi, phía bên trái là đến căn nhà mang số 51, và bên phải là đến căn biệt thự mang số 56, trong hai thập niên 1950 và 1960 đã có đến 6 vị đỗ Tiến sĩ, một mật độ về khoa bảng có thể nói là vô cùng hiếm có cho bất cứ vùng đất nào trong cả nước.  

Nhớ lại Khoa Thi Hội năm Mậu Tuất (1898), đời Vua Thành Thái, có 5 thí sinh của tỉnh Quảng Nam, cùng đậu Tiến sĩ, khiến nhà vua đã khen và ban tặng tấm biển với 4 chữ Ngũ Phụng Tề Phi [17] (có nghĩa là Năm chim phụng cùng bay).  Đó là các cụ Phạm Liệu (1873-1937), cụ Phan Quang (1873-1938), cụ Phạm Tuấn (1852-1917), cụ Ngô Chuân (1873-1899), và cụ Dương Hiển Tiến (1866-1907), nhưng đó là thành tích của cả một vùng đất rất rộng là tỉnh Quảng Nam.  Trong trường hợp này, chúng ta có được 6 vị Tiến sĩ trong một khu xóm chỉ rộng vài chục mét vuông thôi.  Căn nhà số 51 của một gia đình họ Ngô có được 3 vị Tiến sĩ:  1) Người con trai trưởng là Tiến sĩ Y Khoa Ngô Thiên Khai; 2) Người con gái lớn là một Tiến sĩ Nha Khoa, tôi không còn nhớ tên, và 3) Người con trai út là Tiến Sĩ Y Khoa Ngô Đình Chiến (bạn học cùng khóa với Trung Úy Nguyễn Văn Nhứt đã đề cập bên trên).  Ngôi nhà số 56, của Dược Sĩ Bùi Văn Sách là chủ nhân của nhà thuốc Tây Diệu Tâm tại trung tâm Sài Gòn, ngay ngã tư đường Bonard (sau 1954 là đường Lê Lợi) và đường Charles de Gaulle (sau 1954 là đường Công Lý), thì có được hai người con gái lớn đều là Tiến sĩ Y Khoa.  Và sau hết là ngôi nhà số 54, tức là nhà của gia đình tôi, thì có Anh Tư của tôi, Anh Lâm Vĩnh Tế, đậu Tiến sĩ về Hóa Lý (Ph. D. in Physical Chemistry) tại Đại Học Montréal,thuộc tỉnh bang Québec, Canada vào năm 1967.  

    Kể rộng thêm ra về con người của xóm Faucault, thì ngoài các vị đã kể bên trên, còn phải kể đến vài người sau đây:

  • Ngôi biệt thự số 36, ngó ngang qua con hẽm số 37 đã kể bên trên, là nhà của một vị Tiến sĩ Y Khoa là Bác sĩ Nguyễn Văn Đính, về sau cũng bị trưng tập vào quân đội, và trở thành Trung Tá Y Sĩ của Hải Quân QLVNCH.; phu nhân của Trung Tá Đính là một Giáo sư của Đại Học Khoa Học Sài Gòn
  • Trên đoạn đường Faucault, từ đầu đường đi vào khoảng độ hơn 100 m, phía bên số chẳng, là nhà của ông Lê Văn Tịnh, Thủ môn nổi tiếng của Đội Tuyển Bóng Tròn Miền Nam thời Pháp thuộc.  Chính tên của ông về sau đã được sử dụng như một tỉnh từ hay trạng từ để chỉ những thủ môn xuất sắc của các đội bóng tròn ở trong Nam: “tay đó giữ guôn “tịnh” lắm đó.”  

    Tóm tắt lại, xóm Faucault nhỏ bé của tôi đã cống hiến cho Miền Nam một số công dân với những đóng góp trong các lãnh vực sau đây: 

  • Về chính trị: 1 vị Thủ Tướng Chính phủ
  • Về quân sự: 2 vị Trung Tướng, 1 vị Đại Tá (TQLC), 1 vị Trung Tá (Hải Quân)
  • Về khoa học: 8 vị Tiến sĩ: 6 Y Khoa, 1 Nha Khoa, 1 Hóa Học
  • Về giáo dục: 1 Giáo sư Đại học, và 3 Giáo sư Trung học
  • Về thể thao: 2 vận động viên nổi tiếng: 1 bóng tròn, và 1 xe đạp

Thay Lời Kết:

    Xóm Faucault của tôi thời tôi còn nhỏ cho đến tuổi trưởng thành nay không còn nữa.  Năm 2015, tôi có dịp về thăm lại quê hương, trong thời gian ở Sài Gòn, tôi thuê phòng tại một khách sạn nhỏ trên đường Đặng Dung, nhờ đó, tôi đã có được cơ hội đi bộ một vòng khá lớn, mất khoảng gần 2 giờ đồng hồ trong khu Tân Định – Đakao, qua các con đường Đặng Dung, Trần Quang Khải, Nguyễn Phi Khanh, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Huy Tự (Chợ Đa Kao), Phạm Đăng Hưng, Phan Đình Phùng, và sau cùng là Hai Bà Trưng; sau khi qua khỏi Chợ Tân Định, tôi quẹo phải vào đường Bà Lê Chân, ra lại đường Trần Quang Khải và trở về đường Đặng Dung.  Tôi đã đi bộ suốt con đường Nguyễn Phi Khanh (tức là đường Faucault cũ ngày xưa), từ cuối đường đến tận đầu đường, đi thật chậm để nhìn cho thật kỷ nhà cửa hai bên đường, và tôi đã cảm thấy thật buồn vì gần như không còn nhận ra được căn nhà nào của những thập niên 1940-1950-1960 nữa hết, ngay cả ngôi nhà số 54, nơi tôi đã sống 40 năm từ khi sinh ra năm 1941 cho đến khi rời Việt Nam đi định cư tại Canada năm 1981, cũng đã thay đổi hoàn toàn khiến tôi không còn nhận ra được nữa.  Không phải chỉ có đường Nguyễn Phi Khanh đã thay đổi, mà tất cả những con đường tôi đã đi qua kể trên, đều như vậy hết.

    Với thời gian, bất cứ ở quốc gia nào, các thành phố, các thị trấn, các khu phố, đều phải trải qua những thay đổi.  Đó là một quy luật tự nhiên, không thể tránh được, của sự phát triển về mọi mặt, nhứt là về kinh tế, của các đô thị.  Điều đáng buồn là tại Việt Nam, tai Sài Gòn, hiện nay người ta chỉ nghĩ đến những cái lợi trước mắt về kinh tế, và hoàn toàn không đếm xỉa gì đến các giá trị lịch sử và văn hóa của các kiến trúc cổ kính, đặc biệt là các ngôi đình.  Trong khu Đakao, xóm Faucault của tôi, Đình Sơn Trà, cùng với một số ngôi đình khác trong thành phố, đang trở thành nạn nhân của sự phát triển kiểu bừa bãi đó, như trong bài viết sau đây đã nói khá rõ:

“Là nơi linh thiêng, nhưng hiện nay nhiều ngôi đình, miếu hàng trăm năm tuổi ở TP HCM đang bị “xà xẻo” để làm nơi kinh doanh, buôn bán.” [18]

và với tấm ảnh mới của Đình Sơn Trà như sau:

Đình Sơn Trà đã trở thành cửa hàng kinh doanh vật liệu xây dựng

    Hình ảnh của xóm Faucault của tôi trong khu Đakao, của những ngày tháng cũ, nơi tôi đã sống nửa cuộc đời, với biết bao kỷ niệm vui buồn vẫn còn sống động trong ký ức của tôi, một lão niên đã bước vào tuổi “bát tuần,” đang thật sự phai tàn dần, và sẽ vĩnh viễn đi vào lịch sử của một vùng đất mang đậm tính văn hóa của Miền Nam. 

Viết xong ngày 15-12-2021

Hamilton, Ontario, Canada  

 GHI CHÚ:

  1. Vĩnh Nhơn.  Đakao trong tâm tưởng.  Hamilton, Ont.: Hòai Việt, 2008. 
  2. _________, sđd, tr. 67-70.
  3. _________, sđd, tr. 58-63.
  4. Tiểu sử về thần đồng Quốc Thắng (thập niên 50-60), tài liệu video, có thể truy cập tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.youtube.com/watch?v=LLTrq9PG8Ow
  5. Cỗ Tấn Tinh Châu.  Thủy Quân Lục Chiến VNCH bắt sống quân Trung Cộng tại Hoàng Sa năm 1959, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://aihuubienhoa.com/a5183/tqlc-giu-hoang-sa-co-tan-linh-chau
  6. Đại Tá Cỗ Tấn Tinh Châu, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: http://www.generalhieu.com/dt_cotantinhchau.htm
  7. Trần Đoàn.  Y Sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 2 ND, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://svqy.org/2015/2-2015/ysitruong/ysitruong.html
  8. Lê Văn Châu.  Những quân y sĩ QLVNCH tử trận đầu tiên, tài liệu trực tuyến, có thể đọc tòan văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://dongsongcu.wordpress.com/2016/06/14/nhung-quan-y-si-qlvnch-tu-tran-dau-tien/
  9. Nguyễn Văn Khôi.  Đời lính chiến, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://www.tvvn.org/doi-linh-chien-nguyen-van-khoi/
  10. Vĩnh Nhơn, sđd, tr. 121-127.
  11. Vĩnh Nhơn, sđd, tr. 123-124. 
  12. Lâm Vĩnh Thế.  Lục Tỉnh Tân Văn: một trong những tờ báo sống lâu nhứt của Nam Kỳ trước năm 1945, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây:  https://tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.com/2016/07/luc-tinhtan-van-mot-trongnhung-to-bao.html
  13. Nguyễn Văn Xuân (trung tướng), tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nguy%E1%BB%85n_V%C4%83n_Xu%C3%A2n_(trung_t%C6%B0%E1%BB%9Bng)
  14. Đoàn Thêm.  Hai mươi năm qua: việc từng ngày (1945-1964); tựa của Lãng Nhân.  Los Alamitos, Calif.: Xuân Thu tái bản, [1979], tr. 54.
  15. Đoàn Thêm, sđd, tr. 44.
  16. Lâm Vĩnh Thế.  “Nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng,tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://tuyen-tap-vinh-nhon-lam-vinh-the.blogspot.com/2016/12/nhut-thang-nhi-chinh-tam-thanh-tu-truong.html
  17. Ngũ Phụng Tề Phi, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C5%A9_Ph%E1%BB%A5ng_T%E1%BB%81_Phi 
  18. Hữu Công.  Đình miếu trở thành lò bánh mì, trung tâm thể hình, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: https://vnexpress.net/dinh-mieu-tro-thanh-lo-banh-mi-trung-tam-the-hinh-2203085.html