Hat gao lang toi – Captovan

Thấy cô bạn chung nhà lựa mãi chưa vừa ý bao gạo nào, từ gạo con ngỗng, ông địa, ba cô gái đến nàng hương chợ đào, thứ nào cô cũng chê. Tôi hỏi:

-Cô có biết hạt gạo này từ đâu ra không?

-Thì từ Thái Lan sang.

-Ý tôi hỏi là cô có biết hạt gạo từ đâu mà ra- lý lịch của nó không?

-Biết để làm gì? Có tiền thì mua thứ gì chẳng có.

Nghe cô bạn đã quá bảy mươi mà chưa biết, chưa muốn biết hạt gạo từ đâu mà ra, chỉ cần có tiền là có gạo, nghĩ thế thì “tội” cho người nông dân quá!

Vậy thì tôi xin kể lý lịch “hạt gạo làng tôi” cho cô nghe, hoặc ai muốn nghe.

Tôi gốc ba đời nông dân, con nhà nông không giống ông thì cũng giống bố. Từ sáu tuổi tôi đã biết chăn trâu, nghêu ngao câu hát chế:

-“Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ, ngồi mình trâu, tay sờ sừng trâu rồi ta bóp…cổ trâu”.

Sau ngày gẫy súng, tôi tiếp tục theo đại học “lao động là vinh quang”, nghiên cứu kế hoạch “với sức người sỏi đá cũng thành cơm” nên tôi đã bừa thay trâu cày ở Hoàng Liên Sơn. Với kinh nghiệm ấy, tôi có thể nói rõ về “hạt gạo làng tôi” từ đâu mà ra, không cần tra cứu tài liệu nông nghiệp, không cần hỏi “ây-ai”.

Nào chúng ta khởi đầu đi từ hạt lúa giống.

Nhà nông, công việc đồng áng của thày bu tôi cũng tương tự như những gia đình khác là chọn và tích trữ một vài bao lúa giống-hạt thóc mập chắc, đây là vốn quý phải giữ gìn, dẫu cho có ai ngọt bùi vay mượn thì cũng không cho. Các cụ ta đã khuyên: “Nghe nó ngon ngọt thì có nước bán lúa giống mà ăn”.

Lúa giống mang nhúng nước, ủ cho nảy mầm, rải đều lên thửa ruộng đã cày bừa nhuyền nhuyễn, gọi là gieo mạ. Vài tuần sau cây mạ mọc lên cao chừng gang tay thì nhồ lên, rũ sạch bùn dưới gốc, đem cấy (trồng) ruộng khác. Đây là lúc các bà các cô đi cấy, vừa đi lui vừa cắm ba cây mạ xuống bùn sao cho ngay hàng thẳng lối, nhưng vẫn vui cười trao đổi câu hò, lời hẹn với chàng cày ruộng kế bên:

-“Người ta đi cấy lấy công, tôi nay đi cấy chỉ mong chống cò-có chồng”

Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân, sau nhiều lần xục bùn, nhổ cỏ, bón phân-tốt nhất là “phân bắc” cây lúa mọc cao, trổ đòng-đòng, hạt lúa non ngậm sữa, chờ cho lúa chín đầy đồng thì gặt hái gồng gánh: “gánh lúa về, gánh lúa về” đập lúa tách thóc, rơm ra đôi ngả hai bên.

Rơm cho trâu ăn, đun bếp, hay bó thành từng bó để lợp nhà “mái tranh”.

Còn hạt thóc? Đây chính là hạt ngọc trời cho, đem sàng xảy, phơi khô, bỏ vào cót hay đóng bao. Niềm vui và tự hào của người nông dân khoe làng nước: “Năm nay nhà tôi trúng mùa, một sào thu được hai mươi bao thóc”.

Phơi khô thóc chẳng dễ gì, phơi sân đất không được, phải tìm thuê cho được sân gạch hay xi-măng mà trải đều thóc ra dưới nắng, thỉnh thoảng phải dùng chân trần mà đảo thóc lên, gọi là “cày thóc”: Di-di bàn chân sát mặt đất để đảo hết sân thóc lên thì bàn chân tê đi. Công việc thật nhẹ nhàng, thường được giao cho lũ nhóc, nhưng mỗi làn nghe thầy bu nhắc: “Con đi cày thóc lên” là tôi muốn khóc!

Từ hạt thóc còn phải xay, xẩy, dần, sàng tách vỏ thóc cho ta gạo và trấu. Trấu để đun bếp nhưng gạo chưa thể thành cơm. Gạo cho vào cối giã, tách vỏ gạo ra là cám, cám chỉ để nuôi lợn. Người làm việc luộm thuộm thường bị mắng vốn: “Làm như thế thì có nước ăn cám”. Hạt gạo nào bị cối dập vỡ đôi vỡ ba thì gọi là tấm. Cơm tấm bì thì 80 năm sau ở Bolsa Hoa kỳ mới được ăn! Hạt gạo còn nguyên, trắng ngà là cả một công trình cần thời gian công khó mới có. Có gạo rồi, nấu thế nào, bao nhiêu mới thành cơm?

– “Nấu chín (9) hạt gạo thì thành cơm”.

Dễ thế mà nghĩ cũng không ra!

Lý lịch hạt gạo làng tôi là như thế.

Từ hạt giống đến hạt gạo phải qua bao tháng ngày mưa nắng, qua biết bao công sức cày cấy của người nhà quê. Vì vậy, khi bưng bát cơm nóng, canh sốt trên tay, nếu chưa ngon miệng, xin chớ vội buông lời: “đồ nhà quê” như muốn chê bai.

Bởi chính người nhà quê ấy đã làm ra hạt gạo nuôi người thị thành./.