Thay Nguyen Muoi Nho hay Vo su Muoi Nho – Tran Huu Hiep

(Hình ảnh: Thầy Nguyễn Mười Nho [Nguồn: thầy Nguyễn Mười Nho])

Học Võ

Nói đến võ, dân PKLHP không ai không biết đến thầy Nguyễn Mười Nho dạy thể dục. Thầy là cha của bạn Nguyễn Anh Vũ 6/1-9/1. Lần đầu tôi gặp thầy là giờ thể dục lúc sáng sớm của năm học 6/1.

– Tại sao đi tập thể dục mà không mang giày bata?

– Thưa thầy mẹ con chưa mua. Con hứa lần sau sẽ mang giày bata đi tập thể dục.

– Vậy thì ra ngoài mà đứng.

Đó là kỷ niệm đầu tiên. Tôi chẳng buồn, chẳng giận thầy. Quốc có quốc pháp, trường có trường quy mà. Ngược lại tôi rất ngưỡng mộ thầy. Tôi mê học võ từ nhỏ. Gần nhà có một chú được học võ ở quân trường, hay kéo mấy thằng nhóc ra bãi trống để dạy. Tôi hay đến xem rồi nhớ lấy, về nhà tự tập. Các anh chị hay cười, bảo tôi học chạy là tốt nhất. Trong xóm lao động nghèo ở quận 4 ngày xưa, thường có mấy tên du đãng kéo bè, tụ nhóm. Thấy con gái đi qua, chúng chọc ghẹo rất thô bỉ. Thanh niên nào lạ đi vào xóm là tụi nó kiếm chuyện liền. Tụi nó đánh nhau vì những lý do rất đơn giản như cái mặt thấy ghét, thấy nó kênh với mình, nó dám cua con nhỏ trong xóm mình…

Học võ là để đánh lộn cho ngon lành. Nếu là rèn luyện sức khỏe thì thiếu gì môn chơi, đâu cần phải tới võ đường. Nhớ lại ngày xưa còn bé, mấy đứa gãy nhau, nồ nhau theo kiểu nghiêng mình cụng vai, hỏi nhau mày muốn gì, rồi sao, rồi sao… Một lúc lâu sau mới chịu ôm nhau vật. Thằng nào đô là thằng đó có ưu thế. Đứa nào làm không lại về mét anh chị rồi dần dần chuyện gây lộn ì xèo. Nhờ một vài chiêu học lóm, tôi đánh lộn cũng khá. Ra đường ngứa ngái tay chân quơ quơ đánh gió để phát tiết. Tôi thường ngấu nghiến mấy cuốn truyện chưởng, mơ sau này mình trở thành một võ sư như Trương Vô Kỵ, Kiều Phong, võ lâm ngũ bá… Đọc chuyện Duyên Anh, tôi mơ thấy mình là Dũng Dakao, Quyên Tân Định tuy nhỏ nhưng cũng ngang tàn, khí phách. Sau này nghĩ lại, đánh người cũng bị người thụi lại, nó bể đầu mình cũng sứt môi, có chi mà hay. Ham đánh lộn riết sau này không khéo lại trở thành du đãng. Mà tại sao lại dùng vũ lực để giải quyết vấn đề? Thiếu gì cách khác hay hơn sao không xài…

Cho đến một hôm… Đi trên đường Bến Vân Đồn quận 4, tôi gặp một phụ nữ bị giật dây chuyền. Chị ta xanh mặt ú ớ không nói nên lời. Nổi máu xung thiên, tôi rượt theo thằng nhóc tóm đầu nó lại. Nó năn nỉ xin tha. Tôi cũng không làm khó dễ nó, lấy lại sợi dây trả cho khổ chủ. Việc ta ta cứ tiếp tục. Không ngờ có một đám thanh niên chắc là sư huynh đệ với thằng nhóc xông ra đón đường, tay lăm lăm vũ khí. Pháp môn tôi có thể xài lúc đó là Ù té quyền, tuyệt chiêu của anh chị truyền lại. Nhưng cũng phải khó khăn lắm, u đầu sứt trán mới thoát khỏi cái mê hồn trận đó. Đúng là có nhiều cách giải quyết vấn đề. Nhưng đối với một số trường hợp, mình phải cho người ta thấy chứ không phải một mình mình thấy. Phải cho họ biết nếu anh giải quyết vấn đề bằng vũ lực thì anh sẽ thất bại vì không may gặp một cao thủ. Muốn vậy mình phải là một cao thủ. Không xài tới thì cố nhịn, nhịn không nổi phải xài thì đừng quân tử. Quân tử trong đánh lộn là tự sát. Làm trai thời loạn phải có chút ít võ nghệ phòng thân, giúp người, dọc đường thấy chuyện bất bình chẳng tha. Sau chuyện đó, tôi nhất định phải học võ. Trong giờ tập thể dục buổi sáng lớp 10 ở sân Lam Sơn, tôi gặp Sĩ, hình như ở lớp C5. Nó múa cho tôi xem bài Thái Cực Quyền, nói là thầy Nho dạy nó. Nhìn cái mỏ nó chu chu, bậm môi, nghiến lợi ra đòn, tôi thấy rất tức cười. Sau khi nổ một lát, nó thấy tôi chú ý nên rủ tôi đăng ký học chỗ thầy Nho. Ngưỡng mộ thầy đã lâu, tôi bạo dạn tìm đến thầy đăng ký. Học cùng đợt với tôi là Sĩ, Phú, Hân, Khải. Chúng tôi học thầy ở sân Lam Sơn. Bài đầu tiên là học tấn và chuyển tấn.

Sau đó, năm anh em đến nhà thầy học một tuần hai buổi. Chúng tôi học quyền, học tam thế đối luyện, song đấu tự do, đánh đá bao cát… ban đầu là thầy trực tiếp hướng dẫn, sau đó là anh Kiệt con thầy. Lúc đó thầy mang đai đen ngũ đẳng. Cũng nhờ thời gian học võ, tôi thường xuyên gặp lại người bạn lớp 6/1 Nguyễn Anh Vũ. Lần đầu khoác lên người bộ võ phục có huy hiệu Chundowan, tôi rất hãnh diện. Tôi tập luyện chuyên tâm để người mềm, chân dẻo, tăng uy lực và tốc độ trong từng quả thôi, ngọn cước. Thầy có một lớp võ khác ở sân Tinh Võ. Cái háo hức của tuổi mới lớn làm tôi ao ước được song đấu với các bạn khác ở đó. Thầy và anh Kiệt không nghĩ vậy, bắt chúng tôi luyện căn bản cho thật tốt. Một hôm, thầy bảo:

“Những gì thầy đã dạy các em nếu chuyên cần rèn luyện cũng có thể đủ xài. Các em phải cố gắng luyện, nâng cao chất lượng những đòn thế đã học. Học võ không cốt học nhiều mà phải luyện thật tinh những gì đã học. Tôi có linh cảm như đó là một lời chia tay. Thầy và anh Kiệt kêu chúng tôi đến một trường tiểu học ở đường Nguyễn Chí Thanh để vừa tập, vừa huấn luyện cho các em ở đó. Lúc này nhóm tập có thêm Thủ và Minh, hai sư huynh hơn nhóm chúng tôi một cấp. Thủ có đòn số 4, Minh có đòn đá cầu vồng. Không ít lần, Sĩ và Phú bị dính mấy đòn này. Tôi nhờ thấp bé, mấy ảnh đá hơi cao nên may mắn thoát được. Mọi chuyện tập luyện, song đấu hầu hết diễn ra giữa bảy anh em. Sau đó vì sinh kế, tôi tập thưa dần rồi nghỉ. Vài năm sau tôi có trở lại thăm thầy nhưng được tin thầy cùng gia đình đã đi từ lâu. Sau nay, tôi nghiệm ra những điều khác trong võ thuật.

– Võ thuật giúp người ta vượt qua những giới hạn của chính bản thân mình về cả thể lực và tâm lý.

– Cái quan trọng không ở chỗ đòn mạnh bao nhiêu mà ở chỗ đánh vào đâu, lực tập trung ra sao.

– Khi bản thân không còn đam mê, không còn thách thức bởi những giới hạn, mình sẽ không còn tiến bộ. Học võ như thuyền ngược nước, không tiến ắt lùi.

– Khi ai đó tấn công mình, điều quan trọng chưa phải là đánh trả thế nào mà phải nhận ra: Họ là ai, từ đâu đến, họ muốn gì, mình cần giải quyết theo cách nào.

– Khi lâm trận mình phải ước lượng được trình độ đối thủ để xác định mức độ nặng nhẹ của đòn thế, xác định chiến thuật thi đấu thích hợp.

– Những nguyên lý võ học là những cốt lõi để soi sáng con đường tập luyện của mình.

Từ đó đến giờ, tôi không xuất thủ với ai nhưng căn bản võ công cho tôi một sức chịu đựng dẻo dai, một thái độ trầm tĩnh trước cuộc sống khắc nghiệt. Nói thiệt tình, thù hận đánh nhau thì một bên vô tù, một bên vô nhà xác. Những tinh hoa võ học thời xưa, những chiêu sát thủ bây giờ đã không còn chỗ để dùng. Chỉ có cái võ đạo, cái tâm của người võ là còn được bảo tồn. Cảm ơn thầy trong thời gian ngắn ngủi đã mở cho tôi một đầu đề để suy nghĩ gần hết cuộc đời. Không biết bây giờ gia đình thầy lưu lạc phương nào. Nơi đây, tôi vẫn hay đi ngang qua, ngắm lại căn nhà cũ, nhớ về một thời xưa được thầy dìu dắt, cùng tập luyện với anh em đồng môn võ đường Chundowan.

Sài Gòn ngày 13 tháng 7 năm 2006

Phụ chú bài viết của Trần Hữu Hiệp sau khi viếng thăm thầy Mười Nho:

Thầy Nguyễn Mười Nho trước khi về dạy tại Petrus Ký đã đảm nhiệm các chức vụ:

a) GS Thể Dục trường Quốc Gia Sư Phạm tại Sài Gòn kể từ năm 1956.

b) GS Thể Dục Thể Thao trường Trần Hưng Đạo (Đà Lạt).

Thầy đảm nhận chức vụ Trưởng Ban Thể Dục tại Petrus Ký từ năm 1973. Khối Thể Dục tại trường lúc đó gồm có các thầy Vũ Lảng, Thuận và Đích.

Ngoài trừ việc dạy học tại Petrus Ký, thầy cũng được tín nhiệm chức vụ phó Chủ Tịch Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Việt Nam. Năm 1965, thầy sáng lập Võ Đường Chung Do Kwan tọa lạc tại số 220/68/10 Trương Minh Giảng, tại Quận 3, Sài Gòn.

Năm 1972, thầy đã mang Huyền Đai Tứ Đẳng Taekwondo. Sau 4/75, thầy về dạy tại Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn. Năm 1989, thầy lên Huyền Đai Thất Đẳng Taekwondo. Thầy qua định cư tại Sunnyvale (Bắc California) vào năm 1994. Khi đọc bài viết của Trần Hữu Hiệp về thầy, tôi cũng tò mò nên gọi điện thoại hỏi người chú vợ họ xa cũng là võ sư tại Nam California để lấy số điện thoại gọi thăm thầy.)

Liên lạc được với thầy cũng không phải dễ, vì thầy giờ đã 84 tuổi, không còn DẠY VÕ thuật (La Thích nghe tin này viết chọc là thầy hết dạy võ, nhưng chắc vẫn còn DẠY VỢ hay VỢ DẠY), nên thầy ngao du và dành nhiều thì giờ nghiên cứu và viết sách về võ thuật. Tôi ghé nơi thầy ở cũng 3, 4 lần đều không gặp thầy và điện thoại nhiều lần nhưng nếu hôm nào may thì được hầu chuyện với cô Dung, vợ thầy. Cô Dung cũng là võ sư Nhu Đạo và đã từng dạy tại trường Gia Long và Trung Tâm Lê Quý Đôn.

Cuối năm rồi (sau Giáng Sinh 2009) tôi có dịp đi ngang qua thành phố thầy ở, dù trời tối tôi có linh cảm thầy Mười Nho đi ngao du đã trở về. Trời tối thui, tôi chỉ có địa chỉ nhà thầy và không biết lối đi, lái xe một hồi tôi lạc đường, còn lo trong bụng không biết có nhớ đường để về nhà chứ đừng nói là đi thăm thầy. Lúc ấy, tôi thấy có một ngôi nhà đèn đuốc sáng choang, chưng đèn Giáng sinh nhiều màu sắc. Tôi dừng xe trước cửa nhà, vào gõ cửa để hỏi tin. Số tôi may vì thành phố này không có nhiều người Việt, lại gõ cửa đúng một gia đình Việt Nam. Bà chủ nhà thấy mặt tôi ngáo ộp nên niềm nở mời vào nhà và hỏi tôi cần gì? Tôi đưa địa chỉ nhà thầy ra và hỏi đường đi. Bà chủ nhà cho biết gia đình bà vừa dọn đến đây cũng chừng 6 tháng trước và cũng không biết gì hơn tôi. Bà cụ vào nhà gọi hai người con gái ra giúp tôi. Sau khi nghe tôi kể chuyện đi tìm ông thầy mà tôi không biết mặt, cũng không học với thầy bao giờ, bà cụ và các cô buồn cười. Bà mời tôi ngồi xơi nước trong lúc nói với hai cô dùng computer tìm phương hướng giùm tôi. Hai cô cho biết địa chỉ nhà thầy cách nhà (của các cô) không xa lắm, chỉ trên dưới 2 dặm (miles), tuy nhiên để đến nơi, phải quẹo tới lui nhiều đường. Thấy trời tối đen như mực và sợ tôi lại lạc đường, bà cụ nói với các cô:

– Các con lái xe đưa chú đi đi, chứ không chú lại lạc.

Tôi theo xe hai cô đến nhà thầy, sau khi cảm ơn để các cô ra về, tôi đứng tần ngần trước nhà thầy. Cửa nhà thầy đóng kín mít, tôi chỉ thấy ánh đèn qua màn cửa. Đã đến nơi, không lẽ bỏ ra về vì thế tôi vào nhà gõ cửa. Trong nhà không ai trả lời, tôi gõ cửa và bấm chuông liên tục, cuối cùng trong nhà có người hỏi:

– Ai đó?

Tôi không biết trả lời làm sao cho đúng nên nói đại:

– Dạ thưa tôi là học trò Petrus Ký đi tìm thầy Nguyễn Mười Nho.

Tôi nghe trong nhà có tiếng lao xao. Tôi có cảm tưởng người trong nhà ngần ngại đón tiếp người xa lạ vào ban đêm nên định bỏ ra về nhưng trước khi đi, tôi nói với:

– Cô Dung ơi, em là S. có gọi thăm thầy nhiều lần 2, 3 năm nay và đã hầu chuyện với cô qua điện thoại. Không biết cô có nhớ em?

Cửa mở. Tôi thấy trong nhà có hai ông bà cụ, tôi đoán người đàn ông là thầy và người kia là cô Dung nên tôi xin lỗi thầy cô đã ghé qua nhà vào ban đêm và không báo trước. Thầy cô mời tôi vào nhà. Căn nhà nhỏ nhưng ngăn nắp và có bàn thờ Phật, bàn tổ tiên đầy đủ và nhiều sách vở.

Tôi đã ngồi hầu chuyện với thầy cô gần tiếng đồng hồ. Thầy cho biết thầy cô sống cuộc sống “ẩn danh”. Thầy năm nay 84, nhưng còn rất tráng kiện, minh mẫn. Tôi thú thật với thầy, tôi không biết thầy là ai nhưng phá cái thanh tĩnh của thầy chỉ vì bài viết của Trần Hữu Hiệp (đàn em Petrus Ký 74-81), cũng là bạn của con trai thầy. Tôi đưa cho thầy đọc bài Hiệp viết. Thầy vui lên và câu chuyện có chút thân mật hơn. Thầy cho biết thầy còn giữ một tấm hình xưa chụp tại trường dưới hiệu đoàn Petrus Ký, và hứa sẽ tìm để đóng góp cho tập bài viết. Khi tôi hỏi thầy cô về chuyện đi dạy tại Lê Quý Đôn sau 1975, thầy cô biết khá nhiều về thầy Hồ văn Thể tại Houston.

Tôi chào thầy cô ra về để thầy cô còn ăn tối và vui trong bụng vì đã gặp được thầy cô. Gần một tuần sau, tôi nhận được tấm thiệp Chúc Mừng Năm Mới của thầy cô kèm theo một trang giấy hai mặt mà chắc thầy cô tốn khá nhiều thì giờ cắt, dán hình ảnh thân yêu ngày xưa để gởi tặng tôi (xem hình ảnh trong phần Cẩm Nang Petrus Ký). Cám ơn thầy Mười Nho và cô Dung. Kính chúc thầy cô luôn an lạc.

Hình trái: Thầy Nguyễn Mười Nho, Trưởng Ban Thể Dục Petrus Ký từ năm 1973.
Hình bên phải: Thầy Mười Nho tại văn phòng của Petrus Ký [Nguồn: thầy Nguyễn Mười Nho].

Thầy Mười Nho, phó Chủ Tịch Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Việt Nam và cựu Giám Đốc Võ Đường Chung Do Kwan tại 220/68/10 Trương Minh Giảng, Quận 3, Sài Gòn [Nguồn: thầy Nguyễn Mười Nho].