Ơn Thầy

Trần Thạnh

Thế hệ những người làm toán lớn lên tại Sài Gòn sau ngày chiến tranh kết thúc không ai là không ít nhiều chịu ơn Giáo sư Đặng Đình Áng. Riêng tôi, tôi biết về Thầy từ những ngày còn học lớp 12 trường Trung học Petrus Trương Vĩnh Ký. Một người bạn học trên tôi một năm, lúc đó đang học chứng chỉ MGP tại Đại học Khoa Học Sài Gòn, thường hay kể cho tôi nghe những mẩu chuyện về Thầy. Nhưng phải đợi đến khi được học riêng với Thầy vào năm thứ tư để viết luận văn tốt nghiệp, tôi mới được dịp biết thêm về khía cạnh nhân bản của một nhà toán học.

Nếu hiểu giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng là để đào tạo con người cả về phương diện kiến thức  chuyên môn lẫn phương diện tư cách và đạo đức, thì khi nói về công lao của một nhà toán học đối với nền giáo dục nước nhà, ta không thể không nhắc đến khía cạnh con người. “Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện”[1]. Đức không thể sáng nếu thiếu một tình cảm bao la. Trong con người Thầy tỏa sáng ba thứ tình yêu: tình yêu đối với quê hương đất nước, tình yêu trước cái đẹp của toán học, và tình cảm nhân hậu lo toan cho thế hệ tương lai.

Nói về tình cảm của một con người thì trên hết, thiêng liêng nhất, là tình yêu quê hương. Rất nhiều bài báo đã viết về tình yêu mà nhà toán học Đặng Đình Áng dành cho mảnh đất mà Ông đã sinh ra, lớn lên, và sống hầu hết cuộc đời ở đó. Dù Ông đã bôn ba rất nhiều ở hải ngoại, và đã chứng tỏ được là với tài năng cá nhân Ông có thể sống vinh quang ở bất cứ nơi nào Ông chọn. Cách đây mấy năm, tình cờ tôi được đọc bài viết của Thầy với tựa đề Tình Yêu Quê Hương. Bằng một lối viết ngắn gọn, đơn giản nhưng thật súc tích, với lối ví von về những con cá hồi, Thầy đã để lại trong lòng người đọc nhiều suy nghĩ. Những con cá hồi luôn muốn quay trở về đẻ trứng và chết trên nguồn suối, như cái quy luật ngàn đời của tạo hoá. Nhưng một ngày kia một chiếc đập đã ngăn dòng suối. Những con cá hồi nằm phơi xác mà không thể trở về  để làm cái nhiệm vụ cuối cùng theo quy luật của thiên nhiên.

Trong hoàn cảnh xã hội còn lắm điều làm bận lòng những nhà khoa học, làm trì hoãn sự phát triển, cái gì đã giúp Thầy quên đi những điều buồn phiền để gắn chặt Thầy với mảnh đất quê hương? Theo tôi, có lẽ đó là tình yêu với cái vĩnh cửu, với toán học. Còn nhớ trong những tháng năm vất vả đó, khi cả thầy lẫn trò phải chật vật với miếng cơm manh áo mỗi ngày, Thầy luôn luôn nhắc nhở chúng tôi không được bỏ làm toán. Trong một dịp Tết ở nhà Thầy vào một năm của thập niên 80, bên tách trà và dĩa mứt, Thầy đã tâm sự với lũ học trò chúng tôi “Nạn đói năm 1945 tại miền Bắc thật khủng khiếp. Năm đó Thầy đang học trung học. Nhà chỉ còn chút đỉnh gạo, chỉ đủ nấu cháo cho người già và cho anh của Thầy[2] lúc đó sức khoẻ rất yếu. Thầy phải ra vườn đào củ này củ nọ ăn cho đở đói. Nhưng Thầy vẫn làm toán”.

Lời Thầy theo tôi trong suốt những năm tháng sau đó, cả trong những năm đầu khó khăn khi mới ra nước ngoài. Nhiều người khuyên tôi thôi đừng học toán nữa. Tin học lúc đó đang rất thịnh hành, thu hút nhiều người học, với nhiều hứa hẹn công ăn việc làm lương bổng cao. Nhớ lời Thầy tôi chọn ở lại với toán. Trong những năm đầu sau khi tốt nghiệp tôi làm nghiên cứu tại các trường đại học ở Úc, nhưng chưa tìm được việc làm chính ngạch (permanent). Thầy biết tin viết thư sang “Việc làm bây giờ ở đâu cũng khó, ngay cả ở Mỹ. Cái tạm bợ và cái vĩnh cửu”. Tôi hiểu được rất nhiều qua lời nhắn nhủ ngắn ngủi đó. Từ nghìn xưa, chính lòng đam mê với cái đẹp của tư duy toán học, hơn là những cám dỗ vật chất, là chất men để nuôi dưỡng trí tuệ con người.

Nhưng có lẽ khó hơn là trong hoàn cảnh khó khăn như vậy làm thế nào để nuôi dưỡng niềm đam mê đó trong thế hệ trẻ. Không phải chỉ bằng những khẩu hiệu suông, mà bằng những việc làm cụ thể. Có lẽ cần ôn lại thầy trò chúng tôi đã dạy và học toán như thế nào trong giai đoạn đó. Sách giáo khoa và sách nghiên cứu thiếu thốn. Tạp chí khoa học là món hàng xa xỉ. (Tiếc thay điều này hiện nay vẫn chưa khá hơn bao nhiêu, dù rằng nguồn vật chất xã hội dồi dào hơn trước rất nhiều. Lắm khi của cải xã hội lại được đầu tư không đúng chỗ, có khi không lành mạnh cho xã hội.) Chúng tôi phải chép tay các tài liệu mà Thầy có được. Lúc đó kiểu máy photocopy có thể chụp sách như hiện nay là hoàn toàn xa lạ với xã hội Việt Nam. Phong cách làm việc của Thầy vẫn rất khoa học trong hoàn cảnh đó. Thầy hẹn tôi đến nhà Thầy, thường là vào buổi chiều. Tôi ngồi chép ngay tại phòng khách nhà Thầy, trong khi Thầy đang ngồi suy tư, có lẽ đang tìm lời giải cho một bài toán nào đó. Tuyệt đối không được mang sách hay tài liệu của Thầy về nhà, vì ngoài Thầy ra còn nhiều học trò khác cần những tài liệu đó. Không thể để các tài liệu quý báu đó mất đi do sự lơ đễnh của một người, làm ảnh hưởng đến việc học và nghiên cứu của nhiều người khác. Thường tôi ngồi chép độ khoảng một giờ là Thầy bảo ngưng, đem về học, hôm khác chép tiếp.

Đối với Thầy, đúng hẹn là vô cùng quan trọng. Tôi thường đến sớm 5 phút vì sợ trễ, nhưng không dám vào ngay. Tôi đứng ngoài cửa căn chung cư trên đường Phạm Ngọc Thạch (Duy Tân cũ), nghe tiếng sáo của Thầy vọng ra. Bản nhạc vừa dứt thì cũng vừa đúng giờ tôi phải bấm chuông. Nhiều lần như vậy, sau đó Thầy biết ý. Vừa xong bản nhạc là Thầy ra mở cửa. Cũng vừa giờ hẹn.

Để khuyến khích tôi không ngừng học toán, tránh lãng phí thời giờ và sức khoẻ vào việc dạy luyện thi kiếm thêm tiền, Thầy đã có những việc làm rất cụ thể. Từ sau năm 1981 Thầy được phép ra nước ngoài công tác, nối lại những mối quan hệ trong nghiên cứu trước kia của Thầy. Sau mỗi chuyến đi Thầy đều có quà cho học trò. Khi thì là một xấp vải may quần, thứ hàng xa xỉ thời bấy giờ. Có khi là một chai thuốc bổ Thầy mua từ Pháp hoặc Mỹ (ngày ấy tôi ốm như không còn có thể ốm hơn). Lắm khi là tiền mặt, nhiều hơn nhiều so với đồng lương tháng của tôi lúc đó, lương của một giảng viên chính thức ở đại học.

Sau mỗi chuyến công tác nước ngoài, Thầy cũng thường dẫn đám học trò đi ăn. Những dịp như vậy chúng tôi lại được nghe những mẩu chuyện lý thú về chuyến đi của Thầy. Những bài toán mà Thầy và người đồng sự ở nước ngoài không giải ra trong suốt chuyến công tác, nhưng cuối cùng lời giải lại đến với Thầy khi ngồi trên chuyến bay trở về.

Chính những việc làm cụ thể này, chứ không phải những khẩu hiệu, là nguồn động lực thúc đẩy lớp trẻ vươn lên với thời đại.

Tư tưởng Nho giáo sắp vai trò của người thầy ở hàng thứ hai trong bậc thang giá trị mà một con người cần tuân thủ: “Quân–Sư–Phụ”. Tư tưởng này ngày nay không còn hợp thời. Văn hoá Việt Nam có một khung giá trị riêng, gần gũi hơn, tình cảm trìu mến hơn: “Công Cha–Nghĩa Mẹ–Ơn Thầy”.

Trần Thạnh

17/09/2006

(Bài được đăng trong “Trong Ngần Bóng Gương” Kỷ yếu mừng GS.TS. Đặng Đình Áng thượng thọ 80, Nhà Xuất bản Tri Thức, 2006)


[1] Sách Đại Học, một trong Tứ Thư

[2] Thi sĩ Đặng Đình Hưng, thân phụ của Nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn


Đôi dòng về Giáo Sư Đặng Đình Áng:

  • Sinh năm 1926 tại Hà Đông cũ, cháu 7 đời của cụ Đặng Đình Tướng, một danh hiền thời Hậu Lê. Anh ruột của ông là nhà thơ Đặng Đình Hưng (cha của nghệ sĩ dương cầm Đặng Thái Sơn), một trong những thành viên của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm.
  • Tự học để thi Tú Tài I ở Hà Nội và Tú Tài II ở Sài Gòn.
  • Sang Mỹ du học năm 1953 tại Đại học Kansas theo học bổng Fullbright. Tốt nghiệp kỹ sư hàng không năm 1955.
  • Nhận bằng Tiến sĩ Toán tại Học viện Kỹ Thuật California (CalTech) năm 1958. Giảng dạy tại đây hai năm.
  •  Năm 1960 trở về Việt Nam, được bổ nhiệm làm Giáo Sư Thực Thụ (Full Professor), Trưởng Ban Toán tại Đại Học Khoa Học Sài Gòn lúc mới 34 tuổi. Ông giữ chức vụ này đến năm 1975.
  • Ông là người đã hiện đại hoá chương trình dạy toán ở miền Nam, đưa những môn toán hiện đại vào chương trình đào tạo Cử Nhân và Cao học, cải tổ cách thi “thách đố” cũ của các giáo sư Pháp.
  • Năm 1980 ông được phong danh hiệu Giáo sư trong đợt phong giáo sư đầu tiên sau năm 1975.
  • Nghiên cứu và thỉnh giảng tại nhiều trường đại học nổi tiếng: Hoa Kỳ: CalTech, UCLA, Đại học Utah; Anh: Đại học Cambridge; Pháp: Đại học Paris XIII, École Polytechnique, Paris, Đại học Orléans;  Nhật: Đại học Tokyo; Đức: Free University of Berlin; Ý: Instituto per le Appliczion del Calcolo; Ba Lan: Trung tâm Toán học Stefan Banach; v.v.
  • Ông qua đời ngày 28 tháng 8 năm 2020 tại Sài Gòn, hưởng thọ 95 tuổi.