Tầm-Nguyên Tự-Điển Việt-Nam – Lời Nói Đầu
Vương Hồng Sển
(Nguồn: Dòng Việt số 3 (năm 1996), http://www.namkyluctinh.com/eBooks/Tap%20Chi/Dong%20Viet/Dong%20Viet%20so%203.pdf)
Hôm qua, 02 tháng 7 dương-lịch, sáng sớm, có người cỡi xe đạp, đến nhà, dựng xe, tự xưng là Trần-Thượng Thủ, cháu ruột anh Lê-Ngọc-Trụ, đến nhơn danh con gái anh Trụ là cháu Lê Kim Ngọc-Tuyết, đem theo ba xấp dày, trang chót ghi số 437, của bộ bản thảo do anh Trụ để lại, có thể nói đó là di cảo viết xong trước cuộc Giải-Phóng 30/4-1er/5 1975, và nhờ tôi viết cho bài “Lời nói đầu”.
Sơ khởi, nghe như vậy, tôi nhã nhặn từ chối, rằng nay đã 91 tuổi, việc nhà lo chưa xong, có đâu dư thời giờ lo việc bao đồng. Tôi đề-nghị nên tìm một người xứng đáng hơn, là Cụ Nguyễn Duy Cần, trước đã là Tổng thơ-ký Uỷ-Ban Điển-Chế Văn-Tự cũ. Nhưng cháu họ Trần đáp: Đã tìm, nhưng địa chỉ cũ đã có người khác ở; còn giáo-sư Cụ Cần, đã mai danh ẩn tích, không biết hiện ở nơi đâu để được gặp.
Mấy lời chơn thật đó làm cho tôi không phương từ nan, và tôi hẹn một tháng, hoặc một tháng rưỡi nữa sẽ lại lấy bài. Khách đi về rồi, tôi lật xem qua suốt ba tập đánh máy công-phu của anh Trụ để lại, nhưng tật của tôi, khi đã nhận một việc gì, tôi không chịu để lâu, và hôm nay, là 03-7, vừa sau một ngày, tôi viết bài nầy, và vâng theo ý người quá-cố, gọi bài nầy là Lời Nói Đầu.
Lời nói đầu là gì? Theo tôi, nói đầu là rao hàng. Người đứng rao hàng, ít nữa phải đồng hàng, đồng bực với người có hàng, nhờ rao cho người khác biết.
Nhơn đây, tôi xin cà kê dài dòng như sau:
Trước đây, tôi có vài người bạn, nay đều quá cố, đều thâm nho, biết nhiều, tỷ như:
Bạn gốc người Bắc, là Vi Huyền Đắc, và Nguyễn Hiến Lê, tự Lộc-Đình. Đối với Vi tiên sinh, tôi thường giễu cợt vì tánh ông vui và cho phép tự do: “Cụ Vi mà ông Đắc”, và cấm nói lái “Cụ Đắc”, “Cụ Vi”. Đối với Lộc-Đình, tôi trọng và nể như bực thầy, và tôi chưa bao giờ lạy người nào, thế mà đã lạy hai lạy trước xác anh chở từ dưỡng-đường đem về nhà để lo việc táng-sự. Hai lạy để tỏ biết ơn chỉ bảo nhiều điều.
Bạn gốc miền Nam như tôi là: Lê Thọ Xuân và Lê-Ngọc-Trụ.
Anh Tư Xuân cũng là người ơn, anh giỏi về chính tả, lúc làm thầy cò nơi nhà in Maurice đường Nguyễn An Ninh, thì các sách in ra đều sạch và không có lỗi. Anh Xuân lại giỏi về sử Miền Nam, và anh đã từng ra Bắc và biết nhiều về cổ tích ngoài ấy (Đền Hùng).
Nhưng xin nói liền, người bạn thâm và tôi năng tới lui nhiều là anh Lê-Ngọc-Trụ. Hai tôi đồng cảnh ngộ, tôi quyền giữ chức quản-thủ Viện bảo tàng suốt 17, 18 năm dài, nhưng vẫn ăn lương ngày, lương thơ-ký quét bu-rô trào đô hộ Pháp sót lại, cứ sáu tháng phải đi khám sức khỏe và xin ký giấy tái-tuyển, nhưng nhờ đi cho “lục lộ” và không dám sa đà, nên kéo dài cuộc sống cho đến nay, còn anh Trụ, vì cả hai đều không có bằng cấp chứng-chỉ cao-học, nên anh Trụ, “một cuốn tự-điển sống”, “một tổ sư chính-tả” không ai qua mặt được, thế mà anh Trụ vẫn phải làm phụ-tá cho ông Đoàn-Quan-Tấn nơi thư-viện số 34 đường Gia-Long cũ (nay đổi gọi đường Lý Tự Trọng). Anh Trụ, chơn bằng tay, tay bằng miệng, từng giúp nhiều bạn khi đến đó tìm sách hay để đọc, ông Đoàn-Quan-Tấn làm quản-thủ thư-viện nầy, nhưng công-việc nhọc nhằn, đều do anh Trụ quán xuyến, ông Tấn lại là Bộ trưởng Bộ Giáo dục thời ông Trần Văn Hữu làm thủ hiến, thế mà ông Tấn không giúp chi được cho anh Trụ, vẫn lãnh lương bậc giáo tập, giáo làng, việc xảy ra như vậy, theo tôi hiểu, là vì ông Tấn câu nệ, sẵn tánh liêm-khiết, nên tuy làm lớn mà cứ thẳng như mực Tàu, làm bạn thì được, ông Tấn làm hội trưởng Hội Khuyến học Nam Kỳ, biết dư tài anh Trụ, nhưng vì không “bàn cạp”, không có bằng cấp cao nên phải chịu ăn lương như vậy, một lẽ khác là vì anh Trụ là người cao thượng, cho lương bao nhiêu cũng nhận, miễn hạp ý nhau, Tấn-Trụ-Sển, bộ ba tình tri-kỷ là được …
Viết đến đây, chẳng đặng đừng, tôi xin trích lại đây, cảm-tưởng và lời tiên đoán của Lộc-Đình, và tôi sẽ làm photocopie đoạn nầy gởi cháu Ngọc-Tuyết làm dấu tích:
“Anh, (L.N.T.) là một học giả xứng với danh đó, cặm cụi, khiêm-tốn và rất sẵn lòng giúp bạn, một trong số vài người mà tôi vừa trọng vừa mến.
Lần đầu tiên tôi gặp anh là năm 1954 (tới nay đúng 1/4 thế-kỷ) ở Thư viện đường Gia Long. Thấy anh giỏi mà chỉ làm một thư ký hạng thấp nhứt, tôi lấy số cho anh, bảo “Về già vận mới tốt”. Khoảng mười năm sau anh mới được chính-phủ trọng-dụng, nhờ anh dạy ở Đại-học.”
Như ai nấy đều biết, tôi là kẻ viết khá nhiều mà vẫn ít biết giữ trật tự. Bút-tích của Lộc-Đình như tôi trích trên đây, là đoạn dưới của một trang chữ viết bằng bút chì, khởi đầu như vầy và tôi sẽ chụp ảnh trọn trang lại cho có trước sau thứ tự, và đoạn nầy nói về cháu Ngọc-Tuyết, (và như vậy, tôi khỏi giới thiệu dài dòng). Và xin cho tôi nhắc lại, anh Lê-Ngọc-Trụ qui tiên ngày 11-8-1979 và lối 12 giờ trưa bữa ấy, Ngọc-Tuyết đến nhà Lộc-Đình báo tin xấu nên Lộc-Đình ghi:
“Con gái anh Lê-Ngọc-Trụ cho hay anh Trụ hấp hối (bệnh bao-tử). Mà tôi đương đau không vô thăm anh ấy được. Ước gì hôm nay anh Sển hay anh Châu (Lê Ngộ Châu) tới để hỏi việc chôn cất đưa đám anh ấy.
Anh ấy năm nay 71 tuổi (tuổi dậu?). Tới tuổi Cổ lai hi rồi. Để danh lại cho đời sau, để lòng thương mến cho bạn bè, con cái lại tốt, hiền cả, không có gì phải ân hận.
Mà chết mau cũng là một phước nữa. (Cô con lại cho hay tin có vẻ đàng-hoàng, hoạt bát lắm).
Xin chúc hương-hồn anh sớm tiêu-diêu nơi cực-lạc”.
NGUYỄN HIẾN LÊ
Bao nhiêu lời trên đây, tôi tưởng là đủ cho “Lời nói đầu” nầy rồi. Độc giả xem qua đã hiểu biết; vừa về anh Trụ, vừa về con gái chí hiếu của anh. Có cần gì tôi phải tiếp mấy lời vô duyên như dưới đây. Nhưng để tỏ lòng nhớ tiếc, tôi xin kể lại đây hai chuyện nhỏ về tình hai tôi vẫn cãi cọ, tỷ như 2 vụ nầy.
* Vụ thứ 1: – Tôi vô anh Trụ, nhờ duyệt giùm vài danh-từ tôi đương thắc mắc: Tôi hỏi: – Chữ “Cửa” (chỗ thông để ra vào), viết với dấu hỏi hay dấu ngã?
– Trụ trả lời: – Dấu hỏi, vì dựa theo chữ Hán “Môn”.
– Tôi óng-óng không chịu như vậy và vịn chứng: “Thầy dạy tôi, người Huế, dựa theo chữ Hán “Hộ” nên viết dấu ngã. “Môn là cựa”. Nhưng rốt lại tôi chịu thua, chịu khuất phục với lời công-đồng viết “Cửa”.
* Một lần khác, tôi hỏi: – Cắc bạc (pièce en argent de dix sous) viết C hay T?
– Trụ nói: Cắc bạc, viết C nơi sau, vì dựa theo chữ Hán: “Giác” (Hào).
– Tôi lại cãi nữa, rằng “Giác, tôi dốt, nên tôi không biết. Tôi biết lấy đồng bạc cũ chặt đứt ra làm 2 thì nửa miếng ấy, gọi “cà-rô-bi” dựa chữ “roupie” gốc Ân. Rồi lấy cà-rô-bi chặt làm 2, 1 đồng bạc chặt làm tư, nhưng lại gọi “gốc tư” tuy giá trị là 1/5 (pièce de vingt sous), và khi chặt một lần nữa được “một gốc tám” tuy giá trị là mười xu (pièce en argent de dix sous). Cắt bạc 10 xu vẫn gọi “gốc tám”. Hai đứa tôi cãi nhau, mạnh ai giữ phần phải về mình, bằng chứng sự hòa-nhã hòa-đồng là đồng xơi mỗi đứa một tô hủ tíu thật ngon. Nay Trụ đã mất, tôi khóc anh mà còn ai sẽ khóc tôi sau nầy?
(Viết không giấy nháp ngày 03-7-1992).
(Mùng 4 tháng 6 năm Nhâm Thân).
Vương Hồng Sển