Xin cam on thay: GS Le Ngoc Tru – Nguyen Van Sam

Năm 1970, khi in quyển Văn Học Nam Hà (Văn học xứ Đàng Trong) tôi có cho in hàng đề tặng: “Kính tặng Thầy: Giáo Sư Lê Ngọc Trụ…”. Vì tôi kính mến thầy, kính mến đặc biệt mặc dầu từ lâu chưa từng được học với thầy một môn nào trong suốt bao nhiêu năm theo học tại trường Đại Học Văn Khoa.

Những năm 1952-1956 tôi thường mượn tiểu thuyết in ở Miền Bắc, trước thế chiến về nhà đọc, mượn từ một người bạn, anh Lê-Huyền T. Sách phần lớn của thân-phụ anh, mỗi cuốn đều có chữ ký, đề ngày mua. Tôi thân thuộc với văn chương tiền chiến nhờ đó. Sau này khi đọc Nhà Văn Hiện Đại, các tác phẩm ông Vũ Ngọc Phan kể ra, tôi tự cho là mình có may mắn đã đọc qua phần lớn. Trong số sách anh T. cho mượn, thỉnh thoảng lại có những quyển chủ nhân lại là Lê Ngọc Trụ, đề ngày mua tại Chợ Lớn. Anh T. cho biết ông Trụ là cậu (dượng?) anh, nhà có rất nhiều sách. Tôi quen với cái tên Lê Ngọc Trụ từ đó, và nhờ những sách của ông – qua anh T., – tôi được nhen nhúm trong lòng ý thích văn chương.

Năm 1960, vào học lớp Dự Bị Văn Khoa Việt, tôi “thấy” Giáo Sư Trụ nhiều lần nhưng không được trò chuyện cũng không được học với thầy vì Thầy dạy năm “chứng chỉ”. Đó là một người hơn năm mươi tuổi, cao, ốm, đen, cử chỉ nhanh nhẹn, đầu hớt cao, miệng hô bịt răng vàng, quần áo xềnh xoàng, lời nói rất vui vẻ, lớn và bình dị. Đối với tôi, hình ảnh thầy Trụ gần gũi hơn những vị giáo sư khác vì dáng dấp bình dân đó của Thầy. Thuở đó trường Đại Học Văn Khoa tọa lạc tại khu khám lớn cũ, chật chội, phòng ốc nhỏ, nhờ vậy sinh viên hầu hết quen nhau, học trò với giáo sư cũng dễ dàng thân thiện. Tôi không nhớ mình bắt đầu “hỏi”, “thảo-luận” nầy nọ với thầy Trụ từ bao giờ bởi vì tôi không bao giờ học chứng chỉ Ngữ học Việt Nam là chứng chỉ duy nhất thầy có dạy. Tôi chỉ nhớ nhiều sách vở mình chỉ nghe tên như Chương Dân Thi Thoại (Phan Khôi), Dưới Mắt Tôi (Trương Chính), Dictionnaire Annamite-Français (Bonet) nhờ thầy tôi mới được có, được xem. Tôi chỉ nhớ nhiều chữ mình biết thêm nhờ những lần nói chuyện với thầy. Muôn vàng cảm tạ, nhiều người cho rằng tạ ơn bằng vàng (hay tượng trưng như thế) nên viết vàng đã được thầy giảng là vạn biến thế thành vàn, chỉ số lượng nhiều. Những điều thầy nói sau nầy tôi thấy lại trong quyển “Tầm Nguyên Tự Điển Việt-Nam”, một quyển tự-điển tôi biết chắc rằng cả mấy chục năm sau nữa cũng không ai làm được (tương tợ như quyển “Chánh Tả Việt Ngữ” của thầy).

Rồi tôi được Cha Thanh Lãng đề nghị cho làm phụ khảo tại trường Văn Khoa vào năm 1968, trong 7 năm làm việc cùng trường với thầy Trụ tôi học được nhiều thứ ở thầy từ cách xử thế khoan dung bình dị, tới lòng từ tâm bản thiện luôn luôn giúp đỡ đàn em. Biển học mông-mênh, lúc nào đến thăm thầy trên căn gác ở một hẻm gần chợ Bình Tây, tôi cũng bắt gặp thầy ngồi giữa những đống sách bề bộn, bận bịu tra cứu. Điều hay là, dầu thầy bận rộn như vậy, nhưng khi tôi hỏi gì thầy cũng bỏ công việc mình đang làm để trả lời tận tình…

Vốn không rành về Ngữ âm học, tôi cho đến giờ vẫn thắc mắc về lý thuyết biến âm, biến thinh mà thầy áp dụng để giải thích từ nguyên và định cách viết chính tả. Với tôi, có một số chữ sự giải thích của thầy chưa được thuyết phục lắm, (chữ giàu là từ chữ nhiêu biến thành, chữ giâu là từ chữ lị biến âm…) nhưng nhìn chung công trình hệ thống hóa của thầy để có được sự giải thích là một công trình đáng phục. Cho tới ngày nay công tác Ngữ học, học giả miền Bắc tiến xa hơn trong Nam về mặt văn phạm (lý luận) nhưng về mặt từ nguyên và chánh tả của thầy Trụ thì họ chưa có công trình gì đặc biệt bằng. Ngoài địa hạt chánh tả, hai công trình văn học của thầy Trụ là Nguyễn Cư Trinh với quyển Sãi Vãi – cùng viết với ông Phạm Văn Luật – và Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên của Bùi Hữu Nghĩa – cùng viết với ông Trần Văn Hương, cũng là hai công trình có nhiều giá trị lâu dài.

Chúng ta từ lúc vỡ lòng đến khi rời trường nhẫn ai cũng đều học qua mấy chục thầy. Ai cũng đã quên tên, quên mặt, quên điều giảng dạy của một số rất lớn thầy. Đó là điều tự nhiên của đời vì ký ức con người phải dành chỗ cho những gì thật đặc biệt nó muốn nhớ. Giáo Sư Lê Ngọc Trụ là vị thầy đặc biệt đã dạy cho tôi không phải bằng giờ chính thức trong lớp mà bằng những cuộc mạn đàm. Giảng khoa của thầy là lối sống bình dị, sự làm việc tận tâm, là chính con người thực của thầy. Giảng khoa đó đã ảnh hưởng lên đời sống của tôi. Cám ơn thầy vì những điều thầy dạy đó ký ức của tôi muốn giữ… và tôi đã nhớ cho đến ngày nay.

Texas 5-27-95
NGUYỄN VĂN SÂM
(Nguyên Giảng sư Đại Học Văn Khoa Sài Gòn)