Nho lai nhung nam hoc de nhut cap tai truong PK 1953-57 – Lam Vinh The

          Mùa Hè năm 1953, sau khi đã thi đậu bằng tiểu học, tôi nộp đơn xin dự kỳ thi tuyển rất khó khăn (vì số thí sinh dự tuyển quà đông, lên đến hàng ngàn người) vào các lớp đệ thất của Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký, mà đồng bào Miền Nam thường chỉ gọi tắt là Trường Petrus Ký, và, thật là rất may mắn, tôi đã trúng tuyển, được xếp hạng 355 trên tổng số 550 thí sinh trúng tuyển của kỳ thi tuyển năm đó.  Sau đó, tôi đã theo học suốt 7 năm (1953-1960) của bậc Trung Học tại ngôi trường danh tiếng này.  Bài viiết này chỉ tập trung ghi lại những kỷ niệm vui buồn với các Thầy Cô, và với các bạn học cùng lớp trong thời gian 4 năm (1953-1957) của bậc Đệ Nhứt Cấp mà thôi.

Trở Thành “Dân Petrus Ký”

          Tôi là một đưa trẻ mồ côi cha từ nhỏ.  Ba tôi mất vì bịnh tim vào đầu năm 1948 khi tôi chưa được đủ 7 tuổi để đi học.  Mấy tháng sau dó, một buôi sáng, Mẹ tôi dẫn tôi đến ghi danh xin vào học Lớp Chót (hay Lớp Năm, bây giờ gọi là Lớp Một) của  một trường tiểu học tư thục nhỏ xíu nhưng lại có một cái tân rất to, rất oai là Trường Quốc Học, nằm tại ngã ba của 2 đường Legrand de la Lyraye (sau 1954, được đổi tên thành đường Phan Thanh Giản, bây giờ là đường Điện Biên Phủ) và đường René Vigerie (bây giờ là đường Phan Kế Bính).  Tôi chỉ học tại đây vài tháng để biết đọc, biết viết và thuộc cửu chương.  Đầu tháng 9-1948 tôi chính thức được nhận vào Lớp Năm của Trường Nam Tiểu Học Đakao.  Tôi đã học Trường Đakao suốt 5 năm (1948-1953) của bậc Tiểu Học.  Cuối năm lớp nhứt, sau khi đã đậu bằng Tiểu Học, tôi thi vào Petrus Ký và đã đậu.  Mẹ tôi rât vui mừng và đã mua thưởng cho tôi một chiếc xe đạp mới tinh nhập cảng từ Pháp.  Tôi đã sử dụng chiếc xe đạp này để đi học hàng ngày trong 7 năm tại Trường Petrus Ký. 

          Khi mới vào trường, tôi được xếp vào Lớp Đệ Thất B6, sau nửa năm hoc, tên lớp được đổi thành Lớp Đệ Thất F, và tên gọi mới này được giữ mãi cho đến hết bậc đệ nhứt cấp như sau: Lớp Đệ Thất F (niên khóa 1953-1954), Lớp Đệ Luc F (niên khóa 1954-1955), Lớp Đệ Ngũ F (niên khóa 1955-1956), và Lớp Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957).

Lớp Đệ Thất F (Niên Khóa 1953-1954)

          Ở năm học 1953-1954, tại Lớp Đệ Thất F, bọn tôi đã được học với các Thầy Cô có tên sau đây:

  • Thầy Ưng Thiều: môn Hán Văn
  • Thầy Phạm Văn Sửu: môn Pháp Văn
  • Thầy Ưng Đồ: môn Anh Văn
  • Thầy Nguyễn Văn Gần: môn Sử Địa
  • Thầy Tăng Văn Chương: môn Vật Lý
  • Thầy Lê Văn Khiêm: môn Hóa Học
  • Cô Nguyễn Thị Ngà: môn Vạn Vật

Thầy Ưng Thiều

          Dựa trên bài thơ Đế Hệ Thi [1] do Vua Minh Mạng (1820-1841) dặt ra dùng để làm chữ lót cho tên con cháu của Ngài:

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh,
Bảo Quý Định Long Trường,
Hiền Năng Kham Kế Thuật,
Thế Thoại Quốc Gia Xương.

          Thầy Ưng Thiều, mà tên họ đầy đủ là Nguyễn Phúc Ưng Thiều, với chữ lót là Ưng, có vai vế khá cao trong Hoàng tộc Nguyễn Phúc, đứng vào vai ông của Vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945).

          Điều đáng buồn cho Thầy là Thầy đã “sinh bất phùng thời” khi Nhà Nguyễn đã  suy tàn và chữ Hán đã không còn được trọng dụng nữa.

          Thầy Ưng Thiều chính la tác giả 2 câu đối chữ Hán đã được khắc vào  2 trụ trước cổng Trường Petrus Ký:

Khổng Mạnh Cương Thường Tu Khắc Cốt
Tây Âu Khoa Học Yếu Minh Tâm

Thầy Phạm Văn Sửu

           Thầy Phạm Văn Sửu dạy môn Pháp Văn, là một trong những vị Giáo sư đầu tiên của Trường Petrus Ký đã để lại một dấu ấn đậm nét trong tâm hồn tôi, không những vì công ơn dạy dổ của Thầy (chúng tôi học Pháp Văn với Thầy suốt 4 năm Ðệ Nhất Cấp), mà vì Thầy đã nêu gương sáng cho tất cả anh em chúng tôi qua tư cách của Thầy, cũng như qua quyết tâm vươn lên trong xã hội của Thầy.  Xuất thân là một huấn luyện viên thể dục, lại nặng gánh gia đình đông con, vợ lại không đi làm, Thầy đã cố gắng vừa đi làm, vừa đi học thêm để lấy bằng Tú Tài.  Sau khi đậu xong Tú Tài, Thầy xin cải sang ngạch Giáo Sư Ðệ Nhất Cấp và được cử dạy môn Pháp Văn tại Trường. Trong suốt 4 năm dạy Pháp Văn cho anh em chúng tôi tại Trường, Thầy lại mở lớp dạy tư thêm tại nhà, một ngôi nhà nhỏ trong khu Bàn Cờ, để tăng thêm lợi tức cho gia đình vì lúc đó các con Thầy cũng đã lớn, trong nhà cần chi phí nhiều hơn. Tôi vẩn nhớ có nhiều hôm tụi tôi đến học thêm tại nhà Thầy, trời nóng quá, Thầy cho phép tụi tôi cởi áo ra, ở trần hết, riêng Thầy cũng chỉ mặc áo thung ba lổ.  Hình ảnh “lớp học” lúc đó trông chắc buồn cười lắm nhưng quả thật đã để lại trong tôi rất nhiều kỹ niệm êm đềm.  Cũng trong thời gian nầy, Thầy lại cố gắng ghi danh học Luật, và sau cùng Thầy lấy được mãnh bằng Cử Nhân Luật Khoa.  Thầy rời Trường, chuyển sang ngành Tư Pháp và được bổ nhiệm vào chức vụ Chánh Án các Toà Sơ Thẩm.  Gần mười năm sau, thầy trò chúng tôi lại có dịp gặp lại nhau tại tỉnh Kiến Hòa (Bến Tre).  Lúc đó tôi vừa tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon và được bổ về dạy các lớp Ðệ Nhị Cấp tại Trường Trung Học Công Lập Kiến Hòa.  Thầy Phạm Văn Sửu lúc đó là đương kim Chánh Án Toà Án Tỉnh Kiến Hòa.  Tôi có đến thăm Thầy mấy lần tại ngôi biệt thự rất lớn dành cho vị Chánh Án của tỉnh, nằm cạnh bờ hồ Chung Thủy, ngay trước cổng Trường Trung Học.  Tôi nhắc lại mấy buổi học “ở trần” tại nhà Thầy ở khu Bàn Cờ, Thầy cười và nói: “Cái thằng nhớ dai dữ.”  Thầy rất mừng cho sự đổ đạt của tôi.  Tôi không nói ra, nhưng trong bụng thầm nghĩ “Chính nhờ Thầy đã nêu gương sáng hiếu học mà ngày nay con mới nên người”.  

Thầy Ưng Đồ

          Khi lớp Ðệ Thất F của bọn tôi thành hình (từ Ðệ Thất B6 đổi tên sang Ðệ Thất F, do quyết định chọn học môn Anh Văn), một Thầy Giám thị nữa được nhà trường cử sang dạy môn Anh Văn.  Ðó là Thầy Ưng Ðồ.  Thầy Ưng Ðồ tướng người cao lớn, da ngâm đen, tiếng nói rỗn rảng.  Thầy cho bọn tôi biết là Thầy tự học môn Anh Văn vì Thầy thích ngôn ngữ nầy, Thầy đã từng tìm cách làm quen với các thủy thủ tàu buôn từ các nước nói tiếng Anh đến Saigon, với mục đích học cách phát âm và đàm thoại.  Nên nhớ rằng vào thời gian đầu thập niên 50 nầy, số người biết rành tiếng Anh ở Việt Nam không có nhiều lắm.  Ða số người học Anh Văn ở Saigon vào thời gian nầy đều sử dụng bộ đĩa “Anglais Sans Peine” (của Pháp) để nghe và học cách phát âm, ít có người chịu khó tìm học cách phát âm nơi những người “native speakers” như Thầy Ðồ.  Lúc đó, vì chưa hiểu nhiều gì về tiếng Anh, tụi tôi thường cười với nhau khi thấy Thầy Ðồ cố gắng sửa lưởi, sửa miệng để phát âm cho đúng các tiếng Anh đầu tiên mà Thầy đã dạy cho bọn tôi.  Một điều đặc biệt nữa cần ghi lại về Thầy Ðồ là sự đam mê tiếng Anh của Thầy.  Thầy mê đến độ Thầy đã đặt tên cho mấy người con trai của Thầy bằng tiếng Anh luôn: hai anh Bửu Second (tức Bửu Nhị) và Bửu Third (tức Bửu Tam) là bạn học với bọn tôi suốt thời gian Ðệ Nhất Cấp.    

Thầy Nguyễn Văn Gần

          Thầy Nguyễn Văn Gần là Giáo sư dạy chúng tôi môn Sử Ðịa trong hai năm Ðệ Thất và Ðệ Ngủ (về sau lên Ðệ Nhị Cấp chúng tôi còn học với Thầy thêm năm Ðệ Tam nữa).  Trong tất cả các giáo sư mà tôi đã học ở Trường Petrus Ký trong suốt 7 năm chương trình Trung học, Thầy Gần là người vui tính nhứt, và dạy học sống động nhứt với lối kể chuyện rất lôi cuốn, làm bọn tôi vô cùng say mê.  Riêng đối với cá nhân tôi, Thầy Gần đã có ảnh hưởng rất nhiều, gây sự thích thú trong tôi đối với môn học mà phần đông học sinh đều cho là khô khan, khó nuốt.  Về sau chính tôi đã theo bước Thầy và trở thành Giáo sư dạy môn Sử Ðịa.  Ngoài việc dạy anh em chúng tôi theo đúng chương trình chính quy của Bộ Giáo Dục, Thầy Gần luôn luôn kể thêm nhiều chuyện ngoại sử (kiểu như bài đọc thêm) với nhiều tình tiết hấp dẫn.  Chắc chắn anh em nào đã học Sử Ðịa với Thầy Gần trong thời gian nầy cũng còn nhớ cảnh Thầy vừa kể chuyện D’Artagnan (trong truyện Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ – Les Trois Mousquetaires của Alexandre Dumas) đánh kiếm vừa ra bộ làm tuồng rất là hấp dẫn.  Thời gian đó các anh lớn Petrus Ký đi thi Tú Tài mà gặp được Thầy hỏi vấn đáp thì coi như đậu chắc môn Sử Ðịa, vì Thầy không hề cho ai dưới điểm trung bình cả.  Tôi tin rằng tất cả anh em học sinh Petrus Ký ai cũng thương mến Thầy Gần vì tánh tình vui vẻ, hiền lành của Thầy.

Thầy Tăng Văn Chương

Hình Thầy Tăng Văn Chương chụp khoảng thập niên 2000

          Thầy Tăng Văn Chương dáng người tầm thước, mặt nghiêm nghị, đầu hớt tóc ngắn kiểu “bàn chải = brosse,” là Giám thị trực tiếp trông coi lớp Ðệ Thất B6 của bọn tôi.  Thầy biết tên họ, gia cảnh, hạnh kiểm, học lực của từng đứa bọn tôi.  Lúc đầu bọn tôi rất sợ Thầy nhưng dần ra bọn tôi nhận ra là Thầy cũng hiền chứ không dữ như cái bề ngoài của Thầy.  Một kỹ niệm vui mà tụi tôi có với Thầy xảy ra như sau: hôm đó vừa xong giờ Pháp Văn với Thầy Phạm Văn Sửu, tụi tôi được ra chơi, anh Nguyễn Văn Ánh (về sau trở thành phi công lái phi cơ khu trục của Không Lực Việt Nam Cộng Hòa và tử nạn trong một phi vụ vào khoảng cuối thập niên 60) vừa ở trong lờp phóng ra, sớn sát nhảy lên cập cổ Thầy Chương từ đằng sau, khi nhận ra mình lầm, anh hoãng hồn vừa xin lổi Thầy Chương vừa ấp úng nói: “Con tưởng thằng Tắc”  (anh Dương Xã Tắc là học sinh lớn tuổi nhứt mà cũng lớn con nhứt trong lớp; anh Tắc và tôi về sau rất thân nhau; anh tử trận trong một cuộc đụng độ ở Bến Lức vào khoảng năm 1964), lúc đó tụi tôi đều xanh mặt lo sợ cho anh Ánh, nhưng, thật không ngờ, Thầy Chương chỉ cười và nói :”Cái thằng con khỉ” , rồi tiếp tục “đi tuần” như không có chuyện gì xảy ra.  Sau nầy, trong thập niên 1970, Thầy Chương trở thành Tổng Giám Thị của Trường Petrus Ký.

Thầy Lê Văn Khiêm

Hình Thầy Lê Văn Khiêm chụp khoảng thập niên 2000

          Thầy Lê Văn Khiêm dạy môn Hóa Học cũng người tầm thước như Thầy Chương nhưng ốm hơn, mặt coi hiền hơn, cũng là Giám thị khu vực lớp tôi, làm việc xen kẻ với Thầy Chương.  Tôi còn nhớ mãi một hôm trong giờ Hóa Học, Thầy Khiêm, sau khi làm thí nghiệm phân tích nước ra thành ốc-xy và hydrô, đã cho một số học sinh chúng tôi lên ngữi ốc-xy trong ống nghiệm mà thầy đã phân tích ra được, và dĩ nhiên là bọn nhóc tụi tôi khoái vô cùng.  Mấy năm về sau, mặc dù không còn học với Thầy Khiêm nữa, nhưng bọn tôi vẫn tiếp tục được Thầy trông coi với tư cách Giám thị.

Cô Nguyễn Thị Ngà

          Vị Giám thị nữ duy nhứt của Trường Petrus Ký là Cô Nguyễn Thị  Ngà, dạy môn Vạn Vật.  Cô đi làm luôn luôn mặc áo dài trắng, ít khi thấy Cô mặc áo màu nào khác.  Cô bới đầu, mặt chỉ thoa một lượt phấn mõng.  Cô nói năng lúc nào cũng dịu dàng, nhỏ nhẹ, gần như không bao giờ thấy Cô giận, hay la mắng bọn tôi.  Giờ Vạn Vật học với Cô lúc nào cũng vui vẻ, náo nhiệt vì bọn tôi biết không bao giờ Cô phạt ai cả.  Vì thế, không nói ra, nhưng tất cả bọn tôi đều coi Cô như Bà Mẹ chung của cả lớp.  Nói chuyện với nhau, bọn tôi đều gọi Cô là “Má Ngà” Cô có một người con trai, anh Quang, là bạn học cùng lớp với bọn tôi suốt thời đệ nhị cấp.

Lớp Đệ Lục F (Niên Khóa 1954-1955)

          Đây là một năm học rất bất bình thường vì Việt Nam đang trải qua một giai đoạn bất ổn định vế chính trị, sau khi Hiệp Định Genève được ký kết vào ngày 20-7-1954 giữa Pháp và Việt Minh.  ChÍnh phủ Ngô Đình Diệm, vừa mới được thành lập vào ngày 7-7-1954, mặc dù được Mỹ ủng hộ, vẫn còn rất non kém, yếu ớt, và phải đương đầu với các giáo phái võ trang, đặc biệt nhứt là Lực Lượng Bình Xuyên của Tướng Bảy Viễn.  Một dơn vị của Công An Xung Phog của Bình Xuyên, do chính con trai của Bảy Viễn là Đại Úy Lê Paul,chỉ huy, đã đóng quân ngay trong khuôn viên của Trường Petrus Ký với một vọng gát có bố trí súng đại liên tại đầu con đường dẫn vào khu vực để xe đạp cho học sinh.  Bọn tôi đã đi học hàng ngày trong cái không khí sặc mùi chiến tranh đó.  Và, sau cùng, chuyện phải đến đã đến.  Tôi vẫn còn nhớ rất rõ đó là một buổi trưa tháng 4, trong giờ môn Pháp Văn với Thầy Phạm Văn Sửu.  Tiếng súng nổ rầm rầm không ngừng, thế là hai bên đã đánh nhau thật rồi.  Thầy Sửu rất bình tỉnh, ra lệnh cho bọn tôi đóng lại tất cả các cửa sổ của lớp học và sau đó chuii xuống nấp dươi các gâm bàn học, còn Thầy thì vãn ngồi đàng hoàng ngay tại bàn thấy, làm bọn toi rất yên tâm và cảm phục Thầy.  Sau độ nửa giờ, tiếng súng đã dứt, nhà trường cho học sinh ra về hêt, đóng cửa trường và chấm dứt năm học luôn.

Lớp Đệ Ngũ F (Niên Khóa 1955-1956)

          Ngày tựu trường của năm học 1955-1956 kế tiếp, khi vào trường, bọn tôi vẫn còn được thây các dấu tích của cuộc chiến như các vết đạn trên tường, ngoài hành lang, vết đạn trên mặt tượng Petrus Ký tại khu vực tượng đài kỷ niệm, các lan can có một số dấu nồi nấu cơm của Lính Dù, vv.

          Năm học này, bọn tôi được học với các Thầy sau đây:

  • Thầy Bùi Trọng Chương: 2 môn Quốc Văn và Luân Lý
  • Thầy Phạm Văn Sửu: môn Pháp Văn
  • Thầy Đinh Xuân Thọ: môn Anh Văn
  • Thầy Nguyễn Văn Gần: môn Sử Địa
  • Thầy Phan Đình Nữu: môn Toán
  • Thầy Trần Thượng Thủ: 2 môn Lý-Hóa và Vạn Vật
  • Thầy Trương Đình Ý: môn Hội Họa  

Thầy Bùi Trọng Chương

Hình Thầy Bùi Trọng Chương chụp khoảng thập niên 2000

Thầy Bùi Trọng Chương cùng tốt nghiệp Trường Cao Ðẳng Sư Phạm Hà Nội và cùng được bổ về dạy Trường Petrus Ký cùng một lượt với các Thầy Lê Xuân Khoa, Thầy Vũ Ngọc Khôi và Thầy Đinh Xuân Thọ.  Tôi được may mắn học với Thầy môn Quốc Văn liên tiếp bốn năm Ðệ Ngũ, Ðệ Tứ, Ðệ Tam và Ðệ Nhị.  Thầy Chương người tầm thước, hơi ốm, và có thể nói là một trong những vị Giáo sư khả kính nhất, và có tác phong sư phạm nhất của Trường Petrus Ký trong suốt thời gian bảy năm tôi theo học tại Trường.  Thầy rất nghiêm, nhưng không khắc khe, Thầy lại dạy học rất tận tâm, soạn bài rất kỹ, chấm bài rất đều, và cho điểm rất chừng mực.  Khi dạy lớp đi thi, như Ðệ Tứ (thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp) hay Ðệ Nhị (thi Tú Tài I), Thầy cố gắng theo sát và dạy thật đầy đủ chương trình giáo khoa, nhờ vậy, khi đi thi có thể nói là bọn tôi hoàn toàn không bị lúng túng trước các đề thi.  Thầy Chương cũng nêu gương hiếu học cho bọn tôi.  Vừa dạy học Thầy vừa học thêm tại Ðại Học Luật Khoa và sau cùng Thầy lấy được bằng Cử Nhân Luật.  Về sau khi tôi đã tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm Saigon, tôi có dịp làm việc chung với Thầy vài lần tại các hội đồng thi Tú Tài.  Khi đó Thầy thường đãm nhận chức vụ Chánh Chủ Khảo hoặc Phó Chủ Khảo các hội đồng thi nầy và tôi lại được học hỏi về cách làm việc công bình và quang minh chính đại của Thầy.  Trước khi rời Việt Nam năm 1981 tôi có đến chào Thầy lần cuối tại  nhà Thầy trong khu Bàn Cờ.  Về sau Thầy cùng gia đình sang định cư tại tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ.  Một lần nữa Thầy lại làm chúng tôi ngạc nhiên và vô cùng khâm phục: Thầy trở lại trường Ðại Học và lấy xong văn bằng Bachelor of Arts.  Gần đây, mổi khi Thầy có dịp về Việt Nam thì anh em học sinh lớp Ðệ Tứ F, niên khóa 1956-1957, của Petrus Ký lại tổ chức họp mặt với Thầy.  Thầy mất năm 2013 tại Nam California, Hoa Kỳ.  Sau khi Thầy mất, tôi và em Lương Văn Hy, Giáo Sư Đại Học Toronto,  đã thành lập một Quỹ Học Bổng mang tên Thầy nhằm mục đích cấp phát học bổng cho học sinh giỏi và có gia cảnh khó khăn của Trường Trung Học Phổ Thông Chuyên Lê Hồng Phong (tức Trường Trung Học Petrus Ký trước năm 1975, là ngôi trường mà Thầy đã gắn bó trọn cuộc đời 40 năm dạy học của mình).  Có thể vào xem chi tiết về Quỹ Học Bổng Thầy Bùi Trọng Chương tại địa chỉ Internet sau đây:

http://hoc-bong-btc.blogspot.ca/p/trang-chu_25.html

Thầy Đinh Xuân Thọ

Hình Thầy Đinh Xuân Thọ chụp năm 1953

            Thầy Ðinh Xuân Thọ dạy Anh Văn cho bọn tôi trong hai năm Ðệ Lục và Ðệ Ngũ (về sau lên Ðệ Nhị Cấp, bọn tôi còn được học thêm với Thầy một năm Ðệ Tam nữa).  Thầy Thọ tướng người tầm thước, trắng trẻo, giống như lai Pháp.  Thầy rất hiền, và có một đặc điểm mà tôi không bao giờ quên được là mổi khi Thầy mắt cở thì hai vành tai của Thầy đỏ lên liền.  Thầy dạy học rất tận tụy với học sinh, Thầy dạy bọn tôi quyển Anglais Vivant, 6e Bleu của Carpentier Fialip là sách giáo khoa Anh văn của thời đó, Thầy bắt bọn tôi tập đọc rất nhiều, Thầy lại chú trọng rất nhiều về văn phạm, nhờ vậy mà bọn tôi có được một căn bản về văn phạm rất vững chắc.  Sau khi rời Trường Petrus Ký tôi không có dịp nào gặp lại Thầy.  Tháng 8 năm 1984, trước khi rời Ottawa, đi nhận nhiệm sở mới tại Hamilton, Ontario, tôi có dịp gặp được người con trai của Thầy là Bác sĩ Ðinh Xuân Anh Tuấn và được Tuấn cho hay Thầy đã mất vì bịnh tim tại Pháp mấy năm trước đó.

Thầy Phan Đình Nữu

          Thày Phan Đình Nữu tốt nghiệp Trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội năm 1953 và được bỏ vào Nm cùng một lúc với các Thầy Lê Xuân Khoa, Bùi Trọng Chương, Vũ Ngọc Khôi, và Đinh Xuân Thọ.  Thầy Nữu được điều về Trường Quốc Gia Su Phạm.  Thầy Nữu chỉ dạy giờ tại Trường Petrus Ký có một niên khóa này mà thôi.

Thầy Trần Thượng Thủ

          Thầy Trần Thượng Thủ dạy bọn tôi chỉ có một năm Ðệ Ngũ nầy thôi nhưng thật cũng khó mà quên được Thầy.  Vì nhiều lý do.  Trước hết là con người của Thầy.  Thầy tác người thấp lại mập tròn, đầu gần như không có tóc, trông Thầy giống như một sĩ quan của Quân Ðội Thiên Hoàng.  Thầy lại rất nghiêm khắc, và nhiều khi có những hành động thái quá đối với học sinh, như là lên gối, dộng đầu học sinh vào bảng đen, có thể nói Thầy là một “hung thần” đối với bọn tôi (chính Thầy đã dùng chữ “hung thần” nầy để tự mô tả mình trong bài viết của Thầy trong Ðặc San Petrus Ký 1998).  Nhưng phải công nhận là Thầy giảng bài hay vô cùng, Thầy lại viết chữ và vẻ hình rất đẹp trên bảng.  Một điểm đặc biệt nữa về Thầy Thủ là Thầy không ký tên thật của mình mà luôn luôn ký “TamTê” (vì tên họ của Thầy gồm ba chữ T đứng đầu) trong học bạ của học sinh.  Hơn mười năm sau, tôi có dịp gặp lại Thầy vì dạy chung với Thầy tại Trường Trung Học tư thục Kiến Thiết.  Ngay tại lần gặp gỡ đầu tiên trong phòng giáo sư Trường Kiến Thiết, khi tôi tiến lại chào, Thầy đã gọi tôi bằng tên họ chữ lót đầy đủ làm tôi vừa cảm động, vừa khâm phục trí nhớ của Thầy vô cùng.

Thầy Trương Đình Ý

          Thầy Trương Ðình Ý dạy bọn tôi môn Hội Họa.  Mổi lần tới giở nầy là bọn tôi đến Phòng Vẻ xếp hàng bên ngoài, chờ Thầy cho phép mới được vào.  Mổi học sinh có một giá vẻ riêng, ở giữa phòng có một cái bệ cao, trên đó Thầy Ý sẽ đặt một món đồ cho bọn tôi coi theo mà vẻ, khi thì cái ấm nước, khi thì nải chuối, v.v.  Chuyên môn của Thầy Ý về sau nầy tôi mới biết là nắn tượng chứ không phải vẻ tranh.  Thầy Ý, dù thật sự là một nghệ sĩ, bề ngoài trông không có vẻ gì là nghệ sĩ cả, nhìn Thầy bọn tôi có cảm tưởng Thầy là một ông công chức già, tóc hớt cao, làm việc tỉ mĩ.  Suốt giờ học, Thầy chỉ ngồi tại bàn bu-rô, cắm cúi làm chuyện riêng của mình (phác họa các đồ án điêu khắc của Thầy), chỉ thỉnh thoảng ngước lên nhìn một vòng xem có đứa nào phá rối gì hay không, họa hoằn lắm mới thấy Thầy đi một vòng xem bọn tôi vẻ ra sao.  Thầy Ý chính là điêu khắc gia đã tạo tượng Phật nằm khổng lồ, dài 49 m, ở núi Tà Cú, thuộc huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận, được xác nhận trong Trang Web sau đây:

Tượng Phật Nằm Khổng Lồ đãi 49 m tại Núi Tà Cú, Bình Thuận

http://www.tiengviet.com/kham-pha-tuong-phat-dai-nhat-dong-nam-a.html

Lớp Đệ Tứ F (Niên Khóa 1956-1957)

          Năm học 1956-1957, ở Lớp Đệ Tứ F, bọn tôi được học với các Thầy Cô sau đây:

  • Thầy Bùi Trọng Chương: 2 môn Quốc Văn và Luân Lý
  • Thầy Phạm Văn Sửu: môn Pháp Văn
  • Thầy Nguyễn Hoàng Sang: môn Anh Văn
  • Cô Nguyễn Thị Sâm: môn Sử Địa
  • Thầy Dương Dạn Hòa: môn Toán
  • Thầy Vũ Ngọc Khôi: 2 môn Lý-Hóa và Vạn Vật
  • Thầy Nguyễn Văn Hài: môn Hội Họa
  • Thầy Marcel: môn Âm Nhạc

Thầy Nguyễn Hoàng Sang

          Thầy Nguyễn Hoàng Sang dạy môn Anh Văn là một người tầm thước, hơi ốm, đi dạy lúc nào cũng bận một đồ complet bằng sharkskin trắng.  Thầy Sang có rất nhiều đặc điểm làm bọn tôi khó quên được Thầy.  Tôi thật sự không rõ Thầy có được đào tạo về sư phạm hay không nhưng phải nhận rằng Thầy dạy rất hay, rất sống động, vừa tạo được không khí vui tươi cho lớp học, vừa tạo được sự tham gia tích cực của học sinh trong giờ học.  Khi dạy về đề tài nào là Thầy vẻ hình về đề tài đó lên bảng ngay, mà Thầy vẻ theo lối hí họa nên trông rất vui và hấp dẫn.  Một lần Thầy dạy một bài về tàu bè, thế là Thầy vẻ ngay lên bảng một chiếc tàu, với đầy đủ mỏ neo, ống khói và dây ăng-ten.  Vẻ xong, Thầy quay lại hỏi bọn tôi có biết dây đó là dây gì hay không.  Dĩ nhiên bọn tôi đều biết đó là dây ăng-ten nhưng anh Ánh (cũng là cái anh chàng Ánh liếng khỉ đã nhảy lên cặp cổ Thầy Giám Thị Chương của hai năm về trước) lẹ làng dơ tay lên xin trả lời và bảo đó là dây phơi quần áo.  Bọn tôi cười quá trời.  Thầy Sang, mặt không đổi sắc, vừa chỉ tay vào mặt anh Ánh vừa nói :”Cha mầy!”.  Vậy thôi, Thầy không phạt anh Ánh gì cả, và lại quay ra dạy tiếp.  Từ đó tụi tôi biết rõ bản tính hiền lành của Thầy.  Khi dạy bài “Thỏ Rùa Chạy Ðua” Thầy kêu ba học sinh lên, tôi và hai anh Xuân và Phước, Thầy bắt tôi đóng vai Thỏ, hai anh Xuân và Phước đóng vai Rùa, rồi Thầy bố trí cho hai con Rùa trong một lối đi giữa các bàn học, một con (anh Xuân) ở đầu lối đi, một con (anh Phước) ở cuối lối đi, còn con Thỏ thì ở lối đi phía bên kia.  Hể con Thỏ chạy gần đến cuối lối đi bên nây thì con Rùa nhõm dậy ở lối di bên kia, vậy là lần nào con Thỏ cũng thua cả.  Trong suốt vở kịch, ba anh em chúng tôi phải nói toàn những câu tiếng Anh do Thầy đã dạy trước.  Bọn diển viên bất đắc dĩ chúng tôi đã đóng trọn vẹn vở kịch “Thỏ Rùa Chạy Ðua” do Thầy Sang “dàn dựng” ngay trong lớp học, và cả lớp đã được một buổi học vô cùng vui vẻ và sống động.  Ðặc điểm sau cùng về Thầy Sang mà tôi vẫn còn nhớ là Thầy đi dạy học bằng xe hơi, một chiếc Juvaquatre mui trần màu trắng, một điều khá hiếm trong giới Giáo sư trung học trong thập niên 50. Riêng tôi có được thêm một kỹ niêm riêng với Thầy Sang.  Giữa năm đó, thi đệ nhứt lục-cá-nguyệt tôi đứng hạng nhứt môn Anh Văn, và được Thầy chọn thay mặt cho học sinh Petrus Ký đọc một diễn văn ngắn bằng tiếng Anh trong buổi lể tiếp nhận sách do Phòng Thông Tin Hoa Kỳ tặng cho Trường.  Tôi còn nhớ một ngày trước buổi lể đó, học sinh Petrus Ký chúng tôi được điều động ra đứng dọc theo đường Công Lý để chào mừng Tổng Thống Ngô Ðình Diệm công du Ðại Hàn trở về.  Bọn tôi ra đó rất sớm, tất cả đều mặc đồng phục trắng cho các ngày lể, trong khi chờ đợi thì Thầy Sang đến, nói vài lời với thầy Giám thị phụ trách lớp bọn tôi, rồi dẩn tôi ra, cho tôi lên ngồi trên chiếc xe Juvaquatre kế bên Thầy (xe Thầy chỉ có hai chổ ngồi, không có băng sau) và tập dượt cho tôi đọc bài diển văn mà Thầy đã soạn sẳn.  Nhờ vậy, qua hôm sau, tôi đã làm tròn nhiệm vu, đọc bài diển văn không bị vấp váp.

Cô Nguyễn Thị Sâm

Hình Cô Nguyễn Thị Sâm không rõ năm chụp

          Cô Nguyễn Thị Sâm là Giáo sư môn Sử Ðịa của lớp Ðệ Tứ F bọn tôi.  Hình như Cô là con gái lớn của Thầy Y Tá Trưởng Bệnh Xá của Trường.  Cô Sâm người tầm thước, tóc uốn, mặt trái soan, mang kính cận khá nặng, và có dáng đi rất đẹp.  Cô là thái cực đối nghịch của Cô Lâm Thị Dung.  Cô làm bọn tôi say mê môn Sử Ðịa vì Cô dạy môn học với tất cả tâm hồn và lòng nhiệt thành.  Nếu Thầy Nguyễn Văn Gần là Giáo sư gây được niềm vui trong hai giờ Sử Ðịa thường được coi là khô khan, thì Cô Sâm là Giáo sư đã thật sự hun đúc nơi anh em chúng tôi lòng ái quốc, và niềm tự hào về lịch sử của dân tộc mình.  Khác hẳn với Cô Dung chỉ lấy giáo khoa ra đọc cho bọn tôi nghe, Cô Sâm soạn hẳn bài Sử và đọc cho bọn tôi chép.  Lời văn của Cô vừa bóng bẩy, vừa hùng hồn, đọc lên gây xúc động rất nhiều nơi học sinh.  

Thầy Dương Dạn Hòa

Hình Thầy Dương Dạn Hòa – Niên Giám Quốc Hội VNCH, Khóa 2, năm 1960

          Thầy Dương Dạn Hòa (chữ lót trong tên của Thầy là như vậy, có lẻ do Chánh Lục Bộ đã viết sai khi thân phụ Thầy đi làm giấy khai sanh cho Thầy) dạy anh em chúng tôi môn Toán hai năm Ðệ Thất và Ðệ Tứ.  Thầy Hòa người nhỏ nhắn, đi dạy học lúc nào cũng bận complet, thắt cà vạt đàng hoàng.  Thầy rất nghiêm khắc, và đặt ra rất nhiều luật lệ làm cho chúng tôi theo muốn hụt hơi.  Thí dụ, khi làm bài trên giấy nộp cho Thầy thì luôn luôn phải gạch hàng đóng khuôn tên của mình lại, mà khuôn thì phải đầy đủ bốn gạch thành hình chữ nhựt đàng hoàng, mấy tên nào làm biếng chỉ gạch hai gạch, và dùng hai cạnh của tờ giấy làm hai cạnh còn lại của khuôn tên, đều bị trừ hai điểm.  Khi làm bài trong lớp nộp cho Thầy thì chỉ năm đứa nộp bài đầu tiên là được đủ điểm tối đa, năm đứa kế tiếp đều bị trừ một điểm, năm đứa kế nữa bị trừ hai điểm, và cứ thế điểm tối đa bị sụt dần.   Vì cái “luật” khắc khe nầy, tụi tôi đứa nào cũng rán làm bài cho nhanh để khỏi bị trừ điểm.  Ngoài ra, Thầy còn đặt thêm một luật nữa, là tất cả các bài toán đều phải có phép thử viết ngay bên cạnh, thiếu cái nầy cũng bị trừ điểm luôn.  Nói tóm lại tụi tôi làm toán phải luôn luôn đạt hai tiêu chuẩn là nhanh và đúng.  Lúc đầu mới học với Thầy thật quả là khốn khổ, nhưng dần dà rồi cũng quen và thấy có hiệu quả tốt.  Và với thời gian tụi tôi cũng nhận ra rằng Thầy tuy bề ngoài có vẻ rất nghiêm khắc nhưng thật ra rất vui tính và thương tụi tôi như con.  Ðặc biệt trong số học trò Thầy rất thương anh Hà Kim Phước, lý do là vì anh Phước nhỏ nhứt trong đám tụi tôi, nhỏ tuổi mà cũng nhỏ con luôn.  Mãi đến bây giờ, anh em tụi tôi có dịp gặp lại nhau, có nhắc đến anh Phước đều gọi là “thằng Phước con Ông Hòa”.  Ðến năm Ðệ Tứ phải đi thi bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp, tụi tôi có học thêm tại nhà với Thầy, một căn nhà gạch trong một con đường nhỏ mang tên là Palanca (bây giờ đổi tên thành đường Nguyễn Trung Ngạn).  Xin mở một dấu ngoặc nhỏ để nói thêm một ít về con đường nhà Thầy Hòa.  Con đường nầy rất ngắn, chỉ dài chừng mười lăm, hai mươi mét từ ngoài đường Luro (sau đổi tên là Cường Ðể, bây giờ gọi là đường Tôn Ðức Thắng) vào.  Ở ngay tại ngả ba hai đường nầy có một quán rượu nhỏ của một anh lính Pháp không chịu hồi hương (vì hình như đã lấy một bà vợ người Việt, và bà nầy không chịu theo chồng về Pháp) với một bảng hiệu rất ngộ nghĩnh, không đề bằng chữ mà toàn bằng số như sau : 0 20 100 0 (đọc theo tiếng Pháp sẽ tạo ra một âm thanh tương đương với câu Au Vin Sans Eau = Rượu Không Pha Nước).  Xin đóng dấu ngoặc lại ở đây.  Nhờ học thêm Toán với Thầy, cuối năm đó đa số anh em chúng tôi đậu bằng Trung Học Ðệ Nhất Cấp rất dễ dàng.  Thầy Hòa về sau trở thành Dân Biểu Quốc Hội trong thời Ðệ Nhất Cộng Hòa, đại diện cho đơn vị Năm Căn của tỉnh An Xuyên (Cà Mau).  Vào khoảng cuối thập niên 1990, tôi nhận được thơ của một người bạn thân cùng lớp, anh Nguyễn Thanh Hải.  Trong thơ, anh Hải cho hay một tin buồn: Thầy Hòa, do lớn tuổi bị mất trí nhớ, đi lạc, không biết đường về nhà, Thầy phải lang thang xin ăn tại Chợ Cầu Muối một thời gian, may nhờ một học sinh củ nhận ra và đưa Thầy về nhà.  Ðọc thơ xong, tôi không cầm được nước mắt.  Lập tức, một mặt tôi liên lạc với anh Võ Duy Thưởng, Tổng thư Ký Hội Ái Hữu Petrus Ký Bắc California, nhờ Hội giúp đở, mặt khác tôi liên lạc với vài anh em Petrus Ký xưa có học với Thầy Hòa.  Anh Thưởng nhân danh Hội Ái Hữu Petrus Ký gởi sang 100 Mỹ kim, phần tôi và mấy anh em quen góp thêm 100 Mỹ kim nữa.  Tôi gởi về cho anh Hải và anh Hải đã cùng một số học trò củ đến thăm Thầy Hòa (vẩn tại căn nhà củ đường Palanca đó) và trao cho Cô số tiền nầy.  Sau đó anh Hải có gởi sang cho tôi bức ảnh chụp chung tại nhà với Thầy Cô, nhìn vào ảnh tôi buồn nhiều khi thấy rõ cái nhìn không hồn của Thầy.  Mấy năm sau thì tôi được tin Thầy đã mất. 

Thầy Vũ Ngọc Khôi

Hình Thầy Vũ Ngọc Khôi chụp năm 1953

          Thầy Vũ Ngọc Khôi dạy bọn tôi hai năm, Ðệ Lục và Ðệ Tứ, cả ba môn Lý, Hóa và Vạn Vật.  Trái hẳn với Thầy Lê Xuân Khoa, Thầy Khôi tướng tá rất vậm vỡ, trông như một võ sĩ.  Có thể nói bọn tôi mê Thầy Khoa bao nhiêu thì bọn tôi sợ Thầy Khôi bấy nhiêu.  Thầy dạy học rất nghiêm khắc, đứa nào lạng quạng, không thuộc bài, hay bị kêu lên bảng làm toán (vật lý) mà lôi thôi thì chết với Thầy.  Nhưng nhờ vậy mà bọn tôi học rất có kết quả, nhất là năm Ðệ Tứ, đi thi Trung Học Ðệ Nhất Cấp đậu gần hết.  Thầy Khôi cũng là một tấm gương sáng cho bọn tôi về đức tánh hiếu học.  Thầy chịu khó vừa đi làm, vừa học thêm, Thầy lấy được bằng Cử Nhân Luật Khoa.  Sau đó Thầy lại học tiếp, lấy xong Cao Học Luật Khoa và sau cùng Thầy đậu bằng Tiến Sĩ Luật Khoa của Ðại Học Saigon.  Trong thập niên 80, tôi được tin Thầy đã vượt biên thành công cùng với người con trai và định cư tại Hoa Kỳ trong vùng Washington, D.C.  Tôi có liên lạc thư từ với Thầy nhiều lần, nhưng chưa có dịp gặp lại Thầy trước khi Thầy qua đời vì bịnh tim.   

Thầy Nguyễn Văn Hài

             Thầy Hài, người Bắc, dạy bọn tôi môn Hội Họa trong năm Ðệ Tứ nầy.  Thầy Hài người rất cao, mang kính, và tác phong hoàn toàn khác với Thầy Trương Đình Ý của năm Ðệ Ngũ.  Thầy rất hiền lành, và rất gần gũi với học sinh, giờ học nào cũng vậy, Thầy đi vòng vòng khắp lớp học và chỉ cho từng học sinh cách nhắm, cách vẻ, cách đánh bóng.  Bọn tôi rất thương Thầy.  Trước Tết năm đó, tin Thầy Hài bị tử nạn trong một vụ cháy nhà (nhà Thầy làm pháo, chẳng may bị nổ và gây ra đám cháy) làm cả lớp Ðệ Tứ F bọn tôi vô cùng xúc động.  Nhà Trường đã tổ chức cho học sinh chúng tôi tham dự tang lể của Thầy.

Thầy Marcel

           Thầy Marcel dạy bọn tôi môn Âm Nhạc ở năm Ðệ Tứ nầy.  Thầy là người Pháp lai, nói tiếng Việt (giọng Bắc) rất giỏi.  Thầy bị tật ở chân nên đi khập khiểng.  Ðiều đặc biệt nhứt ở Thầy Marcel là cặp mắt của Thầy, một cặp mắt sâu, sắc, và rất có thần, bọn tôi ít đứa nào dám nhìn thẳng vào mắt Thầy.  Thầy lại rất nghiêm khắc.  Giờ học với Thầy Marcel luôn luôn diển ra tại Phòng Nhạc.  Bọn tôi sợ nhất là mổi khi Thầy ra bài “dictée musicale”, mổi lần như vậy thì Thầy ngồi vào chiếc đàn dương cầm, đánh lên một số nốt nhạc, và bọn tôi phải ghi ra trên giấy nộp lại cho Thầy để chấm điểm, tôi thường lãnh trứng vịt.  Cũng may là môn Âm Nhạc chỉ là một môn học “ăn chơi” mà thôi, không có thi lục-cá-nguyệt và điểm không được ghi vào thông-tín-bạ.  Một kỹ niệm vui mà bọn Tứ F chúng tôi nhớ hoài về giờ Nhạc với Thầy Marcel là cái lần Thầy bắt anh Ánh (cũng anh Ánh nổi tiếng liếng khỉ đó) lên hát một mình bản Quốc Ca cho cả lớp nghe, với lời hăm dọa trước là hát sai một nốt thì lãnh “cấm túc” liền, kết quả là anh Ánh vừa hát mà vứa mếu trông rất tức cười. Cũng may, khi anh Ánh mới hát được chừng gần nữa bài thì Thầy ra lệnh cho chấm dứt và cho anh Ánh về chổ.  Một kỹ niệm nữa là một hôm giờ Nhạc của Thầy Marcel trùng với giờ của trận bóng tròn quan trọng giữa Trường Petrus Ký và Trường Chu Văn An.  Hơn nữa lớp Ðệ Tứ F (trong đó có tôi luôn) bỏ giờ Nhạc, trốn ra sân để xem trận banh và ủng hộ đội nhà.  Ngày hôm sau vào Trường, bọn trốn học chúng tôi đều bị kêu lên gặp Thầy Tổng Giám Thị, lúc đó là Thầy Lê Ngọc Toản (về sau có thời gian làm Hiệu Trưởng Trường Trung Học Nguyễn Ðình Chiểu ở Mỹ Tho).  Thầy Toản kêu từng đứa vào, hỏi lý do tại sao hôm trước vắng mặt giờ Nhạc.  Thôi thì đủ thứ lý do được bọn tôi đưa ra, nào là bị chó cắn phải đi Viện Pasteur chích thuốc, nào là mẹ đau phải đi hốt thuốc Bắc cho mẹ, nào là phải ở nhà phụ mẹ và chị lo đám giổ bà ngoại, v.v.  Nhưng tất cả lý do đều bị Thầy Toản pha hết, và mổi đứa bọn tôi đều lãnh “nữa cấm túc”.  Chúa Nhật đó tất cả bọn tôi đều gặp nhau tại Phòng cấm túc trong hai giờ.

Các Bạn Thân Đệ Nhứt Cấp

          Sau 3 năm đầu học chung với nhau ở bậc trung học đệ nhứt cấp (1953-1956), khi lên Lớp Đệ Tứ F, niên khóa 1956-1957, tôi và 8 người bạn cùng lớp đã kết thành một Nhóm 9 Ngừoi Bạn Thân gồm các bạn có tên sau đây:

  • Nguyễn Thanh Hải
  • Nguyễn Trung Hiếu
  • Đinh Xuân Lãm
  • Võ Văn Minh
  • Trần Phục
  • Phan Văn Quang
  • Dương Xã Tắt
  • Huỳnh Hữu Thế (Thế Huỳnh)
  • Lâm Vĩnh-Thế (Thế Lâm)

          Ngày hôm nay, ở năm 2026 này, 6 bạn đã vĩnh viễn ra đi, đó là các bạn:

  • Nguyễn Thanh Hải
  • Đinh Xuân Lãm
  • Võ Văn Minh
  • Trần Phục
  • Dương Xã Tắt
  • Huỳnh Hữu Thế

          Xin tháp lên một nén hương để tưởng niệm các bạn đã mãn phần:

Bạn Nguyễn Thanh Hải

Hình Bạn Nguyễn Thh Hải hụp năm 1960

          Nguyễn Thanh Hải, sinh năm 1939, là người bạn thân nhứt của tôi trong suốt 7 năm (1953-1960) theo học tại Trường Petrus Ký   Mỗi ngày, Hải đạp xe đạp từ nhà Hải ởThị Nghè qua Đakao để cùng tôi đi học, và trong lớp thì Hải và tôi cũng ngồi chung bàn suốt 7 năm đó.

          Hè 1960, tôi thi đậu bằng Tú Tài 2 và đậu luôn vào ĐHSPSG, Hải thi rớt tất cả 2 kỳ thi của năm đó.  Năm sau, Hải ghi danh vào học lớp đêm dành cho tráng niên tai Trường Nữ Tiểu Học Đakao trên đường Phan Đình Phùng để chuẩn bị thi lại vào cuối năm.  Thỉnh thoảng, khoảng 8 giờ tối, Võ Văn Minh và tôi đạp xe đến trường để rủ Hải bỏ học đi uống cà phê với tụi tôi tại tiệm Hà Nội trên đường Bonard ở Sài Gòn.  Cuối năm học đó, Hải thi đậu bằng Tú Tài 2, và qua Hè 1962, Hải cùng với tôi làm đơn tình nguyện vào Không Quân.  Không biết ai báo tin, Mẹ tôi hay được, kêu tôi về, la rầy tôi, và khóc quá chừng.  Mẹ tôi vừa khóc vừa nói như sau: “Bao nhiêu người muốn được vào học ở đó, con đã đậu rôi, lại bỏ đi.  Ăn cơm dưới đất mà làm việc trên Trới!  Bộ con muốn Má lo cho tới chết hay sao?”  Nghe Mẹ nói những lời thống thiết như vậy, tôi đành phải bỏ cuộc, trở về trường học tiếp và tốt nghiêp ĐHSPSG vào tháng 4-1963.

          Khi tôi làm đám cưới với Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt của Võ Văn Minh, Hải là ngưới bạn thân nhứt của tôi lại không có mặt tại đám cưới vì lúc đó Hải đang học lái máy bay trực thăng tại Hoa Kỳ.

          Hè năm 1964, Hải, với cấp bậc Chuẩn Úy hiện dịch, mang đôi cánh bạc về nước và được điều về phục vụ tại Phi Đoàn 217 Trực Thăng, thuộc Không Đoàn 64 Chiến Thuật, Sư Đoàn 4 Không Quân, tại Cần Thơ.  Năm 1970, với cấp bậc Đại Úy, Hải đã chi huy các phi tuần trực thăng vũ trang tấn công sang Kampuchia.

          Câp bậc và chức vụ sau cùng của Hải vào ngày 30-4-1975 là Trung Tá, Phụ Tá Tư Lệnh Không Quân Đặc Trách Về An Phi tại căn cứ Tân Sơn Nhứt.

          Sau ngày 30-4-1975, Hải bị đi tù cải tạo ở Miền Bác khoảng 14 năm.  Mấy năm sau, Hải đưa được gia đình đi định cư tại Mỹ, thành phố Lansing, tiểu bang Michigan, theo chương trình HO.  Vợ chồng tôi đã mấy lần sang Lansing thăm vợ chồng Hải và chúng tôi đã có được tấm ảnh ăn cơm chung với nhau tại nhà Hải như sau:

Ăn cơm tại nhà Hải ở Lansing năm 2012

          Thật không ngờ đó lại là tấm ảnh cuối cùng Hải và tôi chụp chung với nhau.  Sau khi vợ chồng Hải dọn về Modesto, California để được gần con gái và các cháu ngoại, Hải và tôi không còn có dịp gặp nhau nữa cho đến khi Hải mãn phần vào ngày 22-9-2023.

Bạn Đinh Xuân Lãm

Hình Bạn Đinh Xuân Lãm chụp khoảng thập niên 1990

          Tôi và Lãm quen nhau từ năm 1953 khi thi đậu vào Trường Petrus Ký và cùng được xếp vào Lớp Đệ Thất B6 (niên khóa 1953-1954).  Được nửa năm, tên lớp được đổi thàng Đệ Thất F, và lối gọi tên lớp này đã được giữ mãi cho hết đệ nhứt cấp: Đệ Lục F (niên khóa 1954-1955), Đệ Ngũ F (niên khóa 1955-1956), và Đệ Tứ F (niên khóa 1956-1957).  Hè 1957, Lãm và tôi đều đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp.  Tưu trường niên khóa 1957-1958, hai chúng tôi cùng lên lớp đệ tam, nhưng không còn học chung lớp nữa, Lãm học Ban B (Toán) còn tôi thì học Ban A (Khoa Học Thực Nghiệm). 

          Hè 1960 Lãm và tôi cùng đậu bằng Tú Tài 2.  Sau đó, tôi thi đậu vào năm thứ nhứt của Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Sử Địa và Lãm thì tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạt, Khóa 17, tức Khóa Lê Lai, khai giảng ngày 11-11-1960, và bế giảng ngày 30-3-1963.  Ra trường, với cấp bậc Thiếu Úy hiện dịch, Lãm tình nguyện về phục vụ binh chủng Thủy Quân Lục Chiên (TQLC), và được điều về làm Đại Đội Phó (Đại Đội Trưởng lúc đó là Trung Úy Phạm Nhã), Đại Đội 1, Tiểu Đoàn 2 (về sau nổi danh là Tiểu Đoàn Trâu Điên).

          Trận đánh đầu tiên trong binh nghiệp của Lãm là Trận Đầm Dơi tại Cà Mau và đó là chiến thắng lớn nhứt trong năm 1963 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH).  Lãm được đi phép về Sài Gòn, và, nhờ vậy, Lãm đã làm rể phu cho tôi trong đám cưới của tôi.

          Sau đó, Lãm đã tham dự rất nhiều trận đánh lớn của TQLC.  Câp bậc và chức vụ cuối cùng vào ngày 30-4-1975 của Lãm là Thiếu Tá, Ti\ểu Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn 16, thuộc Lữ Đoàn 468 dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Ngô Văn Định.

          Sau ngày 30-4-1975, Lãm phải đi cải tạo tại Miền Bắc hơn 10 năm.  Năm 1990, Lãm được đi định cự tại San Jose, Nam California, Hoa Kỳ, theo diện HO (Humanitarian Operation = Chiến Dịch Nhân Đạo), dành cho các cựu sĩ quan của QLVNCH đã bị đi học tập hơn 3 năm.

          Hè 1992, nhơn dịp đám cưới con gái của Trần Phục, Lãm đã cùng với Phục và hai Thế chúng tôi có được tấm ảnh quý hiếm chụp trước nhà Phục như đã  trình bày bên trên

:         Sau đám cưới con gái của Phục, tôi đưa vợ chồng Lãm – Lệ và đứa con trai trở về San Jose, và hôm sau thì tôi bay về Toronto.  Lãm và tôi tiếp tục giữ liên lạc qua thư từ và điện thoại, và tôi vui mừng được biết gia đình Lãm đã từng bước ổn định cuộc sống tại Hoa Kỳ, và hai đứa con trai đều học hành có kết quả rất tốt, tốt nghiệp ra trường và đều có công ăn việc làm vững vàng.

          Mùa Thu năm 2007, sau khi tôi đã nghỉ hưu, vợ chồng tôi bay sang California để thăm bà con và bạn bè.  Trong dịp này, vợ chồng tôi đã dành thì giờ đi San Jose thăm hai vợ chồng Lãm – Lệ.  (chính trong đám cưới của vợ chồng tôi năm 1963, Lãm là rể phụ cho tôi và Lệ là dâu phụ cho vợ tôi; hai ngườ đã quen nhau từ đó, yêu nhau, và sau cùng đi đến hôn nhân và sinh được 2 đứa con trai), Chúng tôi đã có được tấm ảnh kỷ niệm hiếm quý cho cuộc gặp gỡ này:

Hình vợ chồng Lãm – Lệ và vợ chông tôi trước nhà Lãm, San Jose, Califotrnia, Hoa Kỳ  –  Hè 2007

          Thật không ngờ đó là lần cuối cùng tôi được gặp lại Lãm.  Ngày 21-6-2011, Lãm mất đột ngột ở tuổi 71.  Đám tang Lãm đã được Tổng Hội Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam tai Hoa Kỳ tổ chức rất trọng thể, có cả Lễ Phủ Quốc Kỳ:

          “Lý do rất là chính đáng: Thiếu Tá Đinh Xuân Lãm, Khóa 17 Võ Bị Đà Lạt, chức vụ cuối cùng là Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 16, thuộc Lữ Đoàn 468 TQLC, đã trọn đời chinh chiến, luôn sát cánh với đồng đội, và được sự thương yêu của cấp dưới cũng như được cấp trên đánh giá cao.” 

          Trước khi đột ngột qua đời, trong một lần lâm bệnh, Thiếu Tá Lãm đã được chính các cấp chỉ huy đến tận nhà thăm viếng như trong tấm ảnh bên dưới đây:

Hình chụp tại nhà Lãm: người đứng bên trái là Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, cựu Tư Lệnh TQLC; người bắt tay Lãm là Đại Tá Ngô Văn Định, cựu Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 468 TQLC

Các quân nhân TQLC VNCH chào kính trước khi làm lễ di quan tại đám tang của Lãm

Bạn Võ Văn Minh

Hình Bạn Võ Văn Minh cụp khoảng thập niên 1960

          Võ Văn Minh, sinh năm 1940, là một người trong nhóm 9 người bạn thân của tôi hồi học bậc đệ nhứt cấp tại Trường Petrus Ký.  Về sau, Minh còn thân tình với tôi nhiều hơn nữa vì tôi đã cưới Nhơn Nghĩa, em gái duy nhứt của Minh.

          Minh là một người tính tình hiền lành, vui vẻ, và có lòng với bạn bè.  Nhà Minh bao giờ cũng là nơi bọn tôi tụ họp lại để ôn bài thi lục cá nguyệt (bây giờ gọi là thi bán niên), dưới sự hướng dẫn làm các bài Toán của Huỳnh Hữu Thế vì Thế là một “câyToán” của lớp. 

          Sau khi thi rớt bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè năm 195, thay vì ở lại học thêm một năm để năm sau thi lại, có lẽ vì tự ái, Minh đã bỏ trường, ra học Lớp Đệ Tam C tại Trường Trung Học Tư Thục Cửu Long.  Hè năm sau, Minh thi rớt Tú Tái Ban C, và bỏ học luôn, ra đi làm.  Nhờ một ngươi anh chú bác ruột, anh Võ Thành Đức, lúc đó là Thiếu Tá, Trưởng Ban F22, Cảnh Sát Đặc Biệt, thuộcTổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia, Minh được nhận vào làm thư ký đánh máy lương bổng cho Ty Cảnh Sát Gia Định.

          Minh lập gia đinh với Chị Bùi Thị Kim Hoàng (trùng tên họ với vợ Huỳnh Hữu Thế) và sinh được 3 đứa con, 1 trai và 2 gài, đặt tên là Võ Hoàng Hải, Võ Thị Ngọc Hà, và Võ Thị Ngọc Hạnh.

          Cuối tháng 1-2018, nghe tin Minh đau nặng và đã nhập viện, vợ chồng tôi vội mua vé máy bay để bay về Việt Nam ngay, nhưng vẫn không kịp.  Minh đã mất vào buỏi tối ngày 3-2-2018, thọ 78 tuổi.  Vợ chồng tôi chỉ cúng được cho Minh 2 cái Thất tại Chùa Già Lam trong Gia Định.

Bạn Trần Phục

Hình Bạn Trần Phục chụp năm 1993

          Trần Phục, không rõ sinh năm nào, nhưng tôi nghĩ là có thể lớn hơn tôi độ 2-3 tuổi  Gia đình Phục tương đối khá giả, có một cơ sở khá lớn, buôn sỉ chén bát trong Quận 5, Chợ Lớn.  Phục tính tình hiền lành và rất tốt với bạn bè.

          Sau khi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp vào Hè năm 1957, Phục thi vào Trường Cán Sự Y Tế, hệ 3 năm.  Ra trường, Phục được bổ nhiệm làm Y Tá tại Tổng Y Viện Cộng Hòa và Phục đã làm việc tại đây cho đến ngày 30-4-1975.  Cũng chính tại đây, Phục đã gặp được người vợ tương lai của mình.

          Sau khi vượt biên thành công và được Mỹ nhận, gia đình Phục đã định cư tại Anaheim, Bắc California, và Phục đã sống tại thành phố này cho đến khi mãn phần vào ngày 21-12-2018.

Bạn Dương Xã Tắt

Hình Bạn Dương Xã Tắt chụp năm 1963

          Trong nhóm bạn thân 9 người của tôi, Dương Xã Tắt lớn tuổi nhứt, mà cũng to con nhứt, và có tiền nhiều nhứt vì ba Tắt là một đại điền chủ giàu có lớn tại Bến Lức, thuộc tỉnh Tân An (về sau đổi tên thành Long An).  Tánh Tắt rất có lòng với bạn bè, và cũng rất rộng rãi nên mỗi lần đi chơi chung cả nhóm với nhau, khi góp tiền, ai không có đủ thì Tắt đều ứng ra cho, hoàn toàn không nề hà gì cả.

          Sau khi thi đậu bằng Trung Học Đệ Nhứt cấp, cuối niên khóa 1956-1957, Tắt thi và đậu vào Trường Quốc Gia Sư Phạm, Hệ Cấp Tốc, chỉ học một năm thôi.  Sau khi tốt nghiệp, Tắt được bổ nhiệm làm giáo viên Trường Tiểu Học Bến Lức, thuộc tỉnh Long An.  Ngày 6-10-1963, tôi lập gia đình với Nhơn Nghĩa, và trở thành em rể của Võ Văn Minh.  Tắt đã từ Bến Lức lên Sài Gòn để dự tiệc cưới của vợ chồng tôi đêm hôm đó tại Nhà Hàng Đồng khánh trong Chợ Lớn:

Hình Tắt tại tiệc cưới của tôi: Tắt là người thứ ba từ trái qua (chỉ thấy profile)

          Mấy tháng sau, Tắt bị động viên vào Khóa 17, là Khóa Nguyễn Thái Học (từ 13/1/1964 đến 22/10/1964), khóa cuối cùng của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức (vào lúc giữa Khóa 17 này, ngày 1/7/1964, Trường được đổi tên thành Trường Bộ Binh Thủ Đức).

          Tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức với cấp bậc Chuẩn Úy, nhờ sự vận động của gia đình, Tắt được bổ nhiệm về một đơn vị Địa Phương Quân ngay tại Bến Lức.  Bạn bè chúng tôi ai cũng mừng cho Tắt, coi như là Tắt đã được “mang chữ Thọ” rồi.   Thật không ngờ, trong một cuộc đụng độ nhỏ với Việt Cộng, Tắt bị thương và tử trận vì không được tải thương kịp.  Lúc đó vợ Tắt đang mang thai được 6 tháng đứa con đầu lòng của vợ chồng Tắt.  Ngày đưa tang Tắt, tôi đã không đến tiễn bạn được vì đang bận coi thi Tú Tài I tại Cần Thơ.  Chỉ có Võ Văn Minh đại diện các bạn Lớp Đệ Tứ F đến tiễn đưa Tắt mà thôi. 

Bạn Huỳnh Hữu Thế

Hình Bạn Huỳnh Hữu Thế chụp năm 1993

            Trong nhóm bạn thân 9 người của tôi, Huỳnh Hữu Thế là người giỏi môn Toán nhứt   Mỗi khi cần ôn bài để chuẩn bị thi lục cá nguyệt (bây giờ gọi là học kỳ) hay thi bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp, thì bọn tôi đều tụ tập tại nhà Võ Văn Minh và Thế đứng ra hướng dẫn anh em ôn tập Toán.

          Hè 1957, sau khi dậu bằng Trung Học Đệ Nhứt Cấp như cả nhóm, Thế đã tao ra một kỳ tích cho Trường Petrus Ký là Thế đã đi thi và đậu luôn cả bằng Tú Tài 1, Ban B (ban Toán), tức là Thễ đã nhảy lớp, mà nhảy cả 2 lớp, từ Đệ Tứ lên thẳng Đệ Nhị.

          Vì vậy, khi tưu trường niên khóa 1957-1958, trong khi bọn tôi lên lớp đệ tam, thì Thế đã học lớp đệ nhứt rồi, nhưng Thế phải chuyển qua học Trường Chu Văn An vì Trường Petrus Ký lúc đó vẫn còn áp dụng chính sách cấm học sinh nhảy lớp.

          Hè 1959, Thế đậu bằng Tú Tài 2, cũng Ban Toán, và sau đó cũng đậu luôn vào năm thứ nhứt của Trường Đai Học Sư Phạm Sài Gòn (ĐHSPSG), Ban Toán.  Vì vậy, đầu năm học 1959-1960, trong khi bọn tôi lên lớp đệ nhứt, chuẩn bị để đi thi bằng Tú Tài 2 vào cuối năm, thì Thế đã là một sinh viên của ĐHSPSG rồi.

          Nhưng cũng bắt đầu từ năm này, Thế đã phải dương đầu với rất nhiều khó khăn.  Thứ nhứt, Thế bị bệnh đau đầu rất nặng, hậu quả của việc dùng quá nhiều thuốc chống ngủ trong lúc hoc nhảy lớp đó. Thứ hai, vợ Thế dan díu với một nhân viên của Tòa Đai Sứ Thụy Sĩ, nơi vợ Thế làm thư ký, và đã bỏ Thế, và mang 2 đứa con gái nhỏ đi theo người nhân viên đó về Thụy Sĩ luôn.  Kết quả là Thế bị rơi vào một cuộc khủng hoảng tinh thần rất trầm trọng.  Chương trình học của ĐHPSG là 3 năm nhưng Thế phải học đến 6 năm vì năm nào cũng bị rớt và phải ở lại lớp.  Khi tốt nghiệp ĐHSPSG vào năm 1965, Thế đã đậu Thủ Khoa và được Bộ Giáo Dục bổ nhiệm về Trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức (KMTĐ).  Nhưng chỉ dạy được một niên khóa (1965-1966) thì Thế bỏ trường, tình nguyện vào Trường Sĩ Quan Thủ Đức.  Nhưng nhờ vậy, qua 6 tuần lễ huấn nhục, ngày giờ đâu mà suy nghĩ về chuyện buồn của gia đình, Thế đã vượt qua được khủng hoảng tinh thần đó.

          Sau khi ra trường, Thế được bổ về Trường Thiếu Sinh Quân tại Vũng Tàu.  Thế dạy học ở đó được 1 năm thì được Bộ Quốc Phòng thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt.  Tại đây Thế đã may mắn gặp được chị Bùi Thị Kim Hoàng, lúc đó đang là luật sư tập sự, hai người yêu nhau và đi đến hôn nhân, sinh được 1 đứa con trai đặt tên là Phong.  Phong giống cha nên cũng học rất giỏi, vế sau đậu PhD về Toán và đi sang Phi Châu giúp các nước nghèo.

          Sau ngày 30-4-1975, Thế phải đi cải tạo mấy năm.  Khi Thế được thả về, Chị Hoàng đã tổ chức cho hai cha con Thế đi vượt biên ngay, và, rất may mắn, ngay trong chuuyến đi đầu tiên, hai cha con Thế đã đi thoát, được Mỹ nhận cho vào định cư tại thành phố Newport, thuộc tiểu bang Connecticut.  Được tin vui này, tôi và bà xã cùng với đứa con trai nhỏ là Trung đã sang thăm hai cha con Thế ngay và chúng tôi đã có được tấm hình chụp chung sau đây tại khuôn viên của Trường Đai Học MIT (Massachusetts Institute of Technology) tại thành phố Boston:

Tử trái qua: một người bạn của Thế, Trung, con nhỏ của vợ chống tôi, bà xã tôi và tôi, Phong, con trai của Thế, và Thế.

          Sau đó, chính Chị Hoàng, không chờ Thế bảo lãnh, cũng đã đi vượt biên và, rất may mắn, Chị cũng đã thành công, được Mỹ nhận và đoàn tụ được với hai cha con Thế.

          Năm 1992, Trần Phục gởi thiệp mời dự đám cưới của đứa con gái lớn, tôi điện thoại cho Thế và được biết Thế cũng đã nhận được thiệp mời rồi.  Hai Thế chúng tôi cùng quyết định bay xuống Anaheim, Nam California, nơi vơ chồng Phục đang sống, để dự đám cưới.  Cùng lúc tôi cũng được tin Đinh Xuân Lãm đã qua đến Mỹ theo diện HO, và đã định cư tại San Jose, Bắc California.  HO là chữ viết tắt cho Humanitarian Operation, chương trình của Chính phủ Mỹ nhằm đưa người sang định cư tại Mỹ dành riêng cho các cưu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã bị cải tạo trên 3 năm.

          Tôi mua vé máy bay và bay xuống San Jose.  Tại đây tôi mướn một chiếc xe hơi nhỏ, đến nhà Lãm, và chở vợ chồng Lãm với đứa con nhỏ là Tùng đi xuống Anaheim.  Chuyến đi mất gần 6 giờ, và suốt đoạn đường đi dài khoảng 600 km đó, tôi và Lãm nói chuyên liên tục vì có biết bao nhiêu chuyện để kể cho nhau nghe sau khi bị chia cách nhau mười mấy năm trời.  Đến nhà Phục thì đã gần 2 giờ sáng, Thế đã có mặt tại đó rồi.  Bốn người bọn tôi, bên mâm trà do vợ Phục dọn ra, nói chuyện đến gần sáng, vợ Phục phải giục chúng tôi ngưng câu chuyện, đi ngủ vài giờ trước khi bên nhà trai đến rước dâu vào lúc 11 giờ. 

          Sau khi ăn sáng xong và trước khi bên nhà trai đến rước dâu, bọn tôi đã ra trước nhà Phục chụp một tấm ảnh kỷ niệm như sau:

Từ trái qua: Thế Lâm, Phục, Thế Huỳnh, và Lãm chụp trước nhà Phục – Hè 1992

Hè năm sau, hai vợ chồng Thế với hai vợ chồng Phục cùng đi du lịch sang Canada, và đã đến thăm hai vợ chồng tôi và chúng tôi đã có được tấm ảnh chụp chung với nhau như sau:

Phục và vợ chồng Thế Huỳnh và vợ chồng tôi tại Mississauga – Hè 1993, hình do vợ Phục chụp

          Mấy năm sau đó, chúng tôi vẫn giữ liên lạc, khi thì điện thoại, khi thì điện thư.  Thế mất ngày 20-10-2006 vì bị đột quỵ khi chạy bộ buổi sáng trên bãi biển ở gần nhà.  Vợ Thế quá đau buồn nên không thông báo cho bạn bè ai cả.  Một hôm Phục gọi phone qua thăm mới biết Thế đã mất và báo tin cho tôi.

Những Bạn Còn Tại Thế

          Ngày hôm nay, ở năm 2026 này, Nhóm 9 Người Bạn Thân của tôi chỉ còn lại có 3 người thôi: 1) Nguyễn Trung Hiêu; 2) Phan Văn Quang, và 3) Lâm vĩnh-Thế, tác giả của bài viết này.

Bạn Nguyễn Trung Hiếu

Hình Bạn Nguyễn Trung Hiếu chụp năm 1993

          Tôi không rõ Hiếu sinh năm nào nhưng chắc là lớn hơn tôi độ 2-3 tuổi.  Hiếu ra đời rất sớm.  Lúc bọn tôi còn đang học mấy năm đầu của bậc Đệ Nhứt Câp thì Hiếu đã đi lam rồi.  Hiếu bán vé tạiTrường Đua Ngựa Phú Tho vào các ngày cuối tuần, và vì vây đã được các bạn đât cho cái biệt danh rất dễ thương là “Hiếu ngựa đạp.”.  Hiếu cũng lập gia đình rất sớm nhưng không được may mắn.  Hiếu bị vợ bỏ và hiện đang sống với đứa con gái tại thành phố San Diego, tiểu bang California, Hoa Kỳ.

Bạn Phan Văn Quang

Hình Bạn Phan Văn Quang chụp năm 1993

            Tôi không rõ bạn Phan Văn Quang sinh năm nào nhưng chắc có thể lớn hơn tôi độ vài tuổi.  Môt hôm, trong giờ hoc Pháp Văn với Thầy Phạm Văn Sửu, Thầy dạy bài thơ ngụ ngôn Le Renard et le Bouc của Văn hào Phap Jean de La Fontaine (1621-1695) rất sống động, bằng cách dàn dựng thành một vở kịch ngắn và rất vui ngay trong lớp và bạn Quang được Thày Sửu giao cho đóng vai Le Bouc.  Và, vì vật, từ đo về sau, cho đến tận ngày hôm nay, bọn tôi đều gọi bạn Quang là là Quang Bouc.  Sau khi cùng đậu bằng Tú Tài 2 với tôi năm 1960, Quang có học Đai Học Khoa Học Sài Gòn một thời gian, nhưng sau đó, Quang đã bỏ học, tình nguyện vào Trường Võ Bị Đà Lạ, Khóa 19, tức là Khóa Nguyễn Trãi, khai giảng ngày 23-11-1962 và mãn khoá ngày 28-11-1964.

          Ra trường, Quang được điều về Trung Đòan Bộ Binh 52 Biệt Lập tại Phước Tuy và bị thương rất nặng, tưởng đã không qua khỏi; chính bạn Huỳnh Hữu Thế lúc đó đang là sĩ quan cán bộ của Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu đã nhân được lệnh chuản bị đi gát xác cho Quang rồi.  Như một phép lạ, Quang đã qua khỏi được và bình phục nhưng sau đó bị xếp vào loại 2, tức là không tác chiến, và được điều về phục vụ tại Biệt Khu Thủ Đô cho đến ngày 30-4-1975.

          Sau khi đi cải tạo về, Quang được đi Mỹ theo diện HO và đã định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington.

Lâm Vĩnh-Thế (Tác giả của bài viết này)

Hình Lâm Vĩnh-Thế chụp năm 2010

          Lâm Vĩnh-Thế sinh năm 1941 tại Xã Bình Hòa, tỉnh Gia Định, tốt nghiệp Trường Đại Học Sư Phạm Sài Gòn năm 1963, và tốt nghiệp Cao Học về Thư Viện Học tại Trường Thư Viện Học, Viện Đại Học Syracuse, tại thành phố Syracuse, tiểu bang New York, Hoa Kỳ nắm 1973, hiện sống tại thành phố Hamilton, tỉnh bang Ontario, Canada.

Thay Lời Kết:

          Lớp Đệ Tứ F, niên khóa 1956-1957 của Trường Trung Học Petrus Ký đã kết thúc lâu rồi, lâu lắm rồi, chính xác là đã 69 năm rồi (1957-2026).  Tuy nhiên, đối với tôi, nó như là mới ngày hôm qua vì tất cả những kỷ niệm thân thương với các Thầy Cô và các bạn cùng lớp vẫn còn nóng hổi. Tât cả đã, đang, và sẽ là những hành trang không thể thiếu được trong hành trình những năm còn lại này của cuộc đời tội.

GHI CHÚ:

1. Đế hệ thi, tài liệu trực tuyến, có thể đọc toàn văn tại địa chỉ Internet sau đây: Đế hệ thi – Wikipedia tiếng Việt