Rạp hát Nguyễn Văn Hảo
Vưu Văn Tâm
1. Ông Nguyễn Văn Hảo
Ông Nguyễn Văn Hảo (1890–1971) là một thương gia nổi tiếng ở miền Nam Việt-Nam đầu thế kỷ 20. Ông Hảo xuất thân trong một gia đình nông dân và là con trai thứ của người vợ thứ 3. Người anh cùng cha khác mẹ của ông là chủ một cửa tiệm buôn bán phụ tùng xe hơi ở Sài-Gòn đã xin phép cha đưa Hảo lên đô thành phụ giúp một tay vì nhận thấy Hảo thông minh, lanh lợi và có tinh thần cầu tiến. Không phụ lòng anh trai, ông Hảo học được nhiều điều từ công việc mới và lần hồi rành rẽ kỹ thuật như thợ chính cũng như giỏi giang trong việc buôn bán.
Năm 1929, ông Hảo xin phép anh ra lập nghiệp và mở tiệm buôn bán phụ tùng xe hơi trên đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo). Ông cũng mở thêm một cây xăng bơm tay để kinh doanh thêm xăng cộ, dầu nhớt. Công việc làm ăn mỗi ngày thêm khấm khá dẫn đến việc ông mở đại lý phân phối vỏ ruột xe hơi Michelin của Pháp và trở thành tay nhập cảng xe hơi từ Pháp quốc vào Việt-Nam.
Năm 1933, ông Hảo mua miếng đất giáp với 4 con đường Trần Hưng Đạo, Ký Con, Yersin và Hồ Văn Ngà (nay là Lê Thị Hồng Gấm) để xây nhà. Tòa nhà có diện tích 800 m² được xây dựng từ năm 1933 cho đến năm 1937 theo lối kiến trúc của Pháp. Gạch bông lót nền nhà được nhập cảng trực tiếp từ Pháp quốc và vì thời điểm đó chưa có xi-măng nên phải lấy mủ cây trộn với nước cùng vôi, cát để xây. Một ngôi biệt thự bề thế gồm 2 tầng và có gắn thang máy mọc lên giữa trung tâm Sài-Gòn. (*)
Ở tầng trên cùng của tòa nhà, một hồ bơi nhỏ được xây dựng đẹp mắt. Hai bên hông nhà có khắc chữ “NG.V.HẢO” nên người dân sống xung quanh thường gọi đó là “tòa nhà Nguyễn Văn Hảo”.
Phía trước nhà hướng ra đại lộ Trần Hưng Đạo, ông Hảo cùng hãng Caltex mở cây xăng và bán đồ phụ tùng xe hơi. Phía sau là garage xe hơi. Dãy lầu trên garage được xây thành 6 căn để cho thuê. Phía trên của dãy trước dành cho mọi sinh hoạt trong đại gia đình ông Hảo. Ngoài ra, ông còn mua thêm miếng đất ở mặt tiền 3 con đường Bùi Viện, Trần Hưng Đạo và Đề Thám để xây cất hai dãy phố nhà lầu cho thuê. Công ty của ông Hảo hoạt động theo nhu cầu thị trường, tức là có cầu, có cung và thu hút được đông đảo khách hàng vì cách làm việc dễ dãi, giá cả phải chăng, không phân biệt người thuê ngắn hay dài hạn.
Năm 1960, ông Hảo mua một khu đất rộng 150 công ở Càng-Long để xây chùa. Do kiến trúc công trình khá cầu kỳ và gặp lúc giao thông khó khăn cũng như xử dụng nhiều vật liệu quý nên “Hảo tâm tự” đã mất hơn 8 năm mới được hoàn thành. Chùa ông Hảo tọa lạc trên diện tích khoảng hơn 8.000 m² và nổi bật với ngôi tháp cao 9 tầng. Quanh chùa có những bức tranh phù điêu vẽ hình rạp hát Nguyễn Văn Hảo, du thuyền ông Hảo dùng đi từ Sài-Gòn về Càng-Long, v.v.. Gần đó, ông cũng cho xây dãy phố lầu thênh thang và một ngôi chợ cho người dân tới lui mua bán. Khi chùa được hoàn tất cũng là lúc xảy ra chiến sự Tết Mậu Thân. Ngôi chùa trở thành nơi trú thân của người dân tứ xứ, dù khách lạ hay người quen, giàu hoặc nghèo, cũng đều được ông Hảo giúp đỡ tận tình cơm gạo, thuốc men và cho người dân mượn đất quanh chùa trồng trọt, cấy lúa.
Năm 1966, người vợ đầu của ông Hảo qua đời. Ông lui về Càng-Long sinh sống. Công ty Nguyễn Văn Hảo cũng ngưng hoạt động. Ông Hảo giao lại garage xe phía sau và cây xăng Caltex ở trước nhà cho người con nuôi quản lý. Các tài sản ở Sài-Gòn được quản lý bởi người con trai cả. Năm 1971, ông Hảo quy tiên và được an táng ở Càng-Long trong ngôi mộ mà gia đình xây sẵn từ năm 1940.
Miền Nam Việt-Nam bị rơi vào tay giặc vào năm 1975, tất cả tài sản của ông Hảo đều bị tịch biên và chỉ chừa lại cho gia đình ông 2 tầng lầu dãy phía trước của căn nhà 4 mặt tiền để làm chỗ trú thân. Do tầng trệt được “bên thắng cuộc” trưng dụng (cho kinh doanh thuê mướn) nên con cháu ông Hảo phải ra vào qua cánh cổng nhỏ ở đường Ký Con. Vì cuộc sống vô vàn khó khăn nên mọi thứ có giá trị trong nhà đều được tháo gỡ đem bán lần hồi để sinh sống qua ngày. Con cháu ông làm đủ nghề, chủ yếu là lao động chân tay để có thể tồn tại giữa cuộc sống bộn bề thiếu thốn.
Bên cạnh rạp hát cải lương Nguyễn Văn Hảo (sẽ được nhắc ở phần sau), số phận của dãy lầu cho thuê cũng lâm vào hoàn cảnh bi đát, bị tịch thu và hiện được sang nhượng cho nhiều chủ nhân mới.
Ngôi chùa ở Càng-Long bị niêm phong và nhiều vật dụng quý hiếm trong chùa cũng bị tẩu tán. Họ “biến hóa” ngôi chùa thành bệnh viện, thư viện rồi đến khu vui chơi dành cho trẻ em. Năm tháng phôi phai, khu vực đó giờ đây chỉ còn là một mảnh đất hoang tàn, đổ nát.
2. Rạp hát Nguyễn Văn Hảo




Rạp hát Nguyễn Văn Hảo
Với lòng yệu thích nghệ thuật cải lương, ông Hảo mua đất và xây dựng rạp Nguyễn Văn Hảo vào năm 1940. Mặt tiền của rạp nằm trên đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) và cửa hậu thông ra đường Bùi Viện. Rạp hát được xây dựng quy mô với sân khấu “đại vĩ tuyến”, rộng 16 mét, sâu hơn 10 mét và khán phòng gồm 3 tầng với 1.200 ghế. Lầu 3 dành cho giá vé hạng ba với 300 ghế ngồi, được đóng bằng ván dài, trên một cái dàn gỗ, ghế được đóng từng hàng từ thấp lên cao như bậc thang. Lầu 2 gồm 400 ghế bọc nệm da màu đỏ có lưng dựa dành cho vé hạng nhì và hạng nhất. Tầng trệt dành cho khán giả hạng nhất và thượng hạng với 500 ghế ngồi có bọc nệm da đỏ. Phía tay phải của rạp hát là một hành lang rộng 5 mét, dài từ cửa trước đến sát phông sân khấu, khoảng chừng 50 mét. Hành lang này dành cho các gánh hát để phông màn, chỗ làm tuồng của một số đào, kép phụ, vũ nữ, quân sĩ và cũng là lối thoát hiểm khi xảy ra hỏa hoạn. Đây là rạp hát hiện đại và lớn nhất ở Sài-Gòn trong ba thập niên 40, 50 và 60. Các thế hệ nghệ sĩ thường gọi rạp Nguyễn Văn Hảo là “thánh đường cải lương” và ngôn ngữ báo chí đã nâng rạp hát thành “hàng không mẫu hạm Nguyễn Văn Hảo”.
Ngày 19 tháng 12 năm 1955, gánh hát Kim Thoa khai trương vở tuồng “Lấp sông Gianh” của soạn giả Kinh Luân, đạo diễn Duy Lân, đã bị một trái lựu đạn tung lên sân khấu và sát hại một số nghệ sĩ lẫn khán giả cũng như rất nhiều người khác bị thương tật.
Ảnh hưởng chiến sự từ Tết Mậu Thân đã khiến cho cuộc sống ở Sài-Gòn bị chao đảo. Năm 1970, rạp hát Nguyễn Văn Hảo được sửa sang lại và cho mướn để làm rạp chiếu bóng. Cuốn phim đầu tiên được trình chiếu tại đây là “Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài” và tiếp theo là “Thích ca đắc đạo”. Rạp hát được đổi tên thành “Ciné Nguyễn Văn Hảo” cho đến ngày mất nước vào năm 1975. Rạp hát bị tiếp quản, bị xóa tên và trở thành rạp Công Nhân cho đến ngày nay. Nhiều năm trôi qua, rạp hát không được tu sửa nên từ trong ra ngoài đã bị hư hại rất nhiều. Phía trước rạp hát, con cháu của ông Nguyễn Văn Hảo mưu sinh độ nhật với tủ thuốc lá lẻ, nước giải khát và cà-phê.
Một rạp hát ghi dấu những đêm hát vàng son của mấy thập niên nay chỉ còn là dĩ vãng. Màn nhung khép lại, nghệ sĩ lau đi gương mặt son phấn và khán giả cũng tản lạc muôn phương. Ước mơ những xuất hát chật kín khán giả, sân khấu rộn ràng tiếng hát, lời ca chỉ là viễn vông bởi dòng sông xưa đã trôi ra biển lớn và có bao giờ trở lại.
***
Đầu thế kỷ trước, ở miền Nam Việt-Nam nổi bật tên tuổi của nhiều thương gia tài ba trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như Trương Văn Bền, Lê Phát An, Nguyễn Hữu Hào, Lê Thanh Liêm, Trần Trinh Trạch, Nguyễn Văn Hảo, v.v.. Bên cạnh cơ nghiệp khồng lồ, họ không những làm giàu cho xứ sở này mà nhân cách, đức độ của từng vị là tấm gương cho các thế hệ sau này phải kính nể và noi theo. Tiếc thay cho một dân tộc bất hạnh, phải cam chịu u mê, tăm tối dưới sự tàn ác của chế độ công an trị hà khắc của “đám chủ mới”. Nước mất, nhà tan và Sài-Gòn, “hòn ngọc viễn đông” năm nào chỉ còn là ký ức của một thuở lụa là đã hun hút, xa xòi.
TV, 16.10.2026
(*) Đương thời, ông Hảo là người yêu chim muông, cây cảnh nên đã thiết kế phần sân thượng trên một diện tích rộng rãi. Một phần sân thượng được ông gọi là “lầu huê viên Nguyễn Văn Hảo”. Thang máy được lắp ráp để “ông Hảo đi lên sân thượng ngắm cây cảnh, chim muông cho đỡ mỏi chân”. Sau khi ông Hảo về quê ẩn dật vào năm 1966, do không ai dùng đến thang máy nên con cháu ông đã tháo ra đem bán



