Tưởng Nhớ thầy Tạ Ký, Cố Giáo Sư Quốc Văn Petrus Ký – Tác Giả Tập Thơ “Sầu Ở Lại”
T. Nguyễn, thầy Dương Ngọc Sum, thầy Nguyễn Sỹ Thân & Tạ Thái
Nguồn: Đặc san “Tạ Ơn Thầy, Nhớ Ơn Cô – Học trò Petrus Ký


Thầy Tạ Ký trong Đặc San Petrus Ký 72-73 (trái)
Nhân mùa Vu Lan năm 2006, một người đàn anh tại Âu châu đã viết gởi cho tôi và bạn bè vài dòng tưởng nhớ về nhà thơ Tạ Ký như sau:
Nhắc đến một thi sĩ, mà tôi nghĩ chắc là rất ít ai biết đến hoặc nhớ tên nhưng có lẽ, rồi thế nào cũng có người, lâu lâu, tự lật lại những trang ký ức của đời mình sẽ không quên những thời điểm, những kỷ niệm… mà tôi cho là mong manh, đành đoạn, hấp hối nhất trong lịch sử chiến tranh VN hiện đại thì chừng đó, rất có thể sẽ có thêm một số không ít người sực liên tưởng đến giải văn chương văn học toàn quốc VNCH vào những năm 1970-71. Vâng, năm đó, giải nhất về bộ môn thơ, là tập thơ “Sầu ở lại” của một thi sĩ đến từ xứ Quảng, sông Thu Bồn – Tạ Ký.
Trong tập thơ ấy, tôi rất tiếc, chỉ nhớ lõm bõm có hai câu thơ:
“Từng đêm chợ Đũi đẫm sầu
“Ly la-de đổ, gội đầu tóc xanh
Tóc xanh ở đây, là tóc của một giáo sư trẻ, Tôn Thất Trung Nghĩa, dạy Vạn Vật ở các trường trung học và cũng là vị Tiến Sĩ Kinh Tế tương lai của trường đại học Luật Khoa thời bấy giờ.
Hơn 30 năm qua… lúc nào tôi cũng hối tiếc vì đã đánh mất đi tập thơ trong đó có những bút tích của tác giả.
Mới vừa rồi đây, đứng trước mộ của thi sĩ Tạ Ký, tôi chỉ biết thầm nghĩ rằng: nỗi sầu của thầy trong thơ mà trò đã mang theo, trân quý đến chưa dám đọc, chưa thấm thía, chưa thấu hiểu… cho đến bây giờ có lẽ vẫn còn lưu lạc đến tận phương nào?
Sầu giữ lại
Sầu giữ lại, Thu Bồn vơi hay cạn
Nay chỉ về giữa mộng uống say xưa
Bao năm rồi chẳng nói, chẳng gì thưa
Đây phấn bảng, trường xưa… trông như thật?
Mỗi ngày trôi, giữa dòng đời tất bật
Hằn quên rồi bài học cũ thầy cho
Giữa chập chùng chìm nổi với âu lo
Ai mà nhớ hồn thơ sầu chợ Đũi?
Dường như đấy dáng thầy nghiêng, buồn tũi
Lỡ cả thời, lỡ vận, lỡ cơ may
Giữa chợ đời nghiệt ngã tỉnh như say
Cùng tri kỷ, nâng ly chào tao ngộ
Sao không bước thênh thang vào hoạn lộ
Đề tên mình văn học sử lưu thơ
Hay là thầy, chỉ ước rất đơn sơ
Cùng Lý Bạch thả sầu trôi sóng nước.
Vulan 2006/Tnguyen
Khi đọc những dòng trên của anh TNguyen, lòng tôi có chút xốn xang vì mặc dầu tôi không học với thầy Tạ Ký tại Petrus Ký, nhưng tôi đã gặp thầy vài lần trong trường, nhất là vào năm Đệ Nhất. Thầy hay đứng trước hành lang của phòng Giáo Sư hút thuốc. Tôi nhớ dáng thầy hơi thấp, mang kính gọng đen, có bộ râu tỉa rất khéo, đi dạy tay xách cặp da, áo đôi khi bỏ ngoài quần, miệng luôn ngậm ống điếu, tỏa mùi hương thơm phức của thuốc nhồi Half & Half hoặc Prince Albert mà thầy thường dùng.
Trả lời cho anh T. Nguyen:
Bây giờ thì tôi đoán ra anh là ai rồi. Tôi xin được phép gởi tặng lại anh bài thơ mà thầy Tạ Ký viết tặng cho Giáo Sư Tôn Thất Trung Nghĩa vì anh và tôi đã gặp thầy Tôn Thất Trung Nghĩa khi thầy đi tu nghiệp tại Naples, Ý Đại Lợi. Thầy Tôn Thất Trung Nghĩa có ghé qua chơi với bọn tôi (Bảo Lan, Đỗ văn Thành, Sơn rệp) đôi ngày tại Padova. Trí nhớ anh khá lắm. Và đây là bài thơ thầy Tạ Ký viết tặng thầy Tôn Thất Trung Nghĩa:
Từng đêm chợ Đũi đẫm sầu
Ly la-de đổ, gội đầu tóc xanh
Người sơn dã lạc kinh thành
Ngả nghiêng đáy cốc độc hành trong đêm
Không biết anh có biết, trước 1975, quán rượu lộ thiên tại chợ Đũi, nơi góc đường Trần Quý Cáp và Lê văn Duyệt là nơi thầy Tạ Ký gặp gỡ bạn bè (trong nhóm bạn rượu của thầy có giáo sư Tôn Thất Trung Nghĩa, thầy Dương Ngọc Sum, thầy Lê Tấn Lộc, thầy Nguyễn Xuân Hoàng, Cam Duy Lễ, v.v.) mỗi buổi chiều sau khi đi dạy về.
Thầy Sum cho biết ngoài Petrus Ký, thầy Tạ Ký và thầy cùng dạy tại trường tư Thục Tân Văn. Thầy Sum nói thầy Tạ Ký giảng bài rất có duyên và lôi cuốn nên tại Tân Văn, học sinh hay trốn học đi bát phố thế mà đến giờ Văn của giáo sư Tạ Ký là lớp không còn một chỗ trống. Thầy Sum diễn tả thêm:
– Vào những năm 71, 72, khi thầy là Phụ Tá Giám Học tại Petrus Ký, nên nhiều khi thầy đi rảo ngoài hành lang xem và nghe thầy cô dạy học, khi đi ngang qua lớp của thầy Tạ Ký, thầy đứng nán ngoài hành lang nghe thấy Tạ Ký giảng và “chân còn muốn không rời” huống hồ chi là học sinh trong lớp.
Chẳng biết khi nào thì tôi nghĩ và viết về thầy Tạ Ký. Trí nhớ tôi dị hợm lắm. Tôi hay lộn tùng phèo giữa thầy Tạ Ký với thầy Vũ Ký (cũng dạy Việt văn tại Petrus Ký và hiện sinh sống tại Bruxelles) và họa sĩ Tạ Tỵ cho đến khi tôi ghé thăm thầy Nguyễn Sỹ Thân, cựu Giáo Sư Lý Hóa của Petrus Ký, tại Milpitas.
Thầy Tạ Ký hút pipe và thầy Nguyễn Sỹ Thân ngồi bên trái của thầy (trong phòng giáo sư trường Petrus Ký). Nguồn: thầy Nguyễn Sỹ Thân
Mấy mươi năm không gặp, thầy Thân mang ra cho tôi xem một số hình ảnh cũ của Petrus Ký mà thầy còn giữ. Thầy chỉ cho tôi một tấm ảnh (đính kèm dưới đây) và hỏi tôi có biết người hút ống điếu, ngồi kế bên thầy trong hình, là ai? Tôi lắc đầu chịu thua. Thầy Thân gợi ý cho tôi thêm:
– Thầy này nổi tiếng lắm vì đã thắng giải văn học toàn quốc VNCH vào năm 70-71.
Tôi lắc đầu chịu thua, không nhớ. Thầy Thân mách thêm:
– Em có nhớ tập thơ Sầu Ở Lại?
– Em nghe quen quen.
– Thầy Tạ Ký đấy.
Lúc ấy trí nhớ của tôi mới vùng sống dậy.
Thầy Thân kể cho tôi một chút kỷ niệm với thầy Tạ Ký. Hai thầy khá thân nhau lúc đi dạy tại Petrus Ký mặc dầu thầy Thân trẻ hơn thầy Tạ Ký gần mươi tuổi vì thầy Tạ Ký người Quế Sơn (Quảng Nam) và thầy Nguyễn Sỹ Thân gốc Huế.
Tôi cứ nghĩ chuyện về thầy Tạ Ký vậy là xong.
Ai ngờ đến ngày 13 tháng Giêng, 2007, tôi xuống San José đưa đám tang cô Thu Thủy, hiền thê của thầy Hiệu Trưởng Trần văn Nhơn. Tại tang lễ này, tôi gặp thầy Dương Ngọc Sum từ Nam California lên dự đám tang. Tôi ngồi hầu chuyện với thầy Sum vì mấy chục năm không gặp lại thầy, tôi bất chợt hỏi thầy Sum còn liên lạc với thầy Ngô Thanh Nhàn về chuyện giúp đỡ các thầy cô nghèo yếu bên nhà. Và tình cờ trong câu chuyện, thầy Sum cho tôi biết mối liên hệ giữa thầy và các thầy Tạ Ký, Ngô Thanh Nhàn, Đặng Quốc Khánh và Nguyễn văn Được (thầy Được đã hy sinh trong cuộc hành quân tại Củ Chi).
Thầy Sum nói ngoài tình đồng nghiệp là Giáo Sư Petrus Ký, các thầy kể trên cũng là bạn đồng khóa 14 Sĩ Quan Thủ Đức. Thầy Sum cho biết thầy Tạ Ký dạy học tại Petrus Ký từ 1958 đến 1975 (ngoại trừ những năm vào lính). Thầy Tạ Ký lớn hơn thầy Sum vài tuổi, nhưng trên giấy tờ thì thầy Tạ Ký đồng tuổi với thầy Sum. Thầy Sum tâm sự:
– Sau khi quen nhau tại Petrus Ký, vận mệnh thầy Tạ Ký gần như dính liền với vận mệnh của thầy. Hai thầy gần như đi đâu cũng có nhau. Những ngày trong quân trường cũng có nhau và sau 75, khi đi học tập cải tạo cũng cùng gian khổ với nhau.
Trong hành lang rộng của nhà quàng Oak Hill Mortuary, thầy Sum ngồi ngâm cho tôi nghe bài thơ “Sầu Ở Lại”, bài thơ mà thầy Tạ Ký đã thắng giải văn chương văn học toàn quốc vào năm 1970 -1971. Không biết thầy viết bài thơ này trong hoàn cảnh nào, nhưng gần như thầy tự tiên đoán số mệnh của thầy, ở lại quê hương một mình và lúc mất đi, không có gia đình, người thân bên cạnh.
Đời lỡ nhúng sầu bên cốc rượu
Mượn vui bè bạn sống qua ngày
Đoạn trường hơn cả thân ca kỷ
Cơm áo làm quên chuyện nước mây
Năm cùng tháng tận đời hoang vắng
Bên quán ngờ đâu lại gặp mầy
Gọi để mừng nhau khi hội ngộ
Thì xin hãy cạn chục ly đầy
Quàng vai tìm chút dư hương cũ
Nhắc đến hằng trăm chuyện đổi thay
Nhắc đến những thằng nay đã chết
Những thằng đang sống kiếp trâu cày
Bạn ơi, nước mắt mình tuôn đấy
Ngồi nhậu bên đường ta khóc đây.
Lời ngâm của thầy Sum ngân vang trong hành lang của nhà quàng Oak Hill Mortuary và tôi có cảm tưởng thầy Tạ Ký đang ngồi phì phà ống điếu thưởng thức lời thơ khiến tôi rùng mình, nổi da gà.
Sau khi ngâm xong bài thơ, thầy Sum nghẹn lời:
– Em có biết, sau khi vận nước đổi thay, gia đình thầy và gia đình của thầy Tạ Ký gần như tan vở. Chỉ có khác là thầy còn sống và được theo diện HO qua định cư tại Hoa Kỳ, nhưng thầy Tạ Ký bị bắt trong lúc chờ vượt biên và qua đời vào ngày 19 tháng 3 năm 1979 trong cô độc tại Chợ Mới, An Giang.
Thầy Sum đọc cho tôi nghe vài câu thơ ngắn thầy Tạ Ký đã viết cho cô Tuyết Hồng trong khi đi cải tạo tại Xuân Lộc vào năm 1976:
Anh đã nhận được
Gói quà ba ký
Quà tuy nhỏ nhưng cột giây rất kỹ
Như sợi tơ tình em đã cột đời anh
Trong bài viết của ông Phạm Phú Minh (một người bạn học tại trường Tiểu Học Bình Sơn, tại Quảng Ngãi) về thầy Tạ Ký, ông Minh nhớ khi còn học bậc Tiểu Học, thầy Tạ Ký đã thích làm thơ (dưới bút hiệu Tạ Tập Tò) và thích đá banh. Thầy giữ gôn rất khá. Ông Minh cho biết thầy Tạ Ký mất vì bệnh gan tái phát (không biết có phải vì uống nhiều rượu??). Khi mộ phần của thầy Tạ Ký gần như bị mất dấu vì không có ai chăm sóc, bạn bè nghệ sĩ trong và ngoài nước và một người cháu của thầy, Đỗ Ngọc Anh, đã hợp công, hợp của cải táng thấy tại nghĩa trang Gò Dưa (nơi yên nghỉ của các nghệ sĩ), gần Thủ Đức vào ngày Thanh Minh năm Tân Tị (ngày 5 tháng 4 năm 2001).
Đây là tiểu sử của thầy Tạ Ký (tóm tắt lại từ nhiều bài viết):
Thi sĩ Tạ Ký sinh năm 1928 tại làng Trung Phước, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, con của ông Tạ Diệu và bà Huỳnh thị Quế. Theo học bậc tiểu học tại trường Bình Sơn (Quảng Ngãi), đậu tiểu học năm 1942. Ông có ba người vợ. Bà vợ đầu tiên là bà Bùi thị Tư, con gái của một gia đình giàu có, do cha mẹ ông xếp đặt. Đám cưới được tổ chức vào năm 1946, khi ông vừa 18 tuổi. Cuộc hôn nhân này chỉ kéo dài 6 tháng.
Đến năm 1949, gia đình lại cưới vợ lần thứ nhì cho ông. Ông và người vợ thứ nhì, bà Trương thị Cẩm (quê ở Phú Xuân, huyện Đại Lộc, Quảng Nam) có một người con gái, Tạ thị Hương, sanh năm 1951. Sau hai năm chung sống vì gia đình chồng quá khắt khe, bà Hương rứt ruột để lại đứa con một tuổi cho nhà chồng nuôi dưỡng và chia tay với ông.
Năm 1952, ông theo học tại trường Phan Chu Trinh (Cẩm Khê, Quảng Nam), nhưng sau đó về Huế học nốt bậc Trung Học tại trường Khải Định (Quốc Học). Trong lúc thầy Tạ Ký theo học tại Quốc học có giai thoại sau về cuộc tình thơ giữa hai người thơ: thầy Tạ Ký (Quốc Học) và cô Phùng Khánh (Đồng Khánh) (1). Thầy Tạ Ký lúc ấy có tiếng là học trò giỏi và xuất sắc về thơ văn ở Huế:
“Học trò trong Quảng ra thi,
Thấy cô gái Huế chân đi không đành!”
Cô Phùng Khánh, lúc bấy giờ là hoa hậu Đồng Khánh, tài năng văn chương cũng cân xứng với họ Tạ, một chín một mười. Tiếc thay, mối tình giữa đôi “trai tài gái sắc” đã không nên duyên được, để lại cho đời những bài thơ son sắt não nùng. Nào ngờ họ sớm chia tay vì tương lai sự nghiệp! Chàng phải vào Sài Gòn theo học Đại Học (ở Huế chưa mở trường) để nàng ở lại đêm ngày vò võ nỗi sầu. Một thời gian sau, nóng lòng, thầy Tạ Ký đăng một bài thơ trên báo Tiền Phong, nói lên những uẩn khúc tơ vò trong tâm tư tình cảm:
Viết Trang Tình Sử
Gởi Phùng Khánh
(Tạ Ký)
“Ai về xứ mộng xứ mơ,
Cho tôi gởi một vần thơ tặng nàng
Sông Hương lắm chuyến đò ngang,
Chờ anh em nhé, đừng sang một mình!
Chờ anh kể chuyện tâm tình.
Từ em theo đuổi những hình phù vân…
Thôi em đã lỡ một lần.
Mấy năm đau khổ đã dần vơi vơi…
Nghĩ thương có kẻ sai lời
Nghĩ thương em những mong đời anh nên!
Xa xôi nhiều lúc vội quên
Rằng em gái vẫn chong đèn đọc thơ
Vẫn cầm duyên để đợi chờ,
Vẫn trông phượng đỏ hai bờ Hương Giang
Chiều lên huyền hoặc bướm vàng
Em như công chúa mơ chàng thăm hoa.
Không, em tôi còn mẹ già
Còn đàn em dại cửa nhà cậy trông
Hễ ai nhắc chuyện lấy chồng
Thì em đôi má ửng hồng nên duyên!”
Bài thơ này của thầy Tạ Ký đã được tái ấn bản trong quyển “Quốc Học trường tôi” (nhà xuất bản Thuận hóa Huế 1996), ấn hành nhân dịp kỷ niệm 100 năm thành lập trường. Đây là một tập hợp những tác phẩm tuyển chọn về thơ, nhạc, học, nhiếp ảnh của các tác giả từng theo học ở trường Quốc Học.
Cũng trên tuần báo Tiền Phong, vài tuần sau Phùng Khánh “trả lời” Tạ Ký:
Chép Trang Tình Sử
Gởi Tạ Ký
(Phùng Khánh)
“Em về xứ mộng xứ mơ
Bỗng nhiên em nhận vần thơ vội vàng
Sông Hương vắng chuyến đò ngang
Cắm sào em đợi, anh sang một lần !
Mùa thu áo biếc bâng khuâng
Chim trời lẻ bạn ngàn trùng nhớ thương!
Con tằm còn để tơ vương
Người thơ còn để mấy đường thơ duyên
Đêm đêm sông nước u huyền,
Đêm đêm mơ ước như thuyền sóng dâng!
Xa xôi cách mặt, lòng gần
Tờ thơ mấy đoạn chi bằng thấy nhau!
Ngự Bình mặt trước lưng sau
Vẫn thường thay đổi mấy màu thông xanh
Chờ anh em nguyện chờ anh,
Chờ anh em nguyện mối tình nên duyên!”
Bẵng đi một thời gian lâu, phải có đến 5, 7 năm sau, trên báo Tiền Phong lại xuất hiện một bài thơ, sau đây, gởi cô Phùng Khánh của thầy Tạ Ký:
XIN
(Tạ Ký)
Gởi Phùng Khánh
“Chỉ xin một nửa miệng cười
Chỉ xin một phút gần người yêu thương !
Chỉ xin một chút dư hương
Để làm duyên suốt nẻo đường viễn du !
Tình duyên thì đã tạ từ,
Năm năm đấy nhỉ, thực hư thế nào ?
Má còn làm thẹn hoa đào
Mắt còn làm nhạt ngàn sao trên trời ?
Tóc còn xanh thuở hai mươi
Đại dương còn sóng hai bờ thuở xưa !
Từ ngày lạc một thế cờ
Đắng cay nhiều nỗi, ngẩn ngơ, khóc thầm
Trang tình sử, truyện tri âm,
Khổ đau ai thấu được tâm sự này?
Phong yên từ độ những ngày
Hậu đình hoa, cũng cau mày thế nhân
Đỉnh đồng chưa vững ba chân
Hai thuyền thì đã phong trần cả hai…”
[Nguồn: Những Cuộc Tình Thơ, Phạm Phú Hay, trích từ Đặc San Quảng Đà Năm Mậu Dần 1998]
Sau khi đỗ Tú Tài, thầy Tạ Ký vào Sàigòn năm 1956 vừa dạy Việt Văn tại Petrus Ký vừa học Đại Học Văn Khoa và Luật Khoa. Thầy tốt nghiệp Cử Nhân Văn Chương vào năm 1962. Cùng thời gian này, thầy thành hôn cùng bà Nguyễn thị Tuyết Hồng, người tỉnh Bến Tre, và có hai con là Tạ Thạch và Tạ Thái. Thầy đã sáng tác tập thơ Sầu Ở Lại vào cuối thập niên 60 và tập thơ Cô Đơn Còn Mãi trước chính biến 75 nên ít người biết đến.
Thầy nhập ngũ khóa 14 sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức. Sau khi ra trường, thầy dạy Triết tại trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Năm 1966, xuất ngũ, thầy trở về dạy học tại các trường Petrus Ký, Hưng Đạo, Phục Hưng, Tân Văn, Đạt Đức, v.v.
Năm 1975, thầy bị đi cải tạo hơn 2 năm vì là giáo sư biệt phái và khi trở về thì vợ và hai con đã vượt biên ra đi. Hiện cô Tuyết Hồng, vợ của thầy, đang sống tại Hoa Kỳ với người con út, Tạ Thái.
Cô Tuyết Hồng với hai con, Tạ Thạch và Tạ Thái (Tạ Thạch đã qua đời). Nguồn: Tạ Thái
Mộ của thầy Tạ Ký, tại nghĩa trang Gò Dưa, tọa lạc gần mộ của thi sĩ Bùi Giáng (bạn cùng xóm với thầy Tạ Ký)
Theo lời Tạ Thái thì mẹ cậu, bà Nguyễn thị Tuyết Hồng là học trò của thi sĩ Bùi Giáng và thi sĩ Bùi Giáng đã giới thiệu bà với thầy Tạ Ký. Thầy Tạ Ký đã cảm tạ ông mai Bùi Giáng với bài thơ sau:
Dáng Xưa
(tặng Bùi Giáng)
Để em theo dõi bụi ngàn
Dáng xưa còn đọng thời gian mắt sầu
Buồn lên từ thưở bạc đầu
Đôi tay vô vọng nguyện cầu dáng xưa
Từ lâu, tôi ngưỡng mộ cái điên rất ngang tàng, rất hào phúng của thi sĩ Bùi Giáng nên khi nghe hàng xóm của thầy Tạ Ký là Bùi Giáng, ôi chao tôi vui cho thầy vì bây giờ thầy tha hồ mà nghe Bùi Giáng “Tiếu Lâm Giao Chỉ”.
Đọc những dòng nhật ký cuối cùng thầy Tạ Ký viết từ 24 tháng 9, 1978 cho đến 24 tháng 12, 1978, tại Chợ Mới, trước khi thầy Tạ Ký bị quản thúc tại Chợ Mới vì tội cư trú bất hợp pháp, mới biết nổi lòng của thầy khắc khoãi nhớ vợ, thương con. Thầy viết:
– Không biết hôm nay chúng nó (Thái, Thạch) ra sao? Sống hay chết? Mong rằng ngày nào đó, mình sẽ được tin chúng.
Thầy Tạ Ký ơi, mặc dầu vợ chồng, cha con không gặp lại nhau, nhưng em biết thầy hãnh diện vì Tạ Thái trưởng thành và có hiếu với mẹ cha. Tạ Thái giờ làm thơ, làm văn nghệ và có nghệ sĩ tính không kém thầy lúc xưa. Tạ Thái vừa cho tin là Tạ Thạch đã mất vào năm 2006.
Phụ chú:
1. Cô Phùng Khánh hay Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh (9.3.1938- 7.12.2003) (Mậu Dần), tại Vỹ Dạ, tỉnh Thừa Thiên, thành phố Huế, nguyên quán Gia Miêu Ngoại Trang, Thanh Hóa. Cô là con thứ năm trong sáu người con của thầy Nguyễn Phước Ưng Thiều, cựu giáo sư Hán văn Petrus Ký. Năm 17 tuổi, cô đỗ Tú tài toàn phần, xong tiếp tục vào trường Đại học Sư phạm và sau khi tốt nghiệp, đã đi dạy trường Phan Chu Trinh – Đà Nẵng. Năm 1960, cô sang Mỹ du học và tốt nghiệp Cao học ngành Thư viện (M.A). Cuối năm 1963, cô về nước gặp lúc Viện Cao đẳng Phật học Việt Nam ra đời, đã cùng với em gái là Tôn Nữ Phùng Thăng vâng lời Hòa thượng Trí Thủ đến phụ tá Ni trưởng chùa Phước Hải, quán xuyến cư xá Nữ Sinh Viên và làm việc tại chùa Pháp Hội. Năm 1964, cô quyết dứt trần duyên, cắt tóc xanh, xuất gia y chỉ Ni trưởng Diệu Không tại chùa Hồng Ân (Huế) và đã được thọ giới Sa-di Ni với pháp danh Tâm Hỷ, pháp hiệu Thích Nữ Trí Hải. Sau đó, Người được Giáo Hội cử làm thư ký cho Thượng tọa Viện trưởng Thích Minh Châu khi Viện Cao đẳng Phật học trở thành Viện Đại học Vạn Hạnh. Năm 1968, Ni trưởng thọ giới Thức-xoa-ma-na tại Nha Trang và được Thượng tọa Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh bổ nhiệm làm Thư viện trưởng và giám đốc Trung tâm An sinh xã hội của Viện. Từ đó Ni trưởng tham gia việc giảng dạy, dịch thuật, thuyết pháp cho sinh viên, Tăng Ni Phật tử tại Viện và thực hiện công tác An sinh từ thiện cho đồng bào bị thiên tai bão lụt và chiến tranh.
Khi Viện Phật học Vạn Hạnh được thành lập, Ni trưởng tiếp tục làm Giảng sư tại Thiền viện Vạn Hạnh rồi giảng dạy tại các trường Cao cấp Phật học và Học viện Phật giáo Việt Nam, phụ trách lớp Trung Bộ Kinh bằng Anh ngữ cho Tăng Ni sinh.
2. Bài viết này được đóng góp ý kiến và hình ảnh bởi các thầy Dương Ngọc Sum, và Nguyễn Sỹ Thân, anh TNguyen (không phải cựu học sinh Petrus Ký) và Tạ Thái, con trai thầy Tạ Ký.
Nhớ thầy học – Nhà thơ Tạ Ký
Cách nay 33 năm, lúc thực hiện Báo Xuân P.Ký 1975, ngoài phần bài vở của học sinh, ban biên tập gồm Luân, Hoàn và một số bạn khác bàn nhau dành phần đầu Đặc san để “đi” 2 bài của các thầy Nguyễn Xuân Hoàng và thầy Tạ Ký, là những giáo sư của trường có vị trí nhất định trong giới văn học nghệ thuật miền Nam thời ấy.
Nhà thơ Tạ Ký, danh tiếng lẫy lừng, mới đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật của Phủ Tổng Thống về thơ cách đó ít năm (1972) với thi phẩm Sầu ở lại.
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đang là thư ký tòa soạn tạp chí Văn (một tạp chí văn chương danh giá đương thời).
Tôi lãnh nhiệm vụ đi xin bài viết của các thầy. Gặp thầy Hoàng trước, tôi đề nghị thầy đưa cho bản thảo bài viết diễn văn đọc trong buổi lễ “Ngày Nhớ Ơn Thầy” tổ chức vào ngày 06 tháng 12 năm đó. Năm 1975, là năm đầu tiên tổ chức sự kiện này nên buổi lễ làm rất trang trọng. Có tổ chức hội trại, trình diễn văn nghệ, thể thao, thi bích báo… Có sự hiện diện của Phụ tá Tổng trưởng Bộ Giáo dục là thầy Nguyễn Thanh Liêm. Tôi còn nhớ phần kết rất cảm động của bài nói này, thầy Hoàng đã trích một đoạn thư của cha An Di gửi cho con :” An Di con ơi…(An Di Enrico – là nhân vật chính trong tác phẩm Les Grands Coeurs của nhà văn Ý Edmond De Amicis – chuyển ngữ từ tiếng Pháp sang tiếng Việt với tên Tâm hồn cao thượng) Sau tiếng Cha, thì tiếng Thày là tiếng gọi xứng đáng nhất mà một người có thể dành tặng cho một người …” và theo “lịnh của thầy Hoàng, tôi đã viết 1 chapeau cho bài này để đăng trong số báo Xuân năm ấy. Còn Thày Tạ Ký thì đưa cho 3 bài thơ xé ngay trong tập bản thảo đánh máy chưa in. Bài thứ nhất là một bài thất ngôn bát cú:
Từ Hội Đạp thanh
Một vó câu từ hội Đạp thanh
Làm đau luôn cả khách biên đình
Bên cầu tơ liễu duyên e ấp
Giữa chốn ba quân nhạc rập rình
Vườn Thúy mở ra trang lệ sử
Châu Thai khép lại chuyện u tình
Bình rơi trâm gãy còn chi nữa
Vời bãi sông Tiền nấm cỏ xanh*
Ai hay ý cỏ gợi nên duyên
Một chút hoài xuân tội đỗ quyên,
Hồng phấn khó ngăn cơn gió loạn
(còn 5 câu nữa nhất thời chưa nhớ ngay, hẹn để bổ túc sau – hiepth cứu bồ coi…mấy câu sau nằm trong trang thơ Tạ Ký hiepth đã scan Đặc san Xuân 1975 đã post lên gallery rôi nhưng nay đã mất)
* Câu này, tôi nhớ áng chừng, không chắc đúng, vậy để tồn nghi.
Bài thứ hai là một bài thơ buồn hình như gắn liền với sự kiện gia đình riêng của thầy:
Nhớ thêm
Em có về trong khói thuốc say?
Em có về trong ly rượu đầy?
Em có về trong thương với nhớ?
Em có về trong mộng đêm nay?
Em đâu về vì em quên anh!
Em đâu về hoang vu kinh thành..
Tại em nên thức nhiều đêm trắng,
Khói thuốc che mờ mái tóc xanh
Anh đi tìm em qua cánh chim,
Anh đi tìm em qua bao đêm,
Cánh chim đã lướt theo chiều gió,
Hơi rượu càng làm anh nhớ thêm.
Bài này, về sau khi bọn tôi, Hoàn và Nguyễn Đình Anh đưa xuống nhà in Trí Đăng – đường Nguyễn Thiện Thuật sắp chữ xong chuẩn bị in thì thầy đã lặng lẽ đổi bằng bài khác “Bài Ca Xuân Cho Người Già” với lý do nội dung bài Nhớ Thêm quá bi thương không phù hợp với tuổi học trò. Ấy là lời bác Châu Anh – quản lý nhà in nói lại. Thật cảm động cho tấm lòng của một người thầy.
Bài này hồi các Diops còn ở Viet nam, buổi nhậu nào tôi cũng đọc… Tôi còn nhớ những năm 1980, trong một buổi nhậu rượu đế với Trần Long Ẩn (nhạc sĩ tác giả Người Mẹ Bàn Cờ – cựu sinh viên Văn Khoa – Triết Đông), khi nghe bài này, đã nức nở khen hay.
Hay như bốn câu này, nhạc sĩ Y Vân đã mượn tứ thơ để phát triển và soạn bài hát “Buồn” nổi tiếng.
“….Buồn như ly rượu đầy,
Không có ai cùng cạn,
Buồn như ly rượu cạn,
Không còn bạn để say…”
Những năm sau này, tình cờ vào http://www.petrusky.org, lại tìm được bài “Sầu Ở Lại này….là bài thơ được lấy làm tên tập thơ đã đoạt giải Văn học nghệ thuật Phủ Tổng thống VNCH năm 1972.
Sầu ở lại
Đời lỡ nhúng sầu bên cốc rượu,
Mượn vui bè bạn sống qua ngày,
Đoạn trường hơn cả thân ca kỷ
Cơm áo làm nên chuyện nước mây…
Năm cùng tháng tận đời hoang vắng
Bên quán ngờ đâu gặp lại mày
Gọi để mừng nhau khi hội ngộ
Thì xin hãy cạn chục ly đầy
Quàng vai tìm chút dư hương cũ
Nhắc đến hàng trăm chuyện đổi thay…
Nhắc đến những thằng… nay đã chết
Những thằng đang sống kiếp trâu cày
Bạn ơi, nước mắt minh tuôn đấy…
Ngồi nhậu bên đường… ta khóc đây….”
Và hai câu thơ gần như là thơ tuyệt mệnh trong di cảo của nhà thơ, được khắc trên bia mộ do thân hữu và gia đình lập:
“Thân cát bụi chẳng còn chi hối tiếc
Nhưng lòng riêng khao khát chút tình thương…”
Để kết bài viết này tôi xin mượn một câu của bạn Đỗ Kha (P.Ký 76):
“… Hãy dành phút mặt niệm cho người quá cố. Người thi sĩ bạc mệnh. Người thầy tuy nghiêm khắc nhưng hài hòa, tuy mực thước nhưng rộng lượng.” như một nén nhang lòng kính dâng lên thầy.
Vỹ thanh:
– Những năm 1975, 76, tôi có đọc một câu thơ của bạn tôi … Lạc nẻo vọng Thúy trang . Lúc đó tôi cho câu này là lạc loài, không hợp với đoạn thơ và bài thơ ấy, lại rất riêng tư. Nhưng bây giờ đọc câu “Vườn Thúy mở ra trang lệ sử” thì lại thấy câu thơ xưa của bạn tôi hay và hợp lý vô cùng.
– Năm 1974, tôi có một bài thơ tặng Thầy đăng trong Đặc san Xuân P. Ký có mấy câu như vầy:
…Chống kiếm trông trời mấy chục năm,
Từ khi nhân thế đón ta nhầm,
Đã xin ra kiếp làm thi sĩ,
Đành phải đem đời trao bạch vân..”
và quên…, may ra có NPHuy và LVHoà còn nhớ hết bài.
Được đăng bởi hoansansg tại Thứ tư, tháng chín 05, 2007
[Nguồn: http://www.vafeo.org/songnhi/viewtopic.php?t=161%5D
Mời đọc thêm:


