Cuộc Chỉnh Lý Ngày 30-1-1964 của Trung Tướng Nguyễn Khánh

Lâm Vĩnh Thế

30-1-1964. – Sáng hôm nay, nhiều ngã đường bị Quân-đội canh gác, với cả chiến xa.  Dân-chúng đồn có đảo-chánh.  Các Tướng lãnh họp tại Bộ Tổng-Tham-Mưu để thanh trừng nội bộ.  Hội-Đồng Quân-Nhân Cách-Mạng ra Quyết-định chấm dứt nhiệm-vụ của Ban Chấp-Hành Hội-Đồng thành lập ngày 1-11-1963.  Trung-Tướng Nguyễn Khánh ra Tuyên-Cáo giải thích vụ biến-cố: từ 3 tháng nay, tình-hình suy xụp về mọi mặt, “chánh-quyền tỏ ra bất-lực và phản Cách-Mạng,” một số người chạy theo Thực-dân và Cộng-sản; nên một lần nữa, Quân-Đội lại phải can thiệp.  Các Trung-Tướng Trần-văn-Đôn, Lê-văn-Kim, Tôn-thất-Đính, Mai-hữu-Xuân đã bị bắt giữ từ đêm qua.  Th.T. Nguyễn-Ngọc-Thơ cũng bị bắt nhưng tới sáng đã được phóng thích.

31-1-1964. – Trung-Tướng Nguyễn Khánh họp báo tại Bộ Tổng-Tham-Mưu, giải thích không có đảo-chính, chỉ có cuộc Chỉnh-Lý để Chánh-quyền theo đúng đường lối Cách-Mạng.  Và tuyên bố: được Hội-Đồng Quân-Nhân Cách-Mạng cử làm Chủ-Tịch, kiêm Tổng-Tư-Lịnh Quân Đội.

(Trích dẫn: Đoàn Thêm.  Hai mươi năm qua: việc từng ngày (1945-1964). Los Alamitos, Calif: Xuân Thu xuất bản, 1989?, tr. 378-379)

Cuộc đảo chánh được gọi là Chỉnh Lý của Trung Tướng Nguyễn Khánh xảy ra đúng 3 tháng sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963 lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm là một biến cố chính trị rất bất ngờ đối với người đương thời.  Chiêu bài được Tướng Khánh đưa ra để biện minh cho cuộc Chỉnh Lý là để ngăn chận âm mưu trung lập hóa Miền Nam của các tướng lãnh thân Pháp. Bây giờ hơn 40 năm đã trôi qua, với nhiều tài liệu mật đã được bạch hóa, bài viết nầy cố gắng tìm hiểu cho thật đúng bản chất của biến cố chính trị quan trọng nầy.

1. Nguyên Nhân Của Cuộc Chỉnh Lý

1.1. Chia Rẻ Nội Bộ Trong HÐQNCM

Sau khi thành công trong việc lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm, Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng (HÐQNCM) công bố thành phần như sau:

Chủ Tịch:                                                 Trung Tướng Dương Văn Minh

Ðệ nhất Phó Chủ Tịch:                         Trung Tướng Trần Văn Ðôn

Ðệ nhị Phó Chủ Tịch:                                  Trung Tướng Tôn Thất Ðính

Ủy Viên Quân Sự:                                        Trung Tướng Trần Thiện Khiêm

Ủy Viên Kinh Tế:                                          Trung Tướng Trần Văn Minh

Ủy Viên An Ninh:                                         Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu

Ủy Viên Chính Trị:                                       Thiếu Tướng Ðỗ Mậu

Tổng Thơ Ký kiêm Ủy Viên Ngoại Giao:   Trung Tướng Lê Văn Kim

Ủy Viên:                                                          Trung Tướng Mai Hữu Xuân

Ủy Viên:                                                          Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu

Ủy Viên:                                                          Trung Tướng Lê Văn Nghiêm

Ủy Viên:                                                          Thiếu Tướng Nguyễn Hữu Có 1

Bên ngoài HÐQNCM có vẽ là một khối đoàn kết sau lưng Trung Tướng Dương Văn Minh nhưng bên trong sự chia rẽ nội bộ đã xảy ra ngay ngày hôm sau khi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và bào đệ của ông là Cố Vấn Ngô Ðình Nhu bị giết chết bên trong chiếc Thiết Vận Xa M113 mà HÐQNCM cho đi đón hai ông về Bộ Tổng Tham Mưu.  Trung Tướng Trần Thiện Khiêm đã tâm sự vào ngày 2-11-1963 với một người bạn thân là ông Huỳnh Văn Lang như sau: “Tụi nó giết ông Cụ, tôi không làm sao ngăn cản được. Từ hôm qua, Minh toàn quyền quyết định tất cả, Ðôn Kim Ðính Ðỗ Mậu đồng lòng như vậy. Tụi nó còn muốn làm thịt tôi luôn nữa.”2 Mấy ngày sau, cũng chính Tướng Khiêm đã nói như sau: “Thôi, chuyện đã qua rồi, thương tiếc cũng không làm gì cho Ông Cụ, ông Nhu được nữa. Nhưng còn nữa, chưa hết đâu !”3 Tướng Khiêm cũng bất mãn vì ông đã không được HÐQNCM cử nhiệm vào chức vụ quan trọng nào cả.  Sau nầy, trong cuộc Chỉnh Lý của Tướng Khánh, chính Tướng Khiêm mới thật sự là người chủ mưu, như tiết lộ sau đây của Tướng Nguyễn Chánh Thi trong hồi ký của ông: “Ðến sáng ra, gặp lại các tay cầm đầu đảo chánh, tôi mới vỡ lẽ ra rằng vai chánh của âm mưu nầy không phải Nguyễn Khánh, mà vai chánh lại là Trần Thiện Khiêm, Tư Lệnh Quân đoàn III.”4

Thiếu Tướng Ðỗ Mậu, Ủy Viên Chính Trị của HÐQNCM, trong một cuộc gặp gở với nhân viên CIA (Central Intelligence Agency – Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ) vào ngày 9-11-1963, đã tiết lộ là nội bộ HÐQNCM đã chia làm hai phe, một phe thân Pháp và một phe thân Mỹ.5  Thiếu Tướng Mậu cũng cho biết ông rất lo ngại việc Tướng Mai Hữu Xuân đã đưa nhiều cá nhân thân Pháp vào các chức vụ cảnh sát trưởng ở các quận tại Sài Gòn.6   Ngoài ra, Tướng Mậu cũng có thể bất mãn thêm do việc ông bị loại khỏi chức vụ Giám Ðốc Nha An Ninh Quân Ðội; Thiếu Tướng Nguyễn Văn Quan, một người bạn thân của Trung Tướng Dương Văn Minh được bổ nhiệm vào chức vụ nầy.7

Phần Tướng Khánh thì ông cũng bất mãn sau khi bị HÐQNCM điều động ông từ Vùng 2 (Cao Nguyên Trung Phần) sang Vùng 1 (cực Bắc của VNCH, ngay sát phía Nam vĩ tuyến 17 và vùng Phi Quân Sự).  Nhưng rõ ràng là Tướng Khánh, vì không trực tiếp chỉ huy các đơn vị đồn trú trong khu vực thủ đô, đã không thể nào thực hiện được cuộc đảo chánh nếu không có trợ giúp của các tướng Trần Thiện Khiêm, Tư Lệnh Vùng 3 (bao gồm cả thủ đô Sài Gòn),  Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh tại Biên Hòa, ngay bên ngoài Sài Gòn, và Nguyễn Hữu Có, Tư Lệnh Vùng 4 trong đó có Sư Ðoàn 7 Bộ Binh.  Sư Ðoàn nầy, dưới quyền Tư Lệnh của Tướng Lâm Văn Phát, đã tham gia vào cuộc đảo chánh ngày 30-1-1964.

1.2.  Mâu Thuẩn Giữa Chính Phủ Hoa Kỳ Và HÐQNCM

Sau đảo chánh 1-11-1963, tuy có sự căng thẳng giữa các tướng lãnh của HÐQNCM và Ðại Tướng Paul Harkins, Trưởng MAAG (Military Assistance Advisory Group = Phái Bộ Cố Vấn Quân Sự; về sau đổi tên thành MACV =  Military Assistance Command, Vietnam = Bộ Tư Lệnh Viện Trợ Quân Sự Tại Việt Nam) vì Tướng Harkins chống lại việc lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, quan hệ giữa các giới chức Hoa Kỳ,  đặc biệt là Ðại sứ Lodge, với HÐQNCM rất tốt đẹp nhưng mối quan hệ tốt đẹp nầy không kéo dài được bao lâu.    

Ngay từ tháng 12-1963, đã có nhiều báo cáo cho rằng HÐQNCM đã không hoạt động đúng mức như người ta–tức là Chính phủ Hoa Kỳ–mong muốn.8 Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara, trong buổi họp với Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ và các thành viên lãnh đạo của HÐQNCM vào tháng 12-1963, đã có những đề nghị, khuyến cáo một số thay đổi về cách làm việc đối với các tướng lãnh; những đề nghị nầy đã được các tướng lãnh chấp thuận và thi hành.  Tuy nhiên cũng có nhiều khuyến cáo khác, quan trọng hơn rất nhiều, đã bị các tướng lãnh cương quyết bác bỏ.  Quan trọng nhứt trong các khuyến cáo bị bác bỏ nầy là: 1) việc Hoa Kỳ đề nghị đưa sĩ quan cố vấn xuống đến cấp đại đội và chi khu (cấp quận), và 2) dội bom Bắc Việt.  Tướng Minh đã cương quyết bác bỏ đề nghị thứ nhứt; ông cho rằng làm như thế sẽ giúp cho Việt Cộng dễ tuyên truyền hơn và làm cho viên chức Việt Nam có vẽ như tay sai của người Mỹ.9, 10  Ðề nghị dội bom Bắc Việt cũng bị Tướng Minh bác bỏ; ông nêu ra lý do: 1) Việc dội bom nầy sẽ không có kết quả tốt, trái lại sẽ gây tổn thương cho thường dân vô tội; 2) Việc dội bom Bắc Việt sẽ làm cho Miền Nam mất chính nghĩa trong cuộc chiến tranh tự vệ nầy.11  Riêng cá nhân Ðại sứ Lodge thì ông không hài lòng vì Tướng Minh từ chối không chịu họp hàng tuần với ông để bàn về các vấn đề chính sách cũng như công việc.12

Tướng Harkins, do việc ông đã có ác cảm với HÐQNCM, đã có những hành động tích cực giúp vào việc thực hiện âm mưu đảo chánh của Tướng Nguyễn Khánh.  Chính ông đã ra lệnh cho Ðại Tá Wilson, Cố Vấn Trưởng Hoa Kỳ tại Vùng I, báo cáo sự việc nầy cho Ðại sứ Lodge, và cũng chính ông cho phép Ðại Tá Wilson, trực tiếp dưới quyền ông, được tham gia vào vụ đảo chánh, và chính vì thế Ðại Tá Wilson cũng đã có mặt tại bộ chỉ huy của lực lượng đảo chánh vào lúc sáng sớm ngày 30-1-1964.13, 14

Trên tất cả những điều nầy, ta còn cần phải thấy rằng người Mỹ đang thay đổi chính sách của họ về VN: họ chuẩn bị leo thang chiến tranh tại Việt Nam.  Ta thử tìm hiểu xem chính sách về Việt Nam của chính phủ Hoa Kỳ đã có những thay đổi gì trong giai đoạn cuối 1963 và đầu 1964 nầy.

Chỉ bốn ngày sau khi tuyên thệ nhậm chức trên chiếc phi cơ chở quan tài của Tổng Thống John. F. Kennedy vừa bị ám sát tại Dallas về thủ đô Washington, ngày 26-11-1963, Tổng Thống Lyndon B. Johnson đã ký ban hành NSAM 273 (NSAM = National Security Action Memorandum) tái xác định chủ trương của chính phủ Hoa Kỳ trong việc bảo vệ Miền Nam.  Ðiều 1 của NSAM 273 ghi rõ như sau: “It remains the central object of the United States in South Vietnam to assist the people and Government of that country to win their contest against the externally directed and supported Communist conspiracy.”  Ði xa hơn Ðiều 1 nầy, Ðiều 7 nói lên chủ trương leo thang chiến tranh của Hoa Kỳ, mở rộng chiến tranh ra Miền Bắc: “Planning should include different levels of possible increased activity, and in each instance there should be estimates of such factors as: A. Resulting damage to North Vietnam;…”15

Ðể thực thi NSAM 273, Chính phủ Hoa Kỳ đã liên tiếp có những chuẩn bị cho việc leo thang chiến tranh tại Việt Nam, cụ thể là những sự việc sau đây:

* 19-12-1963: Tổng Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương (CINCPAC = Commander-In-Chief, Pacific) đã duyệt xét lại kế hoạch OPLAN 34-63, đã được Bộ Tham Mưu Liên Quân (JCS = Joint Chiefs of Staff) chấp thuận từ 9-9-1963, đổi tên kế hoạch thành OPLAN 34-A và đệ trình lên Tổng Thống Johnson.  Theo kế hoạch nầy, các toán biệt hải của VNCH, do Hoa Kỳ huấn luyện, sẽ xâm nhập vào các vùng duyên hải của Bắc Việt để thực hiện các công tác phá hoại.

* 19 và 20-12-1963: Bộ Trưởng Quốc Phòng McNamara sang duyệt xét tình hình tại Việt Nam; báo cáo của McNamara rất bi quan về tình hình quân sự tại VNCH; ông nhận định như sau: ‘chiều hướng hiện nay, trừ phi ta đảo ngược lại được trong vòng 2-3 tháng tới, sẽ đưa đến việc trung lập hóa hoặc một quốc gia do Công sản kiểm soát.’ 16   Ông đưa ra hai khuyến cáo: 1) Phải tăng thêm số cố vấn; và 2) Phải tăng cường công tác tình báo.  Cả hai khuyến cáo đều được Tổng Thống Johnson chấp thuận.

* 21-12-1963: Tổng Thống Johnson cử Tướng Krulak cầm đầu một ủy ban liên bộ để duyệt xét Kế Hoạch OPLAN 34-A.

* 2-1-1964: Ủy ban liên bộ nộp báo cáo lên Tổng Thống Johnson, chấp thuận và đề nghị thực hiện Kế Hoạch OPLAN 34-A. 

* 16-1-1964: Tổng Thống Johnson chấp thuận báo cáo của ủy ban liên bộ nầy.

* Mấy ngày sau, Tổng Thống Johnson cho thành lập Ủy Ban Ðiều Hợp Việt Nam (Vietnam Coordinating Committee) và cử William Sullivan đứng đầu để thay thế cho Ủy Ban Ðặc Nhiệm Việt Nam (Vietnam Task Force).17

Ðến đây ta đã thấy rõ là Hoa Kỳ đã quyết tâm leo thang chiến tranh tại Việt Nam và họ cần có một chính phủ VNCH và những tướng lãnh sẳn sàng tuân theo những khuyến cáo – thật ra là những đòi hỏi – của họ.  HÐQNCM do Trung Tướng Dương Văn Minh lãnh đạo và chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ không phải là những công sự viên tốt đối với kế hoạch leo thang chiến tranh nầy.  Họ cần và muốn có thay đổi về nhân sự tại cấp lãnh đạo của VNCH.       

1.3.  Bất Mãn Của Một Số Chính Khách

Sau khi lật đổ xong chế độ Ngô Ðình Diệm, HÐQNCM, sau một thời gian tham khảo rộng rãi, đã cho thành lập Hội Ðồng Nhân Sĩ (NÐNS) vào ngày 19-12-1963 với 60 hội viên, “đại diện toàn thể các đảng phái chống Cộng.”18 Ngoài các đại diện của các giáo phái Phật Giáo, Công Giáo, Cao Ðài, và Hòa Hảo, 13 trong số 18 vị của Nhóm Caravelle19 cũng được chọn làm hội viên của Hội Ðồng.  Tại phiên họp đầu tiên của Hội Ðồng vào ngày 2-1-1964, Trung Tướng Dương Văn Minh đã phác họa một cách tổng quát nhiệm vụ của Hội Ðồng là cố vấn Chính phủ về các vấn đề “duyệt lại Hiến Pháp, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, và tiến tới hình thành một khối đối lập hợp pháp và xây dựng.”20

Những chính khách không được HÐQNCM mời vào HÐNS, trong đó có một số thuộc đảng Ðại Việt, như bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn (hệ phái Miền Nam), Hà Thúc Ký (hệ phái Miền Trung), dĩ nhiên là bất mãn với chế độ mới.  Một số khác thì không hài lòng với việc Trung Tướng Dương Văn Minh mời ông Nguyễn Ngọc Thơ, Phó Tổng Thống của chế độ Ngô Ðình Diệm, làm Thủ Tướng.  Các chính khách thuộc giáo phái Hòa Hảo thì chưa quên được vai trò của ông Thơ trong vụ sát hại Tướng Ba Cụt.  Nhiều chính khách cũng tỏ ý lo ngại về việc chính quyền mới còn sử dụng nhiều nhân vật của chế độ cũ.

1.4  Vấn Ðề Trung Lập Hóa Miền Nam

Trong hoàn cảnh chính trị tương đối phức tạp và chia rẽ như vậy thì vấn đề trung lập hóa Miền Nam lại được chính phủ Pháp của Tướng De Gaulle đưa ra và cổ vũ.  Ngày 20-11-1963, Thủ Tướng Sihanouk của Cao Miên tuyên bố yêu cầu Hoa Kỳ chấm dứt viện trợ cho Cao Miên.21  Hai ngày sau đó ông tuyên bố yêu cầu quốc tế triệu tập lại Hội Nghị Genève để bàn về vấn đề trung lập hóa Ðông Dương.  Nội các của Thủ Tướng Thơ lại bao gồm rất nhiều vị Tổng, Bộ Trưởng là những người được đào tạo tại Pháp nên bị mang tiếng là thân Pháp, và do đó, có thể có khuynh hướng thân trung lập.  Ngay trong HÐQNCM, các tướng Ðôn, Kim và Xuân, nhứt là tướng Ðôn vì đã từng có quốc tịch Pháp, đều bị nghi ngờ thân Pháp và có chủ trương trung lập.  Báo chí Sài Gòn đã rầm rộ đăng tin và viết bài về vấn đề trung lập hóa Miền Nam khiến Trung Tướng Dương Văn Minh phải họp báo vào ngày 9-12-1963 để cảnh cáo giới báo chí về việc nầy.  Dĩ nhiên Chính phủ Hoa Kỳ không hài lòng chút nào với viễn tượng trung lập hóa Miền Nam vì điều nầy đi ngược lại với chủ trương leo thang chiến tranh tại Việt Nam của họ.  Trung Tướng Nguyễn Khánh sẽ dùng chiêu bài chống trung lập để được sự ủng hộ của Hoa Kỳ trong việc thực hiện cuộc Chỉnh Lý  của ông. 

2.  Diễn Tiến Của Cuộc Chỉnh Lý

2.1.  Sơ Lược Tiểu Sử Tướng Nguyễn Khánh

Trung Tướng Nguyễn Khánh đã giữ một vai trò chế ngự trên chính trường Miền Nam trong hơn một năm, từ ngày 30-1-1964 khi ông thực hiện thành công cuộc Chỉnh Lý cho đến ngày 25-2-1965 khi ông bị buộc phải ra khỏi Việt Nam.  Trong thời gian ngắn ngủi nầy, ông đã tạo ra những khuôn mặt chính khách chưa từng xuất hiện trong giai đoạn trước khi ông nắm chính quyền và vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lớn đối với chính truờng Miền Nam một thời gian rất lâu sau khi ông đã ra đi.  Chúng ta cần biết về cuộc đời của ông để có thể hiểu được một phần nào những hành động của ông.

Tướng Nguyễn Khánh sanh tháng 11 năm 1927 tại tỉnh Trà Vinh (sau nầy đổi tên là Vĩnh Bình).  Cha của ông, cụ Nguyễn Bửu, là một điền chủ giàu có.  Ông theo học ở bậc Trung học tại Cao Miên (1938-1944).  Ông được cho làm con nuôi của nữ nghệ sĩ cải lương nổi danh Phùng Há.  Vào năm 17 tuổi, ông bỏ nhà theo Việt Minh để kháng chiến chống Nhựt.  Chẳng bao lâu sau, ông rời bỏ hàng ngũ Việt Minh và theo học trường Võ Bị của Pháp mới thành lập ở Ðà Lạt và tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy vào năm 1947.  Sau đó ông được cử sang Pháp theo học các khóa bộ binh và nhảy dù.  Trở về nước, ông tham gia các cuộc hành quân chống lại Việt Minh và bị thương hai lần trong thời gian nầy (1949-1954).

Ông thăng cấp khá nhanh trong quân đội quốc gia nhờ có sự nâng đỡ đặc biệt của Tướng Nguyễn Văn Hinh lúc đó là Tổng Tham Mưu Trưởng của Quân Ðội Quốc Gia. Trong thời gian Tướng Hinh chống đối Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm và thành lập Ðảng Con Ó thì ông Khánh cũng là một đảng viên của đảng nầy.  Sau khi Tướng Hinh bị loại ra khỏi Việt Nam thì ông Khánh, lúc đó đã mang cấp bậc Trung Tá, quay lại phục vụ Thủ Tướng Diệm và được bổ nhiệm Tỉnh Trưởng Cần Thơ vào tháng 2/1955.  Tháng 9/1955, ông là Tư Lệnh Phó Chiến dịch Hoàng Diệu dưới quyền Ðại Tá Dương Văn Minh. Sau khi toàn thắng, tiêu diệt được tàn quân Bình Xuyên tại Rừng Sát, ông thăng cấp lên Ðại Tá và được bổ nhiệm Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.  Năm 1957, ông được cử sang Hoa Kỳ để theo học khóa tham mưu cao cấp.  Về nước, ông thăng cấp Thiếu Tướng năm 1960 và được bổ nhiệm Tư Lệnh Quân Khu 5.  Ðến tháng 10 năm 1960, ông được bổ nhiệm Tham Mưu Trưởng Liên Quân.22

Khi xảy ra vụ đảo chánh của lực lượng nhảy dù vào ngày 11-11-1960, ông đã có công giúp kéo dài cuộc đàm phán với phe đảo chánh để cho Ðại Tá Trần Thiện Khiêm kịp thời mang quân Sư Ðoàn 7 Bộ Binh từ Vùng 4 về giải cứu chế độ.  Sau vụ nầy, ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn 2 (Cao Nguyên Trung Phần).

Trong cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963, ông cũng đã ủng hộ HÐQNCM (vào giờ chót) và nghĩ rằng mình sẽ được tưởng thưởng xứng đáng.  Tuy nhiên, HÐQNCM không tin tưởng ông và mặc dù cũng cho ông thăng cấp lên Trung Tướng23 nhưng quyết định thuyên chuyển ông từ Quân Ðoàn 2 ra Quân Ðoàn 1 (hoán chuyển với Tướng Ðỗ Cao Trí).  Ông rất tức giận đối với quyết định nầy và bắt đầu âm mưu chống lại HÐQNCM. Người cộng tác chính của ông trong âm mưu nầy là Tướng Trần Thiện Khiêm, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3, cũng là người bất mãn đối với HÐQNCM.

Qua sơ lược tiểu sử nầy, ta thấy rất rõ một điều về bản chất của Tướng Nguyễn Khánh: ông là một con người thời cơ chủ nghĩa, hoàn toàn chỉ hành động cho quyền lợi của bản thân mình, và vì thế lúc nào cũng sẵn sàng thay đổi lập trường, phe phái, thậm chí có thể đi đến chỗ phản phé, trở cờ, làm thế nào có lợi cho cá nhân mình mà thôi.  Sau khi lên nắm chính quyền, cá tính nầy của ông càng lộ rõ hơn nữa, và chính nó sẽ đưa ông đến chỗ thất bại và bị loại bỏ.

2.2.  Các Chuẩn Bị Của Hoa Kỳ Cho Cuộc Chỉnh Lý

Như đã trình bày bên trên, ngay từ trong báo cáo của Tổng Trưởng Quốc Phòng McNamara ngày 21-12-1963, sau cuộc viếng thăm VNCH trong hai ngày 19 và 20-12-1963, sự lo ngại về vấn đề trung lập hóa Miền Nam đã được ghi nhận.  Các giới chức Hoa Kỳ tại Sài Gòn, đặc biệt là ở hai bộ phận tình báo (qua tổ CIA tại Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn – CIA = Central Intelligence Agency = Cơ Quan Trung Ương Tình Báo) và quân sự (qua Cơ quan MAAG mà người đứng đầu là Tướng Harkins), đã khai thác vấn đề chính trị nầy để khoét sâu thêm mâu thuẫn giữa Chính phủ Hoa Kỳ và HÐQNCM, và tạo lý do chính đáng cho cuộc đảo chánh của Tướng Khánh.

Việc HÐQNCM cho phép Trung Tá Trần Ðình Lan hồi hương từ Pháp đã được CIA báo cáo như sau trong một công điện mật: “Trung Tá Trần Ðình Lan, mới từ Paris về, theo tố cáo của vị Ðại Tá đã đi đón ông ta tại phi trường, đã được chính phủ Pháp cho phép sử dụng một số tiền rất lớn (hai tỷ đồng VN) để thực hiện trung lập hóa Miền Nam.  Nguồn tin nầy cũng báo cáo là ông Lan đã được đưa về Miền Nam theo yêu cầu của các tướng Trần Văn Ðôn và Lê Văn Kim.”24 Ðây là một lời buộc tội trực tiếp và nêu đích danh hai vị tướng lãnh là thành viên rất quan trọng của HÐQNCM.  Công điện nầy cũng nêu đích danh một vị tướng thứ ba trong HÐQNCM, đó là Trung Tướng Mai Hữu Xuân, lúc đó đang đứng đầu ngành cảnh sát và công an tại Miền Nam.

Người Mỹ hiểu rất rõ là bất cứ cuộc đảo chánh nào muốn thành công thì nhóm đảo chánh phải lôi kéo được vị Tư Lệnh Vùng 3 về phe mình.  Lý do rất đơn giản: Vùng 3 bao gồm thủ đô Sài Gòn và các tỉnh chung quanh.  Vùng 3, sau cuộc đảo chánh lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm, vẫn nằm trong tay của Tướng Ðính.  Họ phải tìm mọi cách để cho Tướng Ðính không còn làm Tư Lệnh Vùng 3 nữa.  Vì thế Tướng Harkins và Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã liên tục làm áp lực về việc Trung Tướng Tôn Thất Ðính khó hoàn thành được nhiệm vụ vì cùng lúc giữ hai chức vụ quan trọng: Tổng Trưởng An Ninh và Tư Lệnh Vùng 3.  Khi phái đoàn Tổng Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Mcnamara sang viếng thăm VNCH vào ngày 19-12-1963 thì vấn đề nầy lại được chính Tổng Trưởng McNamara nêu ra một lần nữa.  Kết quả là ngày 5-1-1964, HÐQNCM ra quyết định chấm dứt nhiệm vụ Tư Lệnh Vùng 3 của Tướng Ðính và giao cho Trung Tướng Trần Thiện Khiêm đãm nhận chức vụ nầy.25

Khi cuộc đảo chánh sắp xảy ra thì một chuyện khó khăn nữa cũng cần phải được giải quyết nếu không cuộc đảo chánh sẽ khó thành công.  Ngày 28-1-1964, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh ra lệnh cho Trung Tá Dương Hiếu Nghĩa, lúc đó đang giữ chức vụ Quyền Tư Lệnh Binh Chủng Thiết Giáp, mang tất cả các đơn vị thiết giáp ra khỏi thủ đô và tập trung về Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 ở Biên Hòa.  Trung Tá Nghĩa nghi ngờ ngay là Tướng Thiệu âm mưu đảo chánh, lật đổ Trung Tướng Dương Văn Minh nên ông trả lời ngay là ông ủng hộ Tướng Minh, đồng thời từ chối yêu cầu của Tướng Thiệu viện cớ là các xe thiếp giáp đang sửa chửa, không sử dụng được.  Tuy nhiên, chỉ một ngày sau, 29-1-1963, Trung Tá Nghĩa thay đổi lập trường, thi hành lệnh của Tướng Thiệu, và ngày hôm sau nữa, 30-1-1964, ông tham gia vào cuộc đảo chánh của Tướng Khánh.26  Việc gì đã xảy ra vào ngày 28-1-1964 sau khi Trung Tá Nghĩa trả lời Tướng Thiệu và làm cho Trung Tá Nghĩa thay đổi lập trường vào ngày hôm sau như vậy ?  Trong một công điện Tướng Harkins gởi cho Tướng Taylor –Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, cấp chỉ huy trực tiếp của Tướng Harkins — ngay sau cuộc đảo chánh ngày 30-1-1964, Tướng Harkins báo cáo là hai ngày trước đó, tức là ngày 28-1-1964, vào khoảng 3 giờ chiều, ông được Ðại Tá Wilson, Cố Vấn Trưởng Quân Ðoàn I, báo cho biết kế hoạch đảo chánh của Tướng Khánh, ông đã ra lệnh cho Ðại Tá Wilson sang gặp và báo cho Ðại sứ Lodge biết về âm mưu đảo chánh nầy, và sao đó, ông — tức Tướng Harkins – đã đi công tác (nguyên văn a fieldtrip).  Theo tác giả George McT. Kahin của quyển sách Intervention: How America Became Involved In Vietnam, một trong những ưu tiên hàng đầu trong chuyến công tác nầy của Tướng Harkins có lẻ là thuyết phục Trung Tá Nghĩa thay đổi lập trường để theo phe đảo chánh.27

Về phần Ðại Tá Wilson, được sự đồng ý của Tướng Harkins, cấp chỉ huy trực tiếp của ông, thì ông đã có mặt bên cạnh Tướng Khánh tại bộ chỉ huy của phe đảo chánh, và báo cáo cho Ðại sứ Lodge từng giờ từng phút các diển tiến của cuộc đảo chánh.28

2.3.  Các Chuẩn Bị Của Tướng Khánh Cho Cuộc Chỉnh Lý

Ngay từ giữa tháng 12-1963, Tướng Khánh đã thảo luận chuyện đảo chánh với Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Phó của ông tại Quân Ðoàn I (ông Thi về sau lên đến cấp Trung Tướng và chức vụ cuối cùng của ông là Tư Lệnh Quân Ðoàn I).  Sau đó Tướng Khánh cử Ðại Tá Thi vào Sài Gòn để tìm hiểu tình hình.  Trong khi đó thì đích thân Tướng Khánh cũng vào Sài Gòn rất nhiều lần để móc nối những phần tử bất mãn với HÐQNCM để lôi kéo họ vào kế hoạch đảo chánh.  Trong hồi ký của mình, Việt Nam: Một Trời Tâm Sự, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi đã mỉa mai các vị lãnh đạo của HÐQNCM như sau: “Cũng vì ông Khánh chuẩn bị làm nên sự đi lại Saigon-Ðà Nẵng ngày càng dồn dập.  Thế mà các nhà cách mạng ở Saigon chỉ lo hưởng thụ, ăn chơi và chia chác, chẳng hề biết gì cả.”29  Và một lần nữa, bàn tay lông lá của CIA lại nhúng vào âm mưu đảo chánh nầy tại Miền Nam, và nhân vật CIA đó cũng chẳng ai khác hơn là Trung Tá Lucien Conein, như Tướng Thi đã ghi lại trong hồi ký của ông như sau: “Trong buổi đón tiếp phái đoàn Saigon ra, tại Câu lạc bộ Ðập Ðá, Huế, tôi thấy có rất nhiều khách ngoại quốc, phần nhiều là quân nhân và nhân viên tình báo.  Tôi hiện diện qua loa trong buổi tiệc cho có lệ, rồi chuồn về tòa nhà vãng lai, tìm chỗ nghĩ lưng.  Chẳng dè mới thò đầu vào thì đã thấy lù lù một ông Mỹ ngồi chờ sẵn: đó là ông Lu Conein, trùm mật vụ Mỹ, người đã dẫn dắt Trần Văn Ðôn hoàn thành bộ máy đảo chánh 1-11-63. Tôi dè dặt hỏi: – Ông đến đây để làm gì ? (Tiếng Pháp); Ông ta thủng thẳng đáp: – Khánh mời tôi ra đây, hình như có chuyện gì cơ mật.  Thì ra Lu Conein ngồi đợi tướng Khánh chớ không phải đợi tôi. Tôi bỏ mặc ông ta ngồi đó, đi tìm chỗ nằm. Ông ta ngồi gác chân lên bàn, đợi cho đến lúc mãn tiệc, gặp Khánh xầm xì to nhỏ với nhau.’’30

Tướng Khánh đã thành công trong việc móc nối và tập hợp được một số khá đông các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp tư lệnh một số đại đơn vị như sau:

– Trung Tướng Trần Thiện Khiên, Tư Lệnh Quân Ðoàn 3

– Thiếu Tướng Ðỗ Mậu, Tổng Trưởng Thông Tin

– Thiếu Tướng Dương Văn Ðức, Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng Ðặc Trách Quân Huấn 

– Thiếu Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh

– Thiếu Tướng Lâm Văn Phát, Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 Bộ Binh

– Ðại Tá Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn I

– Ðại Tá Cao Văn Viên, Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhảy Dù

– Ðại Tá Huỳnh Văn Tồn, Tỉnh Trưởng Gia Ðịnh

– Ðại Tá Nhan Minh Trang, Chánh Võ Phòng của Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ

– Trung Tá Dương Hiếu Nghĩa, Quyền Tư Lệnh Thiết Giáp

– Thiếu Tá Phạm Văn Liễu, Phụ Tá Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh 31

2.4.   Cuộc Chỉnh Lý

Ngày 28-1-1964, Tướng Khánh báo cho Ðại Tá Jasper Wilson, Cố Vấn Trưởng Quân Ðoàn I biết ý định đảo chánh của ông.  Lý do được đưa ra là: các tướng lãnh thân Pháp, chủ trương Trung Lập, do Trung Tướng Mai Hữu Xuân cầm đầu, sẽ đảo chánh vào ngày 31-1-1964 và sau đó sẽ tuyên bố trung lập hóa Miền Nam; để ngăn chận việc nầy xảy ra ông sẽ ra tay trước và sẽ đảo chánh vào ngày 30-1-1964.32

Ngày 29-1-1964 Tướng Khánh và Bộ Tham Mưu Quân Ðoàn I của ông bay từ Ðà Nẵng vào Sài Gòn bằng phi cơ dân sự của Hàng Không Việt Nam vào lúc 2 giờ chiều.  Ðại Tá Thi đi bằng một phi cơ trực thuộc Quân Ðoàn I, cùng với Trung Tá Trang Văn Chính, Chỉ Huy Trưởng Bảo An và Dân Vệ Vùng I, Ðại Úy Nguyễn Mộng Hùng và một số quân cảnh.  Chiều hôm đó, Ðại Tá Thi đi liên lạc và móc nối được với một số đơn vị Biệt Ðộng Quân và Thủy Quân Lục Chiến đang có mặt tại thủ đô; các đơn vị nầy đều đồng ý tham gia đảo chánh. Ðến 5 giờ chiều thì Ðại Tá Thi đến họp với Tướng Khánh tại nhà riêng của Tướng Khánh trong khu vực Bộ Tổng Tham Mưu. Tại đây đã có mặt Thiếu Tướng Dương Văn Ðức và sau đó là Thiếu Tướng Ðỗ Mậu cũng đến họp.

Khoảng 3 giờ sáng ngày 30-1-1964, một toán quân xuất phát từ nhà Tướng Khánh tiến vào chiếm Bộ Tổng Tham Mưu và không gặp một sự kháng cự nào cả.  Sau khi chiếm xong Bộ Tổng Tham Mưu, toàn bộ ban chỉ huy đảo chánh, gồm cả Tướng Khánh và Ðại Tá Thi tiến sang trại Hoàng Hoa Thám, nơi đặt Bộ Tư Lệnh của Lữ Ðoàn Nhảy Dù và thiết lập bộ chỉ huy của lực lượng đảo chánh tại đây.  Ðại Tá Cao Văn Viên, đương kim Tư Lệnh Lữ Ðoàn Nhảy Dù, không có thái độ gì cả.  Từ bộ chỉ huy tại trại Hoàng Hoa Thám, Ðại Tá Thi đã điều động các đơn vị đảo chánh, dưới quyền chỉ huy của Ðại Tá Dương Ngọc Lắm, đến tận tư dinh của các tướng Ðôn, Kim, Ðính, Xuân để bắt giữ họ.  Tư dinh của Tướng Minh cũng bị bao vây, nhưng nhờ có sự bảo vệ của các thiết giáp của Trung Tá Dương Hiếu Nghĩa, nên Tướng Minh không bị quân của Ðại Tá Lắm bắt giữ và làm nhục.  Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ cũng bị bắt giữ nhưng sau đó được thả về.  Ðến 6 giờ sáng, Tướng Khánh cho di chuyển bộ chỉ huy từ trại Hoàng Hoa Thám trở về Bộ Tổng Tham mưu.  Mười phút sau, Tướng Khiêm đã có mặt tai đây; sau đó lần lượt đến Bộ Tổng Tham Mưu là các Tướng Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Văn Thiệu và Ðỗ Mậu.  Ðến khoảng 8 giờ sáng thì Trung Tướng Dương Văn Minh cũng được đưa vào Bộ Tổng Tham Mưu để gặp hai tướng Khánh và Khiêm.33, 34, 35  Cuộc đảo chánh thành công hoàn toàn, không có một phát súng nổ và không có đỗ máu.  Nạn nhân duy nhứt của cuộc đảo chánh nầy là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nhung, người đã hạ sát hai anh em Tổng Thống Ngô Ðình Diệm trong cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963.  Ông bị bắt và đưa về giam giữ tại trại Hoàng Hoa Thám, và theo thông báo chính thức của Bộ Quốc Phòng sau đó, thì ông đã dùng dây giầy thắt cổ tự tữ.36

3.  Kết Quả Của Cuộc Chỉnh Lý

Các trung tướng Trần Văn Ðôn, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân, Tôn Thất Ðính bị bắt và đưa ra Ðà Nẵng giam giữ; sau đó họ được đưa lên quản thúc tại Ðà Lạt, vì thế báo chí thường gọi họ chung bằng tên chung là: Bốn Tướng Ðà Lạt.

HÐQNCM cử Trung Tướng Nguyễn Khánh làm Chủ Tịch thay thế Trung Tướng Dương Văn Minh.  Trung Tướng Minh tiếp tục giữ chức vụ Quốc Trưởng.  Trung Tướng Khánh thành lập chính phủ mới với thành phần như sau:37

Thủ Tướng :                                                    Trung Tướng Nguyễn Khánh

Phó Thủ Tướng, Bình Ðịnh :     Bác sĩ Nguyễn Tôn Hoàn (Ðại Việt Miền Nam)

Phó Thủ Tướng, Kinh Tế và Tài Chánh :    Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh

Phó Thủ Tướng, Văn Hóa và Xã Hội :         Thiếu Tướng Ðỗ Mậu

Quốc Vụ Khanh :                                             Bác sĩ Lê Văn Hoạch (Cao Ðài)

Tổng Trưởng Ngoại Giao :                Bác sĩ Phan Huy Quát (Ðại Việt Miền Bắc)

Tổng Trưởng Nội Vụ :                             Ông Hà Thúc Ký (Ðại Việt Miền Trung)

Tổng Trưởng Công Chánh :                           Ông Trần Ngọc Oánh (Công Giáo)

Tổng Trưởng Giáo Dục :                           Giáo sư Bùi Tường Huân (Phật Giáo)

Tổng Trưởng Quốc Phòng :                            Trung Tướng Trần Thiện Khiêm

Tổng Trưởng Cải Tiến Nông Thôn :              Ông Nguyễn Công Hầu (Hòa Hảo)

Tổng Trưởng Y Tế :                                           Bác sĩ Vương Quang Trường

Tổng Trưởng Lao Ðộng :                                 Ông Ðàm Sỹ Hiến (Nghiệp Ðoàn)

Tổng Trưởng Thông Tin :                         Ông Phạm Thái(VN Quốc Dân Ðảng)

Tổng Trưởng Tài Chánh :                                Tiến sĩ Nguyễn Xuân Oánh

Tổng Trưởng Kinh Tế :                Tiến sĩ Âu Trường Thanh (Trí thức Cấp tiến)

Tổng Trưởng Tư Pháp :                          Luật sư Nguyễn Văn Mầu (Công Giáo)

Tổng Trưởng Xã Hội :                            Tiến sĩ Trần Quang Thuận (Phật Giáo)

Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng :                 Luật sư Nghiêm Xuân Hồng (Duy Dân)

 Với chính phủ Nguyễn Khánh, Miền Nam bước vào một giai đoạn hỗn loạn về chính trị chưa từng có trong lịch sử của VNCH.  Về phương diện cá nhân, Trung Tướng (sau thăng lên Ðại Tướng) Nguyễn Khánh chỉ cầm quyền được hơn một năm; ông bị các tướng lãnh loại ra khỏi chính quyền và buộc ông phải rời khỏi Việt Nam ngày 25-2-1965.  Về phần Bốn Tướng Ðà Lạt, vì không có bằng cớ để buộc tội họ chủ trương trung lập, Tướng Khánh đành phải trả tự do cho họ, sau một phiên họp đặc biệt của các tướng lãnh cao cấp tại Ðà Lạt vào ngày 28-5-1964.  Tướng Ðôn đã ghi lại như sau trong hồi ký của ông: « Tướng Khánh chủ toạ phiên xử và bắt đầu một loạt câu hỏi kéo dài năm tiếng ruởi đồng hồ, mà không có một câu hỏi nào liên quan đến vấn đề trung lập mà họ đã dùng để buộc tội chúng tôi. Nhân danh cả nhóm, ông Khánh yêu cầu chúng tôi không được trả thù bất cứ người nào khi chúng tôi được trở về phục vụ quân đội.  Sau đó tất cả mọi người vây quanh chúng tôi để chúc mừng.’’38

Người Mỹ, đặc biệt là phe quân nhân và Bộ Quốc Phòng, đã đạt được điều họ mong muốn là một cấp lãnh đạo mới của HÐQNCM mà họ tin rằng sẽ sẵn sàng cộng tác với họ trong chủ trương leo thang chiến tranh.  Họ không phải thất vọng.  Chỉ một tuần lễ sau vụ Chỉnh Lý, Tướng Khánh đã chấp thuận cho việc đưa cố vấn Mỹ xuống đến cấp quận (chi khu).39  Cũng trong thời gian cầm quyền của Tướng Khánh, Hoa Kỳ đã tiến hành ráo riết việc chuẩn bị leo thang chiến tranh với cao điểm là biến cố Vịnh Bắc Việt, vào các ngày 2-4 tháng 8 năm 1964, đưa đến việc Hoa kỳ khởi sự ném bom Bắc Việt và sau đó là đổ quân ào ạt vào Việt Nam trong năm 1965.  Từ con số 23.300 cố vấn vào cuối năm 1964, lực lượng tham chiến của Hoa Kỳ đã tăng lên đến 184.300 quân vào cuối năm 1965.40

Ghi Chú:

1. Ðoàn Thêm.  Hai mươi năm qua: việc từng ngày, 1945-1964 ; tựa của Lãng Nhân.  Los Alamitos, CA : Xuân Thu, 1989.  Tr. 368.

2.Huỳnh Văn Lang.  Nhân chứng một chế độ: một chương hồi ký. Tập ba.  Hoa Kỳ : Tác giả xuất bản,  không đề năm xuất bản.  Tr. 259.

3. Huỳnh Văn Lang, sđd, tr. 261.

4. Nguyễn Chánh Thi.  Việt Nam: một trời tâm sư.   Los Alamitos, CA : Anh Thư, 1987.  Tr. 232.

5. “Summary of a meeting between U.S. intelligence officials and South Vietnamese General Do Mau ,”Declassified Documents Reference System (từ đây về sau sẽ dùng chữ tắt là DDRS), tài liệu của CIA, đề ngày 9-11-1963, giải mật ngày 24-4-1995, 3 tr.  Ở tr. 1, có đoạn nguyên văn Anh Ngữ như sau: “He stated that the Council was beginning to divide between one group which was more oriented toward French techniques comprising General Duong Van Minh, General Le Van Kim, and General Mai Huu Xuan with some indications of a similar orientation by General Tran Van Don. On the other side a group oriented along American lines comprised General Tran Thien Khiem, General Nguyen Van Thieu, General Nguyen Huu Co, General Pham Xuan Chieu, and himself.”

6. “Summary of a meeting between U.S. intelligence officials and South Vietnamese General Do Mau”, tài liệu vừa dẫn bên trên, ở tr. 2, có đoạn nguyên văn Anh ngữ như sau: “Mau expressed concern at the fact that General Mai Huu Xuan was moving pro-French individuals into the working levels of the police services to the extent that the pro-Americans now hold only two of the eight police commissioner positions in Saigon.”

7. Ðoàn Thêm, sđd, tr. 375.

8. Gibbons, William Conrad.  The U.S. Government and the Vietnam War: executive and legislative roles and responsibilities. Part II: 1961-1964 .  Princeton, NJ.: Princeton University Press, 1986.  Tr. 211.   Nguyên văn Anh ngữ như sau: “reports from Vietnam that the new junta was not performing as well as expected.”

9. Kahin, George McT.  Intervention: how America became involved in Vietnam.   New York: Alfred A. Knopf, 1986.  Tr.189.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “The Minh leadership also opposed any greater American role in directing South Vietnamese army operations and refused to accept persistent proposals for increasing the number of U.S. military and civilian advisers, especially the introduction of the military down to the district and subsector levels.”

10. Gibbons, sđd, tr. 229.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “General Minh argued that it would play into the hands of the VC and make the Vietnamese officials look like lackeys.  There would be a colonial flavor to the whole pacification effort.  Minh added that even in the worst and clumsiest days of the French they never went into the villages or districts.”

11. Kahin, sđd, tr. 188.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “General Minh mentioned two reasons: (1) bombing North Vietnam would not produce good military results; on the contrary it would do more harm to innocent Vietnamese; (2) by such bombing we would lose the just cause because we had [thus far] held that we were fighting a defensive war and had ascribed the role of aggressor to the communists [accusing them] of sending troops to the South, committing crimes in the South, etc. If we bombed the North we would bring war to the North and we would lose our legitimate cause.”

12. Kahin, sđd, tr. 190.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “He (Lodge) was also disappointed by Minh’s unwillingness to meet him regularly once a week to discuss governmental policy and actions.”

13. Kahin, sđd, tr. 199.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “Harkins, in a cable to Taylor sent just after the coup had been completed on January 30, reported that two days before, at about 3:00 P.M., Wilson had come to see him at the request of General Khanh to check on whether the United States would back a pre-emptive counter-coup against individuals who planned to seize control and immediately announce a position of neutralization.  Harkins states he ordered Wilson to go to Lodge and relate his story, and then, according to this cable, he himself decided to go on what he refers to as a fieldtrip. Harkins returned to Saigon on January 29, checked in with Lodge, and was told of Wilson’s latest meeting with Khanh.  He states that at 2:15 A.M. on January 30, Lodge sent an aide to alert him that H-hour would be at 4:00 A.M., that Khanh would pick him up at 3:15 and that coup headquarters would be at the airborne brigade’s command post.”

14. Nguyễn Chánh Thi, sđd, tr. 224.  Tác giả viết như sau: “Lẫn lộn trong những người bao quanh ông Khánh, tôi thấy có ông Cố Vấn Quân Ðoàn … và nhiều người ngoại quốc khác, mặc thường phục.”

15. National Security Action Memorandum No. 273, tài liệu có thể truy cập trực tuyến tại địa chỉ Internet sau đây: <http://www.jfklancer.com/NSAM273.html&gt;

16. McNamara, Robert S. và Brian VanDeMark.  In retrospect: the tragedy and lessons of Vietnam.   New York: Times Books, 1995.  Tr. 105.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “current trends, unless reversed in the next 2-3 months, will lead to neutralization at best or more likely to a Communist-controlled state.”

17. Gibbons, sđd, tr. 211-213.

18. Bùi Diễm và David Chanoff .In the jaws of history.  Bloomington, In.: Indiana University Press, 1999.  Tr.  107.

19. Nhóm nầy đã họp tại Khách sạn Caravelle ở Sài Gòn vào ngày 26-4-1960 và ký tên vào một bản Tuyên ngôn gửi cho Tổng Thống Ngô Ðình Diệm để cảnh cáo về tình hình chánh trị, quân sự, và kinh tế xã hội nghiêm trọng tại VNCH.  Nhóm gồm tất cả 18 chính khách và nhân sĩ nổi tiếng của Miền Nam: Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy Quát, Trần Văn Lý, Nguyễn Tiến Hỷ, Trần Văn Ðỗ, Lê Ngọc Chấn, Lê Quang Luật, Lương Trọng Tường, Nguyễn Tăng Nguyên, Phạm Hữu Chương, Trần Văn Tuyên, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất, và Hồ Văn Vui.

20. “South Vietnamese Situation Report”, DDRS, báo cáo của CIA, đề ngày 4-1-1964, giải mật ngày 16-9-1996, tr. 2.

21. Công điện số 15564, ngày 22-11-1963, của Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ tại Phnom Penh gởi về Bộ Ngoại Giao.  Người trao văn thư của Chính phủ Cao Miên về việc nầy cho Ðai sứ Hoa Kỳ là Quyền Bộ Trưởng Ngoại Giao Phurissara; nguyên văn Anh ngữ như sau: “ACTING SECSTATE FONAFFAIRS PHURISSARA HANDED ME NOTE NOVEMBER 20 REQUESTING TERMINATION US AID.”

22. Tucker, Spencer C., soạn giả, Encyclopedia of the Vietnam War: a political, social, and military history. Santa Barbara, Calif.: ABC-CLIO, 1998. Tr.488-489.

23. Phạm Văn Liễu.  Trả ta sông núi: hồi ký. Tập II, 1963-1975.Houston: Văn Hóa, 2003.  Tr. 52-53.  Về vấn đề thăng cấp lên Trung Tướng của Tướng Khánh, tác giả viết như sau ở tr. 53:“Sau cuộc đảo chính 1-11-1963, ông Khánh không được thăng cấp Trung tướng, hay tham gia Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng.  Ông Khánh bèn bay vào Sài Gòn năn nỉ Tướng Dương Văn Minh xin thêm một sao.  Tướng Minh bất đắc dĩ phải phong ông Khánh lên Trung tướng.  Hôm sau, ông Khánh đi mua cập lon ba sao sáng bóng, mang tới tư dinh Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ xin gắn lon mới.  Theo Ðai tá Nhan Minh Trang, Chánh võ phòng Thủ tướng Thơ, vì ông Thơ đang bận rộn, có việc phải đi gấp, nên chỉ gắn một cái lon ba sao lên ve áo ông Khánh ngay trên cầu thang tư dinh.  Cái lon còn lại, ông Thơ nhờ Ðại tá Trang gắn giúp.” Câu chuyện khá hấp dẫn, mang tính giai thoại nầy, về việc lên lon của Tướng Khánh có thể do Ðại tá Trang kể lại cho Ðại tá Liễu nghe vì hai vị Ðại tá nầy khá thân với nhau; họ cùng tham gia vào cuộc đảo chánh chống Tướng Khánh ngày 13-9-1964 do hai tướng Dương Văn Ðức và Lâm Văn Phát cầm đầu; vụ đảo chánh nầy không được các tướng trẻ ủng hộ nên thất bai; ngày 15-9-1964, trước khi rút quân ra khỏi thủ đô, Tướng Ðức họp báo tuyên bố không có đảo chánh mà chỉ là “biểu dương lực lượng.”

24. “Report of conversation between Gen. Nguyen Khanh and senior MAAG adviser re imminent coup d’etat by pro-neutralists, pro-French generals led by Gen. Xuan; plan must be crushed,” DDRS, báo cáo của CIA, đề ngày 29-1-1964.  Có đoạn nguyên văn Anh ngữ như sau: “Col Tran Dinh Lan, most recent returned from Paris is alleged by Col who met him at airport to have been empowered, presumably by the French, to spend substantial sum (two billion piastres) to achieve neutralization of SVN.  Lan reported by this source to have been brought back to SVN at requests Gens Tran Van Don and Le Van Kim.”

25. Kahin, sđd, tr.195.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “Of greater importance, following persistent pressure by Harkins and the Defense Department, who argued that he could not effectively discharge concurrently the responsibilities of two major positions (minister of security and III Corps commander), General Ton That Dinh was on January 5 relieved of his command of the vital III Corps-embracing Saigon and the provinces around it.  The officer that the U.S. military approved as his successor, Major General Tran Thien Khiem, played a pivotal role in the events that followed.”

26. “Background of Coup Staged by General Nguyen Khanh,” DDRS, công điện của CIA, ngày 30-1-1964.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “On 28 January 1964 General Thieu ordered Lieutenant Colonel Duong Huu [sic] Nghia, Acting Commander of the Armored Command, to move all available armored units in Saigon to 5th Infantry Division Headquarters in Bien Hoa.  However, Nghia suspected that Thieu was plotting a coup against Major General Duong Van Minh and informed Thieu that the armored units could not move as ordered using the excuse that the vehicles were inoperable. Nghia also announced his support for General Minh.  By 29 January, however, Nghia apparently had switched his support to Thieu who had operational control of both the Armored Command and the Marine Corps on that date. On 30 January Nghia supported the coup group led by Major General Nguyen Khanh.”

27. Kahin, sđd, tr. 199.

28. Kahin, sđd, tr. 199-200.

29. Nguyễn Chánh Thi, sđd, tr. 210.

30. Nguyễn Chánh Thi, sđd, tr. 209.

31. Phạm Văn Liễu, sđd, tr. 57-65.

32. “Report of conversation between Gen. Nguyen Khanh and senior MAAG adviser re imminent coup d’etat by pro-neutralists, pro-French generals led by Gen. Xuan; plan must be crushed,” tài liệu đã dẫn.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “Maj Gen Nguyen Khanh on 28 Jan told Col Jasper Wilson, Senior MAAG Advisor for I Corps, that he had info indicating that another coup would be attempted possibly as early as Friday 31 Jan.  Coup, which would be of palace variety involving little or no bloodshed, would be mounted by pro-French, pro-neutralist generals with Mai Huu Xuan playing leading role.  Once coup successfully carried out, perpetrators would immediately call for neutralizing of SVN.  Plotters in touch with Gen Nguyen Van Hinh.  Khanh appeared deeply concerned, stating that if plot not immediately crushed, it stood fair chance of success.”

33. Kahin, sđd, tr. 198-200.

34. Nguyễn Chánh Thi, sđd, tr. 218-227.

35. Phạm Văn Liễu, sđd, tr. 65-74.

36. Ðoàn Thêm, sđd, tr. 382.

37. Ðỗ Mậu.  Việt Nam máu lửa quê hương tôi: hồi ký chính trị: bổ túc hồ sơ về sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa.  Hoa Kỳ: Tác giả xuất bản, 1986.  Tr. 835-836.

38. Trần Văn Ðôn.  Our endless war: inside Vietnam. San Rafael, CA,: Presidio Press, 1978.  Tr. 127-128.  Nguyên văn Anh ngữ như sau: “General Khanh presided over the hearing and began a five-and-one-half hour series of questions, none of which were related to the accusation of neutralism that had been raised against us. Khanh asked us, on behalf of the entire group, not to take vengeance on anyone when we once again began serving in the army.  Then they all gathered around to congratulate us.’

39. Gibbons, sđd, tr. 229.  Nguyên văn như sau: “Khanh not only agreed to this latter suggestion (he accepted U.S. advisers in 13 districts in the delta)”

40. McNamara, sđd,  tr. 321.