Thi sĩ Đinh Hùng và Gửi người dưới mộ
Vưu Văn Tâm
“Tôi thấy thi sĩ Đinh Hùng vào một ngày cuối thu năm 1945 ở Hà-Nội. Mái tóc dài phơ phất trước gió, chiếc áo bành tô màu sậm, một cái ‘catton’ (cặp hoặc tập giấy bằng bìa cứng, tác giả ghi chú) khá lớn cắp dưới nách, giống như nhà thơ Rimbaud (người Pháp) mà Đinh Hùng hằng chịu ảnh hưởng. Con người tài hoa này không chỉ trong hoạt động thơ văn mà còn muốn biểu hiện tư chất tài hoa trong lối sống”
(Nhà văn Mặc Đỗ)
“Những cái tang thuở thiếu thời và sau này là cái chết của người yêu tên Liên đã ảnh hưởng đến rất nhiều tâm tính của Đinh Hùng nên thơ anh thường đượm vẻ ảm đạm, bi thương”
(Nhà văn Huyền Viêm)
“Sau ngày người con gái mang tên Liên từ trần, Đinh Hùng bỏ đi đến Hải-Dương. Vượt Hồng-Hà, bỏ Hà-Nội, chàng tuổi trẻ khóc ngất, không mang theo gì hết ngoài nỗi đau đớn và một tấm hình. Đó là di vật cuối cùng của Liên”
(Nhà văn Mai Thảo)
“Trước mắt tôi, dưới làn khói mỏng manh như tơ, Đinh Hùng nằm nhỏ nhoi như một đứa bé. Mái tóc nặng nề lẫn vào bóng tối. Đôi mắt tinh anh không còn nữa, nó mở nửa dài dại. Tôi biết Đinh Hùng đang nhập mộng .. Vì dấn thân quá sớm, nhất là dấn thân vào một địa hạt phức tạp đầy dẫy ưu phiền, Đinh Hùng đốt cháy thân phận chẳng những trên đầu ngọn bấc (hút á phiện) mà còn ở men rượu và thú cầm ca sênh phách”
(Nhà văn Tạ Tỵ)
******
1. Thi sĩ Đinh Hùng
Thi sĩ Đinh Hùng (1920-1967) sinh quán ở làng Phượng-Dực, tỉnh Hà-Đông (Hà-Nội ngày nay). Ngoài bút danh Đinh Hùng (cũng là tên thật), ông còn dùng tên Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết. Tên tuổi của Đinh Hùng được nhắc đến trong cuốn “Mười khuôn mặt văn nghệ” của Tạ Tỵ cùng với một số gương mặt lẫy lừng của văn học nghệ thuật Việt-Nam trong thế kỷ 20 như Văn Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, v.v..
Thuở nhỏ, Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ rồi lên bậc trung học tại trường Bưởi. Sau khi nhận được học bổng để thi tú tài bản xứ thì ông bỏ đi theo “tiếng gọi con tim” rồi viết văn và làm thơ (đăng trên “Hà-Nội Tân Văn” của Vũ Ngọc Phan, giai phẩm “Đời nay” của nhóm Tự Lực Văn Đoàn). Sau cái tang của cha và hai người chị rồi đến sự ra đi của người thương khiến ông bị hụt hẫng và tâm tư bị xáo động. Năm 1943, Đinh Hùng về sống với người chị kế là bà Thục Oanh và cũng trong năm này, ông cho xuất bản tập văn xuôi “Đám ma tôi”. Mãi đến khi nhà văn Thế Lữ chọn in bài thơ “Kỳ nữ” của ông trong truyện “Trại Bồ Tùng Linh” thì Đinh Hùng mới được nổi tiếng.
Năm 1944, Đinh Hùng cùng với chị Thục Oanh và anh rễ (thi sĩ Vũ Hoàng Chương) rời Hà-Nội đi tản cư rồi sau đó cùng người vợ mới cưới xuôi về Thái-Bình dạy học. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con trở lại Hà-Nội và ấn hành giai phẩm “Kinh Đô văn nghệ” (1952) cùng tập thơ “Mê hồn ca” (1954). Sau ngày hiệp định Genève được ký kết, ông cùng gia đình di cư vào Sài-Gòn, lập ra tờ nhật báo Tự Do với sự cộng tác của các nhà văn, ký giả như Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong, v.v.. Năm 1955, Đinh Hùng cộng tác với đài phát thanh Sài-Gòn và đảm trách mục “Tao Đàn”, chuyên về thơ ca, cho đến ngày lìa xa nhân thế.
Ngoài ra, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử “Kỳ nữ gò Ôn-Khâu”, “Người đao phủ thành Đại-La” và làm thơ trào phúng đăng tải trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận, phát hành thi tập “Đường vào tình sử” (được trao giải thưởng văn chương về thi ca năm 1962), sáng lập tuần báo “Tao Đàn thi nhân”. Sau khi ông qua đời, nhà xuất bản Giao Điểm cho phát hành tác phẩm “Ngày đó có em”. Ngoài ra, Đinh Hùng còn một số tác phẩm chưa kịp xuất bản như “Tiếng ca bộ lạc” (thơ), “Tiếng ca đầu súng” (hồi ký), “Dạ lan hương” (văn xuôi), “Sử giả” (tùy bút), “Vần điệu giao tình” (cảo luận) và 3 kịch thơ “Lạc lối trần gian”, “Phan Thanh Giản”, “Cánh tay hào kiệt”.
Mặc dù Đinh Hùng hoạt động sôi nổi nổi trong giới văn đàn như viết văn, viết kịch, viết báo, v.v.. nhưng thơ của ông được mến chuộng và yêu thích nhiều nhất, điển hình là hai thi phẩm “Mê hồn ca”, “Đường vào tình sử”.
2. Gửi người dưới mộ
Tiễn em đi xa mà nghe lòng se sắt, biệt ly biết nói gì đây. Mưa thu lạnh, mây xám xây thành và em mãi mãi vùi thây dưới ba tấc đất. Mãi mãi sẽ không nhìn thấy nhau, không còn được nghe em nói. Bao lời thương, tiếng nhớ cũng tàn phai như màu lá úa và tan biến theo hư không ..
“Trời cuối thu rồi, em ở đâu
Nằm trong đất lạnh chắc em sầu
Thu ơi, đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm nấm mộ sâu”
Em về giữa đêm khuya thanh vắng để viếng thăm cố nhân cho vơi bớt u sầu. Này mắt, này môi chưa vội chìm trong màu hương khói. Trăng chưa mọc hay đã tan và ngọn đèn hao dầu, tim lụn bấc. Nước mắt cứ tuôn rơi vì biết mình đã thật sự mất nhau rồi ..
“Ước mong gặp nhau lần nữa
Em mộng về đâu, em mất về đâu
Từng đêm tôi nguyện, tôi cầu
Đấy màu hương khói là màu mắt xưa
Em đã về chưa, em sắp về chưa
Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ
Ta nằm nhỏ lệ đọc thơ gọi hồn”
Viết cho em dòng thơ cuối và gửi cho người dưới mộ. Dẫu xa cách muôn trùng, kẻ ở dương gian, người nơi âm cảnh vẫn thương nhớ về nhau. Giây phút ái ân vẫn nồng nàn và trái tim vẫn thổn thức trong từng nhịp đập ..
“Ta gởi bài thơ anh linh
Hỏi người trong mộ có rùng mình
Nắm xương khô lạnh còn ân ái
Bộ ngực bi thương vẫn rợn tình”
Vì thân xâc chưa thể biến tan nên hồn phách còn vấn vương nơi ngàn cây nội cỏ. Hai linh hồn hòa trộn vào nhau và kể cho nhau nghe vui buồn nơi chốn đó. Người tuyết trinh mang tâm hồn trong trắng như vừa thoát xác để hiện diện với người nơi trần thế ..
“Hỡi hồn tuyết trinh, hỡi người tuyết trinh!
Mê em, ta thoát thân hình
Nhập hồn cây cỏ, đa tình mỗi đêm
Em có vui thêm, em có buồn thêm
Ngồi bên cửa mộ
Kể cho ta biết nỗi niềm”
Ngày tàn, tháng hết và đêm xuống thêm quạnh quẽ, mênh mông. Nỗi niềm thương nhớ đành gửi theo mây bay, gió thoảng vì âm dương đã ngăn cách đôi đường. Hẹn nhau kiếp khác, mình sẽ nối lại sợi tơ hồng hạnh phúc ..
“Thần chết cười trong bộ ngực điên
Ta nghe em thở tiếng ưu phiền
Nỗi lòng xưa dậy tan thanh vắng
Hơi đất mê người, trăng hiện lên”
“Gửi người dưới mộ” chứa chan một nỗi u sầu, một niềm thương nhớ. Vì yêu thương nhau nhiều quá và tơ tình không trọn vẹn khiến cho người trong cuộc như nếm phải trái sầu thương khi rời xa nhau mãi mãi. Thi sĩ Đinh Hùng đã chứng kiến và bị ám ảnh bởi cái chết của người thân, người yêu nên nét thơ trở nên kinh dị, kỳ bí. Cái cảm giác mất mát cứ rờn rợn trong hồn dẫu dương gian và âm cảnh đã rã rời phân nhánh. “Gửi người dưới mộ” cũng là nỗi si mê tình ái trong thơ Đinh Hùng đã bước sâu qua giới hạn và vượt quá sự tưởng tượng của kiếp con người. Bài thơ được in trong tập “Mê hồn ca” (*) và được nhạc sĩ Phạm Anh Dũng phổ thành bài hát cùng tên cũng mang mểnh những hình ảnh ma mị, liêu trai. Đinh Hùng là một thi sĩ tài hoa nhưng mệnh bạc. Dẫu ra đi đã từ rất lâu, nhưng những dòng thơ của ông sẽ sống mãi cùng bạn yêu thơ theo năm tháng.


TV, 02.11.2026
(*) Thi phẩm “Mê hồn ca” phát hành lần đầu ở Hà-Nội năm 1954 và sau khi thi sĩ di cư vào Nam thì do Văn Uyển ấn hành, 1968 và nhà sách Khai Trí tái bản, 1970.
