Thơ Gởi Bạn

Vĩnh Nhơn Lâm Vĩnh Thế

Hùng mến,

Thơ mầy đến thật bất ngờ. Ngày hôm qua đi làm về, cũng như mọi ngày, tao uể oải mở hộp thơ để lấy thơ từ, trong lòng hoàn toàn dửng dưng. Chẳng buồn coi thơ của ai, tao cầm nguyên xấp đi thẳng vào thang máy. Một vài tiếng chào xả giao của những người quen ở cùng một tầng lầu mà tao chưa bao giờ biết tên càng làm cho tao thấy rõ cái đơn điệu của cuộc sống mấy năm nay của tao.

Thang máy ngừng lại ở lầu 10, tao bước ra, sau khi chào tạm biệt những người-quen-không-biết-tên đó, cũng một cách máy móc như họ. Vào phòng xong, trước khi liệng xấp thơ xuống bàn ăn, tao mới điểm qua các thơ. Và thơ của mầy làm tao sửng sốt. Rõ ràng trên phòng bì dòng chữ mềm mại như con gái đó và trên góc trái là tên mầy với địa chỉ của bà già mầy mà tao đã quá quen thuộc từ mấy năm qua. Tao kéo ghế ngồi đọc ngay tại bàn ăn, thay vì, theo thói quen, tao chỉ đọc thơ sau khi ăn cơm tối và đọc tại ghế sofa ở phòng khách.

danh-may-muon-5Vậy là mầy đã xong được bước một. Gở gần 11 cuốn lịch, trong đó có hơn 9 cuốn ở miền Bắc. Trong cái đói, cái lạnh, cái khổ sai, cái nhục nhằn. Ðể lại ngoài đó một ngón tay vì bị cây đè. Và 8 cái răng vì nhai nhiều sạn đá hơn là nhai cơm. Với mái tóc đã muối tiêu. Tao thật khó hình dung mầy ra sao bây giờ. Lần cuối tụi mình gặp nhau đâu có ngờ là chia tay lâu vậy. Tao nhớ lần đó mình nhậu ở quán Thanh Tuyền, đường Nguyễn Cư Trinh, bến xe miền Ðông, có cả thằng Tâm, thằng Phong và Chí, anh bà xã tao. Sao mà mình ngây thơ quá vậy, cứ tưởng là yên rồi, tụi bây khỏi đánh giặc nữa. Lúc đó hình như tụi bây đã đi khai báo đâu đó tại một trường tiểu học trong Chợ Lớn dành cho cấp Tá đến trình diện. Khai xong rồi là về, không có bắt bớ, không có hỏi cung, không có bị xài xể gì cả. Tao thì cũng đã trình diện và tiếp tục làm việc như củ ở Ðại Học Sư Phạm. Mấy anh cán bộ quân quản sao mà hiền lành dễ thương thế, nói chuyện nhỏ nhẹ, cử chỉ tự nhiên, không kiểu cách, điệu bộ gì cả.

Người ta bảo ở đây không có ai là kẻ chiến bại cả, tất cả đều là anh em, bây giờ xum họp lại một nhà. Chỉ có đế quốc Mỹ là thua thôi. Sau đó độ một tháng thì có lịnh trình diện tập trung học tập, thời gian được hiểu là một tháng, 10 ngày gì đó theo tinh thần thông cáo. Tao chắc mầy và thằng Tâm cũng đã hăng hái lên đường, để học tập cho xong rồi còn về tính cách làm ăn. Chính cũng vì nghĩ vậy mà tao đã không đến gặp tụi bây trước khi tụi bây đi. Tao đâu có ngờ là mãi đến ngày hôm nay tụi mình vẩn chưa gặp lại nhau. Thằng Tâm về trước mầy gần hai năm, tụi bây đã gặp lại nhau, để cùng chiêm ngưởng dung nhan của nhau, đếm tóc bạc của nhau và cùng bùi ngùi nhớ lại bạn bè ngày xưa. Mầy khó có thể tưởng tượng được là tao thèm được cùng đếm tóc bạc với tụi bây đến chừng nào. Trong thơ mầy bảo là sau hôm mầy về, Chí có làm một chầu đơn sơ chiêu đãi mầy, cả thằng Tâm cũng có đến, tụi bây ăn uống đàng hoàng, không có giành giựt như hồi xưa tụi mình đi Quán Lá ở mũi tàu Phú Lâm, hay ngồi đệm ở bến Bạch Ðằng, hay cùng thưởng thức “một món ba thau” ở nhà Chí do bà già vợ tao nấu. Mới đó mà đã hơn một phần tư thế kỹ trôi qua, cả đám mình, từ những học sinh Petrus Ký hồn nhiên, yêu đời, ham phá thầy cô, đã bước qua ngưởng cửa “tứ thập bất hoặc” và sắp sửa bước vào “ngủ thập tri thiên mệnh” cả rồi. Tháng 7 vừa qua, tao đưa bà xả và thằng con nhỏ (mầy chưa bao giờ gặp vì nó sanh năm 1976) qua Boston thăm thằng Phong vừa vượt biên qua được với thằng con trai, vợ nó binh chuyến sau, bị kẹt, nằm ở trại Cây Gừa hết mấy tháng. Ðường khá xa, đi trọn một ngày mới tới. Nhưng gặp nó rồi, tự nhiên tao không còn thấy mệt nhọc gì nữa cả, hai đứa tao ôm nhau, vổ lưng nhau, không nói được một lời nào mà sao nước mắt ứa ra. Bà xả tao cũng khóc, thằng con tao nó có vẻ ngạc nhiên lắm, vì xưa nay nó có bao giờ thấy ba nó khóc đâu. Ðêm đó tụi tao nói chuyện tới gần hai giờ mới đi ngủ. Và cả ngày hôm sau, đêm sau, ngày hôm sau nữa và đêm hôm sau luôn, trong lúc đi chơi, cũng như lúc về nhà, câu chuyện của hai đứa tụi tao vẩn chưa cạn. Hôm sau nữa thì tao phải về. Cuối tuần đó Phong nó gọi qua, nó bảo tao về rồi nó buồn quá, nhìn đâu cũng thấy những vật kỹ niệm của cuộc gặp gở vừa rồi. Thật tao cũng không ngờ nó còn tình cảm hơn tao nữa. Bao giờ thì mới tới phiên mầy và thằng Tâm đem lại cho tao nguồn vui đó. Ông Chí thì chắc mầy cũng đã biết, ổng đã dứt khoát ở lại để lo cho ông già bà già. Thằng Tâm thì tao đã lo xong hồ sơ ODP cho nó rồi, tao đã gởi LOI với số IV về cho nó và nó đã nộp xong đơn xin xuất cảnh. Hơn một năm rồi mà cũng chưa thấy gì. Phần mầy có lẻ phải tính cách khác, để tao liệu cho, tao có biết nhiều chỗ có thể giúp mầy. Tạm thời tao sẽ lo chuyển về cho mầy một số thuốc bổ.

ca phe la me bay 02Mầy bây giờ làm thợ mộc kiêm thợ hồ à? Chắc đây là kết quả chuyến du học 11 năm ở ngoài đó của mầy, chớ hồi nào tới giờ tao có nghe mầy biết làm mấy cái vụ đó đâu. Tuy nhiên, đối với tao, chuyện đó đâu có gì là lạ lùng. Chắc bà già mầy đã kể lại cho mầy nghe tao đã làm nghề gì từ năm 80 đến khi tao ra khỏi nước. Tháng 9/79 tao nộp đơn xin xuất cảnh đi Canada do chị hai tao ở Montréal bảo lãnh. Ðại Học Sư Phạm cho tao nghĩ việc từ tháng 1/80. Ðầu tiên là tao đi phụ bán cà phê với anh Hãi, em kế của anh hai, anh rể tao. Lúc mới làm thì hai tay chỉ bưng được hai tách thôi, rồi lần lần tiến bộ hơn, bưng được ba tách, và sau cùng, cũng như các bồi bàn chuyên nghiệp khác, tao cũng bưng được bốn tách như ai. Tính tiền, thâu tiền, dọn bàn, lau bàn và thỉnh thoảng, khi ế, thì ngồi tán dóc với mấy khách quen. Dần dần thì bạn bè dạy học củ ngày xưa đều biết và kéo đến, tụi tao làm ăn khá lên thấy rõ. “Bốn điếu Vàm Cỏ và hai cái đen”, “Cho nữa gói Samit và bốn cái phin sữa đi”, những âm thanh quen thuộc và thân mật nầy đã là nguồn vui, mà cũng là nguồn sống, của tụi tao trong thời gian đó.  Mầy còn nhớ thằng Phụng không, nhà nó ở gần trường Les Lauriers, nó học lớp Tứ G kế bên tụi mình đó. Vợ nó và đứa con gái nhỏ bị chết trong một chuyến vượt biên thất bại. Ðêm đó sóng to mà tụi nó cứ liều, thuyền ra được hơn hai giờ thì bị lật và chìm. Nó chỉ cứu được thằng con trai, hai cha con ôm được cái can nước 20 lít, trôi lênh đênh cho tới sáng thì được tàu đánh cá quốc doanh Chiến Thắng vớt và đưa “gởi” ở Côn Ðảo hết hơn nữa năm. Nhờ bà già nó lo, hai cha con nó mới được thả về. Tao được nó kể lại câu chuyện đó trong một lần tình cờ nó tạt qua quán, uống vội một cái cà phê đá rồi đi ngay cho kịp một cái hẹn với một tổ chức vượt biên khác. Dường như lần đó nó thành công.  Sau khi phụ bán cà phê được hơn nữa năm thì tao lại kiêm thêm nghề bán bánh ngọt.

Mỗi buổi sáng, tạo đạp xe vào Xóm Lò Heo trong Gia Ðịnh lấy bánh xu kem. Chủ lò bánh là một bà goá ngoài 50, phụ bà là một bà goá khác, chưa đầy 30, và chính là dâu của bà chủ. Con trai duy nhất của bà chủ lò, một giáo sư trung học biệt phái, đã chết trong trại học tập ở Trãng Lớn, để lại ba đứa con nhỏ. Bạn cùng đếm bánh với tao lúc đó thật là đủ hạng người. Một anh thương phế binh Ngụy cụt một giò và chột một mắt vì đạp phải mìn. Ba bốn đứa nhỏ chưa tới 12 tuổi, buổi chiều đi học, buổi sáng bán bánh, phụ mẹ nuôi cha đi học tập, chưa về. Một bà già gần 80 tuổi, lưng còng, người khom gần sát đất, phải tự nuôi lấy thân vì không còn ai là chỗ nương dựa được. Nghe nói dường như bả trốn Trại Dưỡng Lảo ở Thị Nghè ra và không chịu trở về nữa. Buổi chiều thì tao vào Chợ Lớn, xóm Ðào Duy Từ, lấy mấy loại bánh in ở một lò bánh của người Tàu. Nhiều bữa tao bị té xe, bánh văng tung toé, cái nào còn nguyên thì phủi bụi đất cho sạch rồi cũng bán được. Một bữa đi lấy bánh về ngang chợ Tân Ðịnh thì tao gặp Nam, một bạn cùng dạy học ở Châu Ðốc trước khi tao được đổi về Ðại Học Sư Phạm. Mầy biết nó đang làm nghề gì không? Ðạp xích lô! Hai thằng kéo vào một quán cà phê vĩa hè, uống nước đá chanh và kể cho nhau nghe những chuyện xảy ra sau năm 75. Lúc đó nó đã đi hụt tới chuyến thứ sáu rồi đó. Bây giờ thì nó cũng đi xong rồi và đang ở Winnipeg với thằng con lớn, vợ nó và đứa con gái còn chờ bảo lãnh. Trong câu chuyện bữa đó với Nam, tao cũng được nó “báo cáo” về nghề mới của một số bạn giáo sư cũ. Nhiều đứa sửa xe đạp ở vĩa hè, một số khá đông buôn bán chợ trời thuốc Tây, hoá chất, thằng nào vốn nhiều thì làm ăn ở IMEX. Tụi nó gọi đùa nhau là “thầy giáo mất dạy”, kể ra cũng quá đúng. Phần tao thì thỉnh thoảng cũng bắt áp phe hóa chất kiếm thêm, khi soude, khi soda, cũng có khi thuốc tẩy đường, chỉ làm cò con thôi vì tao đâu có vốn bự. Mầy làm công nhân chính cống như vậy là đúng đường lối của nhà nước quá rồi, xứng đáng là “giặc lái đã học tập tốt, lao động tốt, và trong quá trình cải tạo chưa có biểu hiện gì xấu”. Về vụ bà xả của mầy, tao thấy thôi vậy cũng được, cho nó dứt khoát và khỏe cho mầy. Thật tao không ngờ bà Khánh tệ quá vậy, ngay cả bà già mầy hình như cũng không biết, tao gặp bả hoài hồi trước khi tao đi mà đâu có nghe bả nói gì.

    Tao viết lung tung quá mầy chịu khó đọc nghe. Chúc mầy cái gì bây giờ? Ráng giữ sức khỏe và, cần nhất, nâng cao quyết tâm để thực hiện cho được bước thứ hai. Mong tin mầy.