Thầy Vũ Ký

Lời đầu:

Tôi đã viết có chứng bệnh tâm thần, hay lẫn lộn các thầy Vũ Ký, Tạ Ký và họa sĩ Tạ Tỵ. Thầy Tạ Ký đã mất vào năm 1979, rồi họa sĩ Tạ Tỵ vào năm 2004, và thầy Vũ Ký đã mệnh chung vào ngày 14.11.2008 tại Vương Quốc Bỉ, hưởng thọ 88 tuổi. Để tưởng niệm thầy Vũ Ký, L.T.T, cựu học sinh Petrus Ký, lớp 67-74, và cũng là Webmaster của hội Ái Hữu Petrus Ký tại Âu Châu đã ghi lại những kỷ niệm đã có với thầy như sau.

Khung trời kỷ niệm

Buổi sáng thứ sáu tháng 11/2008, tôi đang làm việc thì nhận được Email của anh Phạm Quốc Phong – Hội Trưởng Hội Petrus Ký / Âu-Châu – báo tin khẩn Thầy Vũ Ký vừa từ trần ngày hôm qua tại Vương Quốc Bỉ.

Tôi chợt lặng người khi nhận được tin nầy. Thầy Vũ Ký là thầy dạy Việt Văn của lớp tôi năm đệ Tam. Những năm sau nầy, Thầy và tôi có liên lạc nhiều lần qua điện thoại mỗi khi Thầy nhận được báo Diễn Đàn Petrus Ký cũng như thư mời của Hội mời Thầy đến tham dự Đại Hội Petrus Ký / Âu-Châu.

Vì lý do sức khỏe cũng như lớn tuổi, đường xá xa xôi, Thầy không tham dự được Đại Hội mặc dù Thầy nói, Thầy rất mong muốn gặp lại các đồng nghiệp cũ: Thầy Nguyễn Thanh Liêm từ Cali sang, Thầy Phạm Xuân Ái đến từ Paris, Thầy Hồ văn Thái, Thầy Trần Kim Quế (Hiệu Trưởng trường Trung học Bến Tre) và nhất là Thầy Phạm Ngọc Đãnh tại Đức. Thầy khen tờ báo Diễn Đàn của Hội rất “chuẩn”, trình bày đẹp với đầy đủ tiết mục, các bài viết có giá trị.

Tôi vội bỏ các công việc hãng sang một bên, gọi phone đến nhà Thầy, nhưng không gặp được ai. Tôi phone cho một vài người bạn bên Bỉ mong biết thêm tin tức về Thầy, để gởi tin buồn nầy đến các Hội đoàn bạn cũng như các Cựu Học Sinh Petrus Ký khắp nơi trên thế giới.

Sau một lúc thư từ qua lại trong Ban Chấp Hành, thì tôi liên lạc được anh Mã Mạnh Tiến, cư ngụ tại Bĩ, đã có một lần tham dự Đại Hội Petrus Ký / Âu-Châu. Anh Tiến hứa nhận nhiệm vụ đại diện Hội Petrus Ký Âu-Châu đến chia buồn cùng Gia Quyến của Thầy cũng như sẽ đem vòng hoa cườm, tiễn đưa Thầy lần cuối cho trọn tình nghĩa Thầy Trò.

Quay lại thời gian xa xưa, năm 1972, mùa hè đỏ lửa, chiến trường sôi động với An Lộc, Quãng Trị,… tôi đang học lớp đệ Tam, hình ảnh, tin tức chiến tranh với tôi xa vời, chỉ có trên TiVi, báo chí, radio… Chúng tôi vẫn thản nhiên vui tươi, chọc Thây Cô, phá bạn làm vui.

Tôi nhớ một hôm Thầy Vũ Ký vào lớp, cho cả lớp một tiếng đồng hồ để viết thư cho các anh chiến sĩ (gọi nôm na là “thư hậu phương gởi các anh tiền tuyến”). Những đứa nào có bà con, anh em đi lính, thì viết dễ ợt, trong phút chốc đã được nửa trang giấy. Tôi và thằng Nhàn, nó ngồi phía sau tôi là thằng “quậy” nhất lớp, ngồi chống càm quay quay cây viết, không biết viết cái gì bị giờ, vì tôi với nó là con trai Út, chỉ có mấy bà Chị mà không có Anh nào, lại không quen ai đi lính để lấy làm đề tài viết, thư.

Từ bên trái: Lê Trung Trực (thứ ba) và Nguyễn Thanh Nhàn (giữa hình, khuỳnh tay trước Trực) và anh em 10B1 vào năm 1972 [Nguồn: http://www.petrusky.de].

Tôi quay lại thằng Nhàn nói nhỏ:

– “Ê, Nhàn! Lính khoái đọc thư mấy em gái Gia Long, Trưng Vương, đếch thèm đọc thư mấy thằng đực rựa Petrus Ký đâu!”

Nó gật đầu, không quên “xỏ” tôi:

– “Ừ! Lính mà nhận được thư mầy, thì lấy giấy… chùi đít!”

Nó cười hì hì rồi nhéo mắt đề nghị với tôi:

– “Ê ! Tao với mầy giả gái viết thư không?”

Tôi thấy ý nó hay hay. Một bài tính chạy lẹ trong đầu tôi, Thầy đâu có xét bài, đâu có tính điểm, thư không có địa chỉ người gởi, chỉ cần giả chữ nét con gái là xong ngay, mà lại có bài nộp cho Thầy. Thế là tôi “phăng ra vài hình ảnh “lính và em gái hậu phương”, giả làm em gái Gia Long viết thư cho các anh chiến sĩ, rồi sau đó cũng hý hững nộp bài. Không ngờ, qua tuần lễ sau, Thầy Vũ Ký đang giảng bài, bổng chợt hỏi:

– Có 2 đứa nào kỳ rồi giả gái viết thư, đứng lên coi!

Sau một hồi im lặng, tôi và thằng Nhàn rụt rè đứng dậy. Thầy nhìn chúng tôi, rồi nói:

– Tụi bay viết thư như viết chuyện tiểu thuyết 2, 3 đồng, bán bến xe đò!!! (nói theo giọng Quãng của Thầy: “bay”, thay vì “bây”)

Hai thằng chúng tôi hú hồn hết vía, hên quá Thầy không phạt!

Tôi còn nhớ, đệ Tam, học bài của Nguyễn Công Trứ, Thầy Vũ Ký giảng bài “Chữ Nhàn” có câu:

“Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc?
Tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn hà thời nhàn?”

rồi dịch sang tiếng Việt:

“Biết đủ là đủ, đợi đủ chừng nào mới đủ?
Biết nhàn là nhàn, đợi nhàn bao giờ mới nhàn?”

Thằng “phá làng, phá xóm” Nhàn, sau khi nghe được bài nầy, thấy có tên nó trong bài, khoái lắm, nó nhái theo giọng Trung, cho dấu nặng thế dấu hỏi, để lén chọc Thầy mỗi lần đến giờ Việt văn để cả lớp xúm lại cười.

Cách đây 2 năm, tôi bay qua Cali, “cắm dùi” nhà thằng bạn “nối khố” nầy 2 tuần lễ. Nằm ngủ chung phòng, 2 thằng nhắc lại những kỷ niệm xưa ngày nào. Tôi nhắc đến Thầy Vũ Ký và chuyện giả gái viết thư cho lính.

Tôi không nhớ hết những gì tôi viết, chỉ nhớ tôi sửa tên tôi thành Trúc, giả là em gái Gia Long, rồi hẹn hò có 1 ngày nào được đi dạo phố bên cạnh anh Lính với bộ áo chiến binh. Thằng Nhàn nghe xong “chửi” tôi:

– “Thằng nào” mà đọc thư mầy, biết mầy giả gái, nó xách súng bắn “nát dế” mầy!

Tôi cười hì hì:

– “Còn thư mầy thì chắc giả làm em Trưng Vương hẹn “chàng” đi Sở Thú xem khỉ đột, có hay hơn gì đâu!”

Tôi hỏi nó, không biết ông Thầy có “dìm” 2 lá thư của 2 thằng mình không?

– “Sao lại dìm? Mầy nhớ thằng Lân, ngồi kế tao không? Anh nó đi lính đạp mìn Việt Cộng chết ở Hạ Lào. Nó viết thư nhờ mấy anh lính, nếu có gặp Việt Cộng thì nhớ thải vài cái lựu đạn cho… tụi nó “chết mẹ” hết cả lũ, trả thù cho anh nó. Thư nó đầy “lựu đạn” vậy mà Thầy còn cho gởi, thì thư tao với mầy “tình tứ” vậy, tại sao Thầy không gởi?”

Tôi có nói với nó, khi nào có dịp gặp Thầy Vũ Ký, tôi sẽ “hỏi nhỏ” Thầy có gởi 2 lá thư của tôi và thằng Nhàn hay không. Bây giờ thì Thầy không còn để tôi hỏi nữa, nhưng tôi nghĩ chắc chắn Thầy không “dìm” 2 lá thư đâu, vì lúc Thầy hỏi tên 2 thằng tôi, Thầy không lộ vẻ gì la lối, mà có lộ nét cười vì có 2 thằng học trò “ma le” nầy.

Trước đây vài năm tôi có nhận được thư của Thầy gởi qua bưu điện. Trong thư là những bài báo viết về Thầy cũng như Thầy được đề cử là Ứng cử viên tranh giải Văn Chương Nobel quốc tế. Đọc xong tiểu sử của Thầy, tôi rất ngạc nhiên và kính phục Thầy hơn nửa, khi được biết ông Thầy Việt Văn gầy yếu của chúng tôi là một chiến sĩ Cách Mạng, thành viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng, can trường, không sợ hiểm nguy, đã nhiều lần bị vào tù vì tranh đấu cho đất nước Việt Nam được Hòa Bình và một Tự Do thật sự.

Thầy đã từng giảng dạy cho chúng tôi bài “Chí Làm Trai”:

“Vòng trời đất dọc ngang ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả trả vay
Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.

Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.
Chí những toan xẻ núi lấp sông,
Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ …”

(Nguyễn Công Trứ)

“Chí làm trai” của Thầy đã được thực hiện đúng nghĩa và trọn vẹn! Tôi tự hào và rất hảnh diện được là học trò của Thầy, một người Thầy khả kính, dù trong hoàn cãnh nào cũng vẫn giữ được tinh thần chân chính, cương trực, không quỳ lụy, không sợ hiểm nguy trước một áp lực nào. Tôi chỉ được học Thầy một năm trường học, nhưng trường đời tôi học được Thầy rất nhiều và Thầy là tấm gương sáng mà tôi nguyện noi gương theo.

L.T.T./Germany, January 2009