Xuân 2011, nhân dịp về miền Đông Bắc Hoa Kỳ dự buổi họp mặt các bạn Không Quân cùng khóa và cũng là dịp được ngắm hoa anh đào nở dọc theo bờ hồ bao quanh khu Lincoln Memorial.

Trong buổi tiệc, gặp lại bạn cũ, tay bắt mặt mừng, cùng thăm hỏi nhau, nhắc đến các bạn bè cũ khi còn học cùng trường trường Petrus Ký nhưng khác lớp. Ngồi chung bàn với tôi là anh bạn cùng học với nhau nhưng khác lớp, tôi lớp B và anh lớp D. Trong lúc trò chuyện, tôi kể những kỷ niệm của tôi với bạn bè cùng lớp, nhắc đến tên những bạn cũ…. những người bạn mà hơn nửa thế kỷ không có dịp gặp lại. Anh bạn cho biết là anh có biết anh Chế Quang Ái hiện sống ở Virginia nếu muốn liên lạc thì cho anh địa chỉ email để anh chuyển đến anh ấy.

Tuần lễ sau, tôi nhận được email của anh Chế Quang Ái, với những lời thăm hỏi thân tình cùng với tấm ảnh lớp B chụp chung với thầy dạy toán chúng tôi là thầy Nguyễn Văn Cang.

Nhìn trong ảnh, tôi còn nhận ra ngay một số bạn cũ hơn sáu mươi năm không gặp lại. Hình dáng của thầy Nguyễn Văn Cang với cái bụng to như bụng ông Địa, người thấp sủn, đi cà bơi, miệng luôn bập bập ống pipe, nhả khói thơm phức cả lớp. Trong mọi giáo sư, tôi mến thầy Cang nhất vì mặc dầu ông ấy hay luôn la chưởi học trò, merde, cochon…. nhưng lối dạy của thầy Cang rất hay và ngắn gọn trong démonstration về toán. Đến giờ math với hình vẽ parabole, hyperbole, đứa nào lên trình bày lưu loát, hình vẽ trên tập vẽ 20 điểm, có đứa không thuộc bài, lên nói lắp bắp không xuôi bị cho zéro encadré, thế là bị đi consigne. Trò nào lên vẽ parabole hơi méo, ông cho 5 điểm, xong ông ta phán một câu: “Bây vẽ parabole giống như cái bà vợ của bây vậy”, cả lớp cười rộ lên. Tuy nhiên đến giờ học cuối năm, thầy Cang tâm sự cùng học trò: “Tao nói vậy chớ lúc bấy giờ có vợ con gì đâu.”

Tình tình ông rất cương trực và bướng bỉnh. Tôi nhớ lại sau vụ Trần Văn Ơn, vấn đề an ninh trong trường được thi hành rất chặt chẽ, mỗi lần mãn giờ là cửa lớp khóa lại, sợ có kẻ lỏn vào vẽ bậy lên bảng. Khoảng thời gian 50-51, ông Nguyễn văn Còn về thay thế ông Lê Văn Kim làm Proviseur vì cho rằng ông Kim quá yếu trong việc kiểm soát an ninh trong trường. Ông Huấn vẫn giữ chức Censeur.

Một hôm, ông Nguyễn Văn Tâm, lúc ấy là Tổng trưởng Nội vụ, bất thần vào lớp thầy Cang với vài nhân viên an ninh đi theo. Thay vì chào hỏi ông tổng trưởng, thầy Cang quay lưng lại chẳng nói câu nào. Có lẽ thầy không thích ai làm gián đoạn giờ dạy của thầy. Ông Tâm giận dữ bèn ra lệnh: “Emmenez moi ce gros home” Thế là thầy bị nhân viên an ninh đưa về bót cảnh sát, không biết thầy có bị nhốt hay chỉ để thị oai mà thôi.

Thầy Cang hưu trí và về sống ở Paris. Ngày lễ Noel năm 1953, lúc đó tôi đã vào Không Quân và đang thụ huấn tại trường Không Quân Rochefort, miến Tây nước Pháp, khi được nghỉ phép, tôi đáp xe lửa lên Paris cùng với mấy bạn khác hưởng lễ Giáng Sinh ở Paris. Trong lúc vừa đi vừa ngắm các món hàng trong chợ thuộc khu phố St. Germain, tôi chợt nhìn lên nhận ra thầy cũ, cũng cái bụng to đi đứng nặng nề, tay xách giỏ mua thực phẩm. Thầy trò gặp nhau, tay bắt mặt mừng, thăm hỏi nhau và tôi mới biết thầy Cang là dân Tây nên đến khi hưu trí ông ấy về dưỡng già bên ấy. Thầy Cang đưa tôi về appartement của ông ở với hai đứa con gái. Ông làm cơm và mời tôi dùng cơm chung với gia đình.

Trong thời gian từ năm 1948 đến năm 1953, tôi đã nhớ lại nhiều giáo sư đã dạy những lớp như Sử Địa, Văn chương Pháp, Việt Văn, Toán, Lý-Hóa. Nhưng ông giảng văn rất say sưa nhất là truyện Kiều. Ông thường cho học trò về soạn một đoạn thơ trong truyện Kiều, đến giờ của ông, một trò được kêu lên và đọc một đoạn ngắn, xong giảng nghĩa lại với những lý luận riêng của mình, nếu biết giải thích theo đúng ý thầy thì thầy cho điểm cao lắm. Giáo sư Tâm, cô Dung dạy Sử-Địa, thầy Tước dạy môn Lý-Hóa, môn Anh văn có giáo sư Thuật, người hiền lành ăn mặc rất chic. Khi lên second có hai giáo sư Pháp là bà Bonne Argent dạy môn Histoire và ông-Delagoute dạy Pháp văn. Giáo sư Văn dạy Pháp văn một thời gian ngắn ở lớp 2ème année, ông nói tiếng Pháp rất nhanh, nhiều khi lập bập. Thầy An dạy dessin, thầy Kiệt, thầy Thử dạy Toán. Thầy Nguyễn Văn Trường dạy Pháp văn , mỗi lần đến giờ của ông, học sinh ngồi nghe thầy nói thao thao bất tuyệt về thuyết duy tâm, duy vật, không dính dáng gì đến bài học, đến gần hết giờ thầy mới cho bài học.

Học sinh P. Ký gia nhập Không Quân rất đông, lý do là được sang Pháp du học, chọn một quân chủng mới thành lập sau khi Pháp chuyển giao lại cho chánh quyền Việt Nam. Lúc đó chiến tranh ở miền Bắc đang đến giai đoạn quyết liệt, quân đội Pháp dưới quyền chỉ huy của tướng De Castrie đang bị bao vây tại Điện Biên Phủ, lệnh tổng động viên ban ra, sinh viên học sinh xếp bút nghiên để gia nhập vào quân trường như trường Võ Bị Đà Lạt hay bị động viên vào trường Sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức, hoặc các quân trường khác. Bạn bè bèn rủ nhau vào Không Quân để được tung mây lướt gió, thỏa chí tang bồng và cũng muốn sống cuộc sống thơ mộng như nhân vật trong quyển “Đời Phi Công” của Giáo Sư Nguyễn Xuân Vinh.

Những nhân vật Không Quân nổi tiếng xuất thân từ trường P. Ký phải kể đến ba vị tướng lãnh cựu Tư lệnh Sư Đoàn KQ như ông Nguyễn Huy Ánh, ông Phạm Ngọc Sang và tướng Nguyễn Văn Lành, Tư lệnh Phó Không Quân. Ông Ánh là một tướng lãnh xuất sắc, bay đủ loại phi cơ và là một võ sư đệ thất đẳng huyền đai. Tướng Nguyễn Ngọc Loan cũng học một thời gian ngắn tại P. Ký. Ngoài ra những cấp chỉ huy trong KQ phần đông là dân P.Ký như Đại tá Ôn Văn Tài, Đặng Văn Phước, Trần Văn Trung, Nguyễn Bình Trứ, Bồ Đại Ký…. là những vị Không Đoàn trưởng KQ. Một nhân vật bên bộ binh được nói đến là tướng Lê Minh Đảo, cùng một lớp với Ôn Văn Tài. Anh Lê Minh Đảo thời đang học ở P. Ký, ăn mặc rất sang, áo sơ mi tay dài, tóc tai chải chuốt, dáng điệu rất thư sinh, anh chơi đàn guitare rất hay cho ban văn nghệ trường. Đại tá Hải quân Nguyễn Xuân Sơn, cựu Tư lệnh Hạm đội cũng là cựu học sinh P. Ký và những vị cựu tướng lãnh trong các quân binh chủng khác…

Ngoài những học sinh ưu tú, cũng có những học sinh khác ưa phá phách, chọc phá thầy nhất là mấy thầy surveillant. Nói về surveillant, bốn phân của ông là giữ kỷ luật trong và ngoài lớp, nhiều thầy rất khó thường ghi tên mấy trò vi phạm kỷ luật, cho đi consigne cuối tuần, thầy Nử làm ở văn phòng, nổi danh là hung thần, tên nào đi học trễ phải lên văn phòng xin billet d’ entrée, ông thường nạt nộ dọa phạt đủ điều… Thầy surveillant có đầu cắt tóc ngắn, mặt trên phẳng như bàn chải, ông rất kỷ luật, bắt được một hút thuốc trong nhà cầu, phạt rất nặng. Anh chàng bị phạt rất hận thầy nên khi ra chơi, thấy thầy surveillant đang đứng cuối hành lang, anh bên hét to lên “Ông già bàn chải”, xong rồi cút mất, khi thầy đến nói thì không biết trò nào phá như vậy. Thầy Sáng, surveillant, rất hiền lành, ông thường mặc áo bành tô màu vàng, đi tới lui nói chuyện với học sinh rất bình dị. Vì trông ông giống người Tàu nên ai cũng gọi ông là ông Ba Tàu Sáng.

Thời gian qua mau, thấm thoát đã hơn sáu mươi năm, thầy cũ, bạn bè mỗi người một ngả, kẻ mất, người còn, lưu lạc bốn phương trời! Chạnh nhớ đến những kỷ niệm xa xưa, nhớ đến trường cũ, bạn học thời niên thiếu, những ký ức đó đã khơi lại trong tôi nhiều cảm giác miên man, êm đẹp.