Nhung ky niem cua toi ve truong – GS Trang Ngoc Nhon

Tôi sinh ra tại một thị trấn nhỏ tên là Châu Ổ, thuộc huyện Bình Sơn, giáp giới với Quảng Nam. Đây là một huyện nghèo của tỉnh Quảng Ngãi ở miền Trung Việt Nam. Đất đai nơi đây eo hẹp, khô cằn hoặc toàn cát, hoa màu chủ yếu là khoai lang, khoai mì. Khoảng cách từ dãy Trường Sơn phía tây đến bờ biển phía đông chỉ vài chục cây số; có những nơi như ở Sa Huỳnh, núi lấn ra tận biển. Đây từng là vị trí lý tưởng để Việt Cộng phục kích Quốc lộ 1 trong thời kỳ chiến tranhVN.

Ba má tôi có một cửa hàng tạp hóa nhỏ và một tiệm thuốc bắc, nhưng phải đóng cửa tản cư khi cuộc chiến Việt – Pháp xảy ra năm 1946. Trong suốt giai đoạn 1945–1954, Quảng Ngãi là vùng Việt Minh thuộc quân khu 5 Nam Ngãi Bình Phú. Đời sống lúc bấy giờ vô cùng khó khăn, người dân thường phải ăn cơm độn khoai lang, khoai mì nhiều hơn cơm, đến mức người ta hay nói đùa là “củ khoai cõng hột cơm”. Ba tôi làm vườn, làm ruộng, còn má tôi rất năng động trong việc buôn bán. Cùng với một ít bạn bè, bà con, má tôi mở một xưởng dệt lụa nhưng chẳng bao lâu phải đóng cửa vì sự cạnh tranh của xí nghiệp nhà nước. Bà lại mở tiếp một xưởng nhuộm vải và một tiệm may. Tuy nhiên, chỉ được vài năm, quân Pháp đổ bộ lên quận Bình Sơn và đập phá tất cả dụng cụ. Cuối năm 1952, chiến tranh càng ác liệt, máy bay Pháp bắn phá khủng bố hàng ngày nên má tôi phải cho mấy người thợ nghỉ việc và dọn tiệm may về vùng quê hẻo lánh và tự mình đảm trách mọi việc. Thế là ngoài việc đi học, gánh nước phụ với ba tôi làm nông, buổi tối hoặc ngày nghĩ học tôi có thêm công việc đơm khuy nút, hoặc may loại đồ dễ làm như quần đùi, áo bà ba phụ với má tôi.

Má tôi là một người rất cương quyết, dù cực khổ thế nào cũng bắt buộc các con đi học. Chị tôi học rất giỏi, luôn đứng nhất hầu hết các môn học. Vì hoàn cảnh xã hội lúc đó, chị phải lập gia đình sớm, điều này làm má tôi rất buồn và thường xuyên nói với tôi: “Mày phải đậu cử nhân”. Mẹ tôi chẳng biết cử nhân là gì, chỉ vì bà có người anh ruột đậu cử nhân hóa bên Pháp năm 1940 nên bà bắt buộc tôi phải theo. Mẹ tôi phải dậy từ 3 giờ sáng nấu cơm để tôi mang đi học lúc 5 giờ, dù bà phải thức may quần áo đến 9 giờ tối cũng không bao giờ than phiền.

Năm 1953, lúc tôi bắt đầu học lớp 7, niên khóa 1963-1954, Việt Minh bắt đầu chiến dịch cải cách ruộng đất. Tất cả học sinh đều phải học về “phóng tay phát động quần chúng, đấu tố địa chủ, phú, hào”. Học sinh là con nhà địa chủ, phú nông, các chức sắc trong làng thời Pháp thuộc đều được dạy là phải tố cáo cha mẹ nói những điều phản động chống chính phủ hoặc giấu của cải. Câu nói đầu môi chót lưỡi của các thầy dạy chính trị là: “Con cháu địa chủ như sen trong bùn. Muốn trở thành cá nhân xuất sắc, cháu ngoan Bác Hồ, được tiếp tục học thì phải tố cáo cha mẹ với chính quyền”. Một số học sinh khi bồng bột đã đứng ra tố cáo cha mẹ áp bức, bóc lột mình hoặc nói những lời phản động chống phá nhà nước. Dù chỉ mới 13 tuổi nhưng tôi suy nghĩ, cha mẹ tôi đã nuôi dưỡng và thương yêu chị em tôi chắc chắn là nhiều hơn mấy thầy dạy chính trị hay các đồng chí công an, ủy ban nhân dân xã. Nếu tôi tố cáo để cha mẹ tôi bị giết hay ở tù thì ai nuôi tôi? Thế là trong các buổi họp, tôi luôn nói là cha mẹ tôi tuyệt đối tuân hành chính sách nhà nước và tôi bị phê bình là tiêu cực. Rất may lúc đó ở quê tôi mới học tập nhưng chưa thực hiện chính sách cải cách ruộng đất và đến tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève ký kết, Việt Minh rút đi tập kết ra Bắc, Quảng Ngãi trở thành vùng Quốc gia. Hú vía cho các gia đình địa chủ, phú, hào, nếu không có hiệp định Genève thì không bị giết cũng đi tù, tán gia bại sản.

Cuối năm 1954, ba má tôi dọn về nhà cũ ở thị trấn Châu Ổ để tiếp tục buôn bán. Vì lúc đó trường Việt Minh đã đóng cửa, trường Quốc gia chưa có nên tôi nghỉ học một năm. Trường Trung học Trần Quốc Tuấn ở thị xã Quảng Ngãi cách Châu Ổ 20 cây số bắt đầu mở cửa niên khóa 1955–1956 từ lớp Đệ Thất đến Đệ Tứ. Tôi ghi danh vào lớp Đệ Ngũ mặc dù tôi đủ điều kiện vào lớp Đệ Tứ vì tôi nghĩ rằng rất khó đậu bằng Trung học vì tôi không biết một chữ Pháp văn hay Anh văn nào. Sự thật đã xảy ra như vậy, một số bạn rất giỏi cùng lớp với tôi ghi danh vào Đệ Tứ và hầu hết đều hỏng kỳ thi Trung học 1956 vì môn sinh ngữ.

Khi tôi bắt đầu học lớp Đệ Ngũ, thầy Trần Tiến Toàn dạy Anh Văn bắt tất cả học sinh phải viết vào trang đầu của quyển vở mấy câu như sau:

 -Học tập phải có chương trình, thời khóa biểu.

 -Chuyên cần làm ngay, ôn bằng trí.

Thầy thêm một câu tiếng Anh: “Never put off till tomorrow what you can do today”

Từ ngày đó, mỗi khi học hay làm việc gì, tôi luôn luôn lập chương trình chi tiết, vì thế tôi không lúng túng và có thể thành công trong việc thi cử cũng như công việc sau này. 

Nhờ có căn bản về các môn khoa học như Toán, Lý, Hóa nên tôi học rất dễ dàng, giành hầu hết các giải của trường và tốt nghiệp Trung học 1957.

Ở thời điểm này, tôi gặp phải một sự lựa chọn quan trọng. Lúc đó chính phủ Quốc gia rất cần giáo viên tiểu học. Chỉ cần có bằng Trung học và học một năm sư phạm là thành giáo viên tiểu học với lương 4.700 đồng/tháng; nếu được làm Hiệu trưởng thì thêm 300 đồng nữa, trong khi một lượng vàng chưa tới 2.500 đồng. Với một tỉnh nghèo như Quảng Ngãi thì đồng lương này quá lớn so với công chức quận rất oai cũng chỉ có 800 đồng/tháng. Bà con họ hàng ai cũng khuyên ba má tôi cho tôi đi học sư phạm, đi dạy học và sau đó cưới cho tôi một cô vợ rồi mở một tiệm tạp hóa cho yên bề gia thất là cha mẹ tôi không phải lo gì nữa. Nhưng má tôi cương quyết muốn tôi phải có bằng cử nhân và gửi tôi đi Sài Gòn ở với ông cậu học tiếp trong khi hầu hết bạn bè tôi đều đi học ở Huế gần hơn.

Ba tôi đưa tôi vào Sài Gòn tháng 6 năm 1957. Lúc đó các trường công còn đang nghỉ hè nên tôi đi học thêm ở trường Hàn Thuyên trên đường Cao Thắng, trước cửa rạp cine Đại Đồng. Một người hàng xóm của cậu tôi chở tôi đến trường Petrus Ký để nộp đơn xin thi vào Đệ Tam. Lúc đó các trường lớn như Petrus Ký, Chu Văn An, Gia Long, Trưng Vương có kỳ thi cho các học sinh trường khác có bằng Trung học Đệ Nhất Cấp vào Đệ Tam vì thiếu học sinh. Kỳ thi tuyển này tương đối khó vì số ứng viên nhiều mà số chỗ thì ít. May mắn tôi đậu khá cao nên được tuyển vào lớp Đệ Tam B2.

Học sinh Petrus Ký phải nói là học rất giỏi và rất có kỷ luật. Riêng về Pháp văn hay Anh Văn, nếu là sinh ngữ 1 thì học sinh lớp Đệ Tam có thể nói và viết lưu loát, trong khi đó tôi chỉ biết chút đỉnh ngoại ngữ nên trong những tháng đầu năm học, tôi luôn luôn đứng sinh ngữ tệ nhất lớp và kết quả học kỳ 1 đứng gần chót. Đây là một cú đấm rất nặng vì mới năm rồi tôi là học sinh giỏi nhất của trường Trần Quốc Tuấn mà năm nay xếp hạng gần chót. Thế là buổi tối tôi phải xin thêm tiền ba má để học Pháp Văn. Tôi rất đắn đo về việc này vì biết ba má không có tiền, lo cho tôi đi học ở Sài Gòn là đã mang nợ rồi. Nhưng mẹ tôi bảo đừng lo gì cả cứ việc học, bà lo được. Sau này tôi mới biết ba má tôi phải đi vay nợ thêm.

Trường Petrus Ký chỉ có nam sinh và đa số học sinh là người Nam, có một ít người Bắc và rất ít người Trung, nhất là người Quảng Ngãi như tôi. Cái giọng đặc sệt Quảng Ngãi làm tôi mất vui mỗi khi đi học. Trong lớp, tôi có vài học sinh luôn luôn trêu ghẹo tôi về giọng Quảng.

 Trước khi vào lớp, học sinh phải sắp hàng theo từng lớp dọc theo hàng cây chỗ nhà để xe rồi tuần tự đi vào. Tôi khổ nhất là gần như bữa nào khi xếp hàng cũng có một giọng nói nổi lên: “Eng hổng eng tét cái đèn đi ngủ”. Thế là cả lớp cười nghiêng ngả trên sự bối rối của tôi. Tôi cố bắt chước giọng Nam để dễ hòa nhập, nhưng đôi khi quá lố lại làm trò cười cho cả lớp. Thí dụ, có một lần tôi gọi “cái đèn” là “cái đần”, thế là một đứa hét lên: “Thằng N nó nói cái đần nè tụi bây”, thế là cả lớp bò ra cười. Tuy nhiên, một thời gian sau mọi việc đều ổn. Những thằng phá tôi nhất lại trở thành bạn khá thân. Việc học của tôi cũng tiến triển tốt, từ chỗ đứng gần chót đầu năm Đệ Tam, tôi đã tiến lên thành một học sinh giỏi và được thầy Bùi Trọng Chương cử làm đại diện lớp Đệ Nhị của trường dự thi Trung học toàn quốc môn Việt Văn.

Thời gian trôi qua nhanh. Lúc tôi vào trường, Hiệu trưởng là thầy Nguyễn Văn Thơ (1957–1958) và lúc tôi ra trường, Hiệu trưởng là thầy Nguyễn Văn Trương (1958–1960). Một số thầy dạy tôi vào lúc ấy sau này khi tôi trở lại dạy ở Petrus Ký năm 1964 đã trở thành đồng nghiệp của tôi như thầy Bùi Trọng Chương, Vũ Ký, Phạm Mạnh Cương, Nguyễn Văn Cao, Trần Văn Văn… Trong kỳ thi Tú Tài 2 năm 1960, lớp tôi đậu tỷ lệ 90%, hầu như cao nhất toàn quốc. Tôi đậu hạng bình thứ, có đủ điều kiện để xin học bổng đi du học nhưng tôi không biết gì cả. Trong khi các bạn đang bận rộn làm đơn đi du học thì tôi về Quảng Ngãi nghỉ hè gần 3 tháng. Lúc tôi lại vào Sài Gòn thì các bạn tôi đã có giấy tờ chấp thuận đi du học ở Pháp, Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, học bổng Colombo… còn tôi thì lại nộp đơn vào Đại Học Khoa Học để hoàn thành giấc mơ Cử nhân của má tôi.

Năm tôi học Đệ Nhất B (lớp 12 ban toán), thầy Trần Văn Bình dạy toán rất hấp dẫn làm đa số học sinh đều muốn học môn toán khi lên đại học và đây là điều tai hại cho một số khá đông học sinh vì môn toán ở Đại Học Khoa Học lúc đó dạy bằng tiếng Pháp, do các giáo sư Pháp phụ trách trong đó có giáo sư Monavon rất khó tính nên sinh viên bị đánh hỏng rất nhiều, thí dụ trong số 500 sinh viên ghi danh đầu năm chỉ có 19,20 người đậu còn lại thì đi học ngành khác hoặc đi lính. Tôi cũng bị hỏng năm đầu tiên vì tiếng Pháp yếu nên không hiểu bài, may mắn năm sau đậu nếu không thì cũng nhập ngũ rồi. Năm 1963 là năm các trường đại học đầy sóng gió vì vụ Phật Giáo ở Huế. Đang học trong lớp bỗng dưng năm bảy sinh viên bên ngoài nhào vào, giật micro từ giáo sư rồi hô hào bãi khóa đi biểu tình. Kế tiếp là cảnh sát dã chiến vây chung quanh trường và ban Giám Đốc trường phải điều đình để các sinh viên có thể ra về. Sự hỗn loạn kéo dài mãi đến khi chính phủ Ngô Đình Diệm ra lệnh giới nghiêm. Sau đó vụ đảo chính 1/11/1963 của tướng Dương văn Minh và các tướng lãnh rồi chỉnh lý của các tướng Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm, tình hình chính trị bất ổn liên miên nhưng nhà trường cũng cố gắng giúp sinh viên hoàn tất năm học.

Hè năm 1964 tôi lấy được 3 chứng chỉ về toán và chỉ cần một chứng chỉ Vật Lý Đại Cương nữa là tôi có bằng Cử nhân giáo khoa toán học. Cũng như mọi năm tôi lại về Quảng Ngãi nghỉ hè trong khi các bạn đi xin dạy giờ ở các trường trung học. Khi vào lại Sài Gòn thì đã hết hạn xin dạy giờ rồi. Một anh bạn của tôi nhận được sự vụ lệnh cử đi dạy ở trường Nguyễn Huệ ở Tuy Hòa nhưng anh không muốn đi và bảo nếu tôi muốn đi thì theo anh lên nha Trung Học anh sẽ nói với thầy Trần Hữu Thái nguyên là Tổng Thư Ký trường Đại Học Khoa Học nay lên làm trưởng phòng phụ trách tuyển dụng giáo sư sẽ chuyển qua cho tôi. Tôi bảo với anh rằng tôi đang học năm chót làm sao ra Tuy Hòa dạy được thì anh nhờ tôi chở anh lên nha Trung Học để trả lại sự vụ lệnh. Khi gặp thầy Thái, thầy rất vui vẻ và hỏi tôi có muốn đi dạy không? Tôi thưa với thầy tôi rất muốn đi dạy nhưng vì đang học năm cuối nên nếu có trường gần Saigon thì tôi mới vừa học vừa dạy được. Thầy bảo hiện nay không có chỗ trống nhưng cứ viết tên họ, bằng cấp, địa chỉ vào một miếng giấy đưa cho thầy khi nào có chỗ thầy sẽ cho biết. Tôi làm theo ý thầy nhưng không hy vọng gì.

Khoảng nửa tháng sau, khi tôi đi học về thì người cô đưa cho một lá thư của nha Trung Học, bên trong là sự vụ lệnh bảo tôi phải trình diện ngay trường Petrus Ký để đi dạy. Mừng vì được dạy lại trường cũ lại là trường nổi tiếng, lo vì không biết mình có làm tốt trong việc dạy hay không. Sáng hôm sau tôi vào gặp thầy Giám Học Nguyễn Thành Long. Thầy Long cho biết thầy Trang Sĩ Tấn đang dạy lý hóa lớp Đệ Tam được cử đi làm thẩm phán ở Bà Rịa nên cần giáo sư thay thế. Thầy hỏi tôi có dạy được không? Tôi bảo được vì tôi đang học Vật Lý Đại Cương để hoàn tất bằng Cử nhân giáo khoa toán học. Thầy Long đưa tôi qua gặp thầy Hiệu Trưởng Trần Ngọc Thái và thầy Thái rất vui khi biết tôi là cựu học sinh Petrus Ký. Thầy Long đưa thời khóa biểu cho tôi và bảo bắt đầu dạy vào ngày mai. Sự may mắn của tôi cũng làm cho một số người nghi ngờ không biết tôi có phải là COCC hay chạy chọt không, nhất là tôi cùng họ với thầy Trang Sĩ Tấn sau này trở thành Giám Đốc Cảnh Sát Đô Thành. Sự thật tôi không có họ hàng bà con gì với thầy Trang Sĩ Tấn thậm chí cho tới bây giờ tôi cũng chưa hề gặp.

Tuy tôi đã từng dạy tình nguyện không lương ở một vài Trung Tâm miễn phí cho học sinh nghèo, nhưng tôi vẫn hồi hộp khi dạy những giờ đầu tiên ở trường Petrus Ký. Nhìn những em học sinh Đệ Tam ngoan ngoãn chăm chú nghe từng lời, ghi chép từng câu của mình tôi cảm thấy rất xao xuyến trong lòng. Các em rất lễ phép. Tuy tôi không lớn hơn các em bao nhiêu tuổi nhưng các em vẫn xưng con với tôi. Có hôm, sau khi học xong bên Khoa Học tôi chạy vội qua Petrus Ký để dạy mà quên thắt cà vạt. Gặp thầy Tổng Giám Thị Tăng Văn Chương, thầy kêu lại: “Ê! trò kia tại sao trò dám đi vào cổng dành cho giáo sư”. Tôi vội vàng lại gần thầy và nói nhỏ: “Thưa thầy Chương, tôi là giáo sư mới của trường” Thầy vội vàng xin lỗi và nói với tôi “Lần tới thầy vui lòng đeo cái cà vạt chứ thầy trẻ quá tôi tưởng là học trò”. Sau này thầy Chương và tôi nói chuyện rất tương đắc vì tôi rất thích nghe thành tích câu cá của thầy.

Hè 1965 sau gần một năm trong nghề tôi cảm thấy vững tin hơn trong việc dạy học. Tôi cũng đậu xong chứng chỉ Vật Lý Đại Cương và thầy Hà Đức Tài, văn phòng trưởng của ông Hiệu Trưởng bảo tôi khi nào có bằng Cử Nhân thì đưa ngay cho ông để chuyển ngạch sang giáo sư thực thụ. Do đó khi trường khai giảng niên khóa mới tôi đã là giáo sư khế ước chỉ số 470 của trường và được cấp giấy chứng nhận hoãn dịch vì lý do công vụ. Nhờ giấy hoãn dịch này mà sau đó khi bị kêu nhập ngũ khóa 25 sinh viên trừ bị Thủ Đức tôi được ở lại dạy trong khi các bạn dạy giờ như tôi vì giấy tờ chậm trễ họ phải đi Thủ Đức.

Thi đậu và được học ở trường Petrus Ký đã là niềm hãnh diện cho cả học sinh và phụ huynh. Do đó được học và dạy ở trường này làm cho tôi rất sung sướng. Mỗi buổi sáng sau khi chuông rung, tất cả học sinh đều phải xếp hàng nghiêm chỉnh trước lớp của mình đợi giáo sư đến cho phép mới đi từng hàng thứ tự vào lớp và đợi giáo sư cho phép mới được ngồi. Mỗi khi tôi dở sổ điểm để kêu một học sinh lên bảng dò bài, cả lớp im phăng phắc, con muỗi bay cũng nghe và một khi một em bị kêu lên bảng thì có rất nhiều tiếng thở dài nhẹ nhõm. Có lẽ tất cả mọi người trong đời học sinh đều có cảm giác này, nhất là gặp các giáo sư khó tính hoặc bài học khó. Vì học sinh của Petrus Ký là học trò giỏi và có kỷ luật nên thầy cô giáo hiếm khi gặp chuyện quấy phá của học trò. Nhưng các thầy cô cũng phải cố gắng dạy giỏi để khỏi bị các trò coi thường. Trong suốt thời gian từ 1964 đến 1977 tôi đã gặp những học sinh rất thông minh và tôi thành thật nghĩ rằng các em này giỏi hơn mình nhiều và nếu có điều kiện các em sẽ là những nhân tài của đất nước. Ngược lại tôi cũng biết một số em lười và dốt hết cỡ làm tôi suy nghĩ không biết tại sao các em này lọt được vào trường Petrus Ký.

Những năm tháng dạy ở Petrus Ký là quãng đời đẹp nhất của tôi. Đây là trường trung học có uy tín bật nhất của miền Nam Việt Nam, đã đào tạo ra rất nhiều nhân tài cho Việt Nam cả hai phía Quốc Gia cũng như Cộng Sản. Tôi có những học trò vừa giỏi lại vừa ngoan và những đồng nghiệp thân mến trong đó có những người thầy của tôi đối xử với nhau trong tình anh em một nhà. Để các em thêm hứng thú tôi chia các em trong lớp làm giáo sư hướng dẫn, thành từng tổ thi đố vui để học, một đội ra đề cho hai đội khác thi với nhau. Phần thưởng chỉ là những gói kẹo nhưng các em tham gia rất hào hứng.

Tháng 12 Âm lịch là tháng vui nhất trong năm, đâu đâu cũng rộn ràng không khí Tết. Hiệu Đoàn các trường bận rộn với báo xuân, tiệc mừng xuân, văn nghệ xuân. Các học sinh phải chạy chọt mới được chọn vào đoàn đi bán báo xuân ở các trường bạn nhất là các trường nữ như Gia Long, Trưng Vương. Có lẽ các nữ sinh của các trường đó cũng có tâm trạng như vậy khi qua bán sách ở các trường nam như Petrus Ký, Chu Văn An. Trên nguyên tắc học sinh chỉ được nghỉ Tết từ 27 tháng chạp, nhưng trên thực tế từ 21, 22 trở đi các trò không muốn học mà thầy cũng không muốn dạy nữa. Các học sinh ở tỉnh xa đã chuẩn về nhà từ 24, 25. Vào lớp thầy trò chỉ ngồi nói chuyện trong giờ thứ nhất đến thứ hai là giãi tán: trò kéo nhau đi dạo phố hay đến chầu chực ở cổng các trường nữ, thầy rủ nhau về nhà hoặc xuống dãy nhà giáo sư sau trường đánh bài. Tết ở Việt Nam có không khí đặc biệt đầm ấm mà khi ra nước ngoài không thể nào tìm thấy được.

Thông thường giáo sư trung học đệ nhị cấp chỉ dạy 17 giờ mỗi tuần. Đa số các giáo sư, nhất là các môn toán, lý hóa, sinh ngữ hay dạy thêm ở các trường tư. Cứ mỗi đầu năm học, văn phòng thầy Giám Học có rất nhiều khách viếng thăm xin đổi giờ để khỏi xung khắc với giờ dạy trường tư.

Khi tôi mới ra trường có rất ít giờ dạy tư nên tôi có nhiều thì giờ rảnh rỗi rong chơi với bạn bè. Chị tôi, chủ một pharmacy thấy vậy liền đề nghị với má tôi bảo tôi nên học thêm ngành Dược vì tôi có một người em đang học Dược có bài vở sẵn để sau này khi tôi có gia đình thì vợ tôi sẽ quản lý nhà thuốc. Tôi thấy đề nghị của chị cũng hay nên ghi tên học Dược năm 1965, đồng thời cũng tiếp tục học Cao Học Vật lý Thể Rắn ở Đại Học Khoa Học. Năm 1967 tôi tốt nghiệp cao học Vật Lý Thẻ Rắn (cũng giống như bằng Master bây giờ). Tôi được thầy Cao Xuân Chuẩn trường Đại Học Khoa Học chọn làm luận án Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp về Vật Lý. Vì tham lam tôi làm cả 3, 4 việc cùng một lúc: dạy Petrus Ký, dạy tư, học Dược và làm luận án Tiến Sĩ Đệ Tam Cấp ở trường Khoa Học cho đến 1968.

Sau vụ Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 tất cả các giáo sư, công chức được hoãn dịch vì lý do công vụ trước kia đều phải nhập ngũ đi huấn luyện ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung 9 tuần trước khi vào trường Thủ Đức.

Từ một giáo sư Petrus Ký có nếp sống tương đối phong lưu bị đưa vào Trung Tâm Nhập Ngũ số 3 ở đường Lê Văn Duyệt, được phát cho một chiếc chiếu, một bao quân trang để đựng quần áo, ngủ trên một bệ xi măng, ăn sáng bánh mì với đường, trưa chiều cơm, cá mòi hộp, canh rau muống, tôi thấy đời mình xuống cấp quá. Nằm trên bệ xi măng, trời mưa rả rích, bên cạnh thầy Nguyễn Xuân Hoàng (đã quá vãng) mở radio nghe Khánh Ly hát bài “Nhìn những mùa thu đi” sao mà nó buồn quá sức đến nỗi bây giờ nghe bài ấy tôi hình dung ngay cảnh Trung Tâm Nhập Ngũ số 3 ngày xưa. Kế tiếp đến màn khám sức khỏe mà mọi người gọi là thi hoa hậu. Trong một hội trường lớn trống trơn cả mấy trăm người cởi hết quần áo ngồi trên ghế dài. Phía trên có 3 ông bác sĩ ngồi. Một ông trung sĩ kêu tên 10 người một lượt lên đứng trước mặt các bác sĩ, dang rộng hai chân, hai tay đưa lên trời, quay ra phía trước, quay ra phía sau tất cả mất chừng 3 phút là xong. Tôi nghĩ khám cái kiểu này thì trừ người nào cụt tay chân hay đui mù thì mới không đủ sức khỏe. Sau đó chúng tôi được đưa qua khu Đ.S.K (Đủ Sức Khỏe) mà các anh tân binh gọi đùa là (Đời Sẽ Khổ). Vài ngày sau chúng tôi được chuyển lên Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung thành lập Tiểu Đoàn Giáo Chức.

Việc tập quân sự ở TTHLQT tuy có gian khổ sáng phải dậy từ 4, 5 giờ và đi tập có khi đến 10, 11 giờ đêm mới về nhưng cũng có những hậu quả rất tốt. Chẳng hạn một số giáo sư có cái bụng bia (beer) rất bự cứ như có bầu 6 tháng, chỉ sau 9 tuần cái bụng bự biến mất nhường chỗ cho một chàng trai đen đúa rắn chắc. Tôi cũng mất trên 5 kilo sau 9 tuần, rất tiếc là sau khi được trả về chỉ 2 tháng sau là lấy lại đầy đủ. Người ta bảo rằng khi gặp khó khăn mới biết lòng người tốt hay xấu. Khi đi dạy hầu như tất cả giáo sư đều đạo mạo đứng đắn, nghiêm túc. Nhưng khi vào quân trường có rất nhiều người kể cả những người có chức sắc như Hiệu Trưởng, Giám Học…lại đi luồn cúi các anh trung sĩ, thượng sĩ hoặc giả bệnh để được miễn tập những môn khó hay được giấy phép đặc biệt về nhà cuối tuần. Ngược lại có những người bên ngoài rất xuề xòa nhưng rất đứng đắn. Thí dụ thầy Nguyễn Ngọc Nam (đã quá vãng) người cao thước rưởi mang khẩu Garant gần đụng đất, gặp môn khó, anh em khuyên thầy nên xin miễn nhưng thầy nhất định ai tới đâu thì thầy tới đó. Tôi nằm giường trên, thầy Nam nằm giường dưới. Có khi đi tập về mệt quá tôi nằm lăn đùng ra giường của thầy. Thấy thế thầy lắp bắp nói “Ê! cái thằng thằng N giường của mày mày ở trên trên. Tại tại sao mày mày nằm nằm giường giường của của tao?”. Thầy Trần Văn Nhơn luôn luôn xung phong làm những công việc khó. Một lần khi học bài học vượt sông thầy tình nguyện tham gia đội cứu cấp và hình như thầy là người xỉu đầu tiên.

Sau khi tập được vài tuần thì có tin đồn các giáo chức sẽ được trả về trường dạy lại vì thiếu giáo sư. Mọi người ai cũng mừng nhưng gần hết 9 tuần mà vẫn chưa có tin chính thức gì cả, ai cũng bồn chồn nóng ruột. Khoảng đầu tuần thứ 9 thì có tin chính thức giáo chức được trả về trường, ai nấy đều hân hoan. Mấy ngày sau đó chúng tôi không phải đi tập. Buổi sáng sớm nằm trên giường nghe tiếng chân của các đoàn tân binh đi tập ngang qua trại vừa đi vừa hát bài “người đi không về, chắc là có người nhớ…” tự nhiên thấy đời mình sao mà sung sướng thế.

Thế rồi cũng đến ngày trở về mái trường xưa, thầy trò đồng nghiệp ai nấy đều vui mừng. Vì năm học bị trễ nên cả thầy trò đều gắng sức làm việc để học sinh kịp thi vào cuối năm. Kết quả kỳ thi tú tài 1969 học trò Petrus Ký vẫn là number one. Riêng tôi bị trễ thi bên trường Dược nhưng vì lý nhập ngũ chính đang nên trường cho phép tôi và hai người bạn nữa được thi sau và cả ba cùng đậu lên năm thứ năm. Vì không có thì giờ nên tôi xin giáo sư Cao Xuân Chuẩn nghỉ làm luận án Tiến sĩ một thời gian. Tôi tốt nghiệp dược sĩ năm 1970 và được tuyển làm giảng nghiệm viên phòng Vật Lý-Toán Học trường Đại Học Dược Khoa. Sau đó tôi lập gia đình và quit luôn việc làm luận án Tiến Sĩ Vật Lý.

Sau Tết Mậu Thân chiến sự có vẻ lắng dịu đến năm 1972 thì bùng nổ trở lại rồi Hiệp Định Paris ký kết, Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Mặc dù có hiệp ước Paris nhưng cũng như đa số những người Việt Nam quan tâm đến vận mệnh của đất nước tôi lo lắng tình trạng bấp bênh của miền Nam Việt Nam vì trong khi Mỹ rút quân và giảm viện trợ quân sự cho miền Nam thì VC và quân đội miền bắc vẫn đóng yên tại chỗ.

Năm 1975 sau khi Cộng sản chiếm Cao Nguyên và miền Trung, ai cũng biết việc chính quyền miền Nam sụp đổ chỉ là vấn đề thời gian. Tôi cũng rất muốn rời Việt Nam nhưng không tìm ra cách nào, có thể tôi không cương quyết lắm vì còn tình cảm cha mẹ, chị em và tài sản. Mặt khác không biết mình đem vợ con ra ngoại quốc rồi làm cái giống gì để sống.

Ngày 30 tháng Tư đến như là một cơn ác mộng. Tôi nằm nhà mà đầu óc rối như tơ vò không biết ngày mai sẽ ra sao. Sau đó tôi nghe trên radio Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Định ra lệnh các công chức chế độ cũ ra trình diện ở cơ quan. Tôi đến trường Petrus Ký thấy có bộ đội gác bên ngoài rất là nghiêm nhặt nên không dám vào. Một lúc sau có đông giáo sư đến và có người hỏi người lính gác thì họ bảo vào trong và chúng tôi được phép vào trong trường nhưng chỉ được phép ở phía văn phòng Hiệu Trưởng không được qua bên phòng họp giáo sư. Sau này tôi mới biết bộ chỉ huy của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đóng ở bên đó. Đứng xớ rớ vài tiếng đồng hồ như rắn mất đầu không biết làm gì, mặt mũi ai nấy đều lo lắng. Sau cùng có người bảo anh em ghi tên để lại rồi ra về, ngày mai trình diện tiếp. Một vài ngày sau thì bộ chỉ huy MTGPMN rút đi và anh Tư Thiện, một cựu giáo sư Petrus Ký đã từng bị tù ở Côn Đảo được cử làm Hiệu Trưởng nên chúng tôi cũng đỡ lo lắng và bắt đầu làm tờ khai lý lịch. Chúng tôi cũng phải tập trung tại trường lúc 12 giờ khuya để tham gia ngày mừng chiến thắng vĩ đại ở dinh Độc Lập vào một ngày đầu tháng 5, 1975. Con đường từ trường đến dinh Độc lập đi bộ chừng 20 phút nhưng vì đêm hôm ấy đông người quá nên đến 7 giờ sáng hôm sau mới đến nơi. Trên đường đi mấy cái loa hai bên đường phát thanh liên tiếp bài hát “không có gì quý hơn là lòng yêu nước, không có gì quý hơn độc lập tự do…”, còn các đoàn biểu tình thì hô khẩu hiệu ủng hộ cách mạng.

Chúng tôi được chia thành từng tổ theo môn dạy để bắt đầu học tập chính trị. Học sinh cũng trở lại trường và các em cũng được chia thành đoàn đội để sinh hoạt chính trị. Chúng tôi được chia thành từng toán hai thầy thay phiên nhau canh gát trường vào ban đêm cạnh văn phòng Hiệu Trưởng đề phòng bọn CIA và ngụy quân ngụy quyền phá hoại. Cũng có một toán học sinh canh gác ở ngay giữa hành lang chính của trường. Thầy Nguyễn Minh Dân và tôi chung một toán lại có thầy Phạm Ngọc Đảnh leo rào bưng theo một bình trà và vài cái tách qua uống trà tán dốc đôi khi còn nói chuyện phản động. Trong suốt niên khóa 1975 – 1976 chúng tôi không phải dạy gì cả chỉ họp hành và học tập chính trị và từ nay trở đi chúng tôi được gọi là giáo viên thay vì giáo sư.

Một hôm các giáo viên đang họp ở thư viện của trường thì có lệnh ai nấy phải ngồi im lặng tại chỗ đợi lệnh. Một lúc sau tôi thấy một đám đông người áo bỏ ngoài quần đến cửa thư viện. Tôi thấy người đi đầu quen quen nhưng chưa nhớ là ai. Lúc ông bước lên bục cửa có hai người hai bên giúp ông bước lên. Khi nghe tiếng hô “Đồng chí Tổng Bí Thư đến” mọi người đều đứng dậy chào. Tiếp theo thủ tục chào mừng, đồng chí TBT Lê Duẩn bắt đầu nói chuyện với hội nghị. Sau khi ca tụng những thành quả long trời lở đất của Đảng và nhân dân ta, đồng chí Lê Duẩn bắt đầu nói về triết lý “công bằng và bác ái” của đảng.

Khi kết thúc bài nói chuyện đồng chí TBT hỏi ai có thắc mắc gì không? Sau vài phút yên lặng có một giáo viên đưa tay, tôi nhìn lại đó là thầy Phạm Ngọc Đảnh (đã quá vãng) dạy Triết và Đức Ngữ. Thắc mắc của thầy là: công bình tức là có công thì thưởng, có tội thì bị trừng phạt còn bác ái là tha thứ, dù có tội vẫn được tha thứ. Như thế thì đảng làm sao có thể thực hiện công bình và bác ái cùng một lúc? Thầy lại nói thêm hiện nay có một số đồng nghiệp của thầy còn đang ở trong trại học tập không biết ngày về, thầy mong đồng chí TBT chiếu cố cho những người này.

Câu hỏi của thầy Đảnh làm cho đồng chí TBT hơi lúng túng một chút nhưng ông cũng cố gắng vui vẻ giải thích loanh quanh. Còn về việc đi học tập thì ông giải thích đây là một ân huệ của đảng và nhân dân giúp các ngụy quân ngụy quyền học tập thấm nhuần đường lối chính sách của chế độ mới để khi học tập tốt họ sẽ trở về với gia đình đóng góp vào việc xây dựng xã Hội Chủ Nghĩa tốt đẹp nhiều lần hơn xưa. Sau buổi họp này ai cũng lo ngại cho thầy Đảnh nhưng rất may không có gì xảy ra cho thầy ngoại trừ việc thầy không được dạy nữa chỉ hướng dẫn các học sinh dọn vệ sinh canh trường. Về sau gia đình thầy được định cư ở Đức và thầy là lãnh đạo tinh thần của hội Petrus Ký Âu Châu trong nhiều năm cho đến khi thầy mất.

Trường Petrus Ký bắt đầu năm học mới 1976 – 1977 và tên trường được đổi lại là trường Trung Học Phổ Thông Cấp 3 Lê Hồng Phong. Trường không còn các lớp Đệ Nhất Cấp nữa và có cả nam lẫn nữ sinh. Tôi được cử làm chủ nhiệm lớp 11B5, đa số học sinh là học trò cũ của trường nên thầy trò vẫn đậm đà như trước kia. Ở một lớp khác tôi dạy có một vài em con của cán bộ ngoài bắc vào nam làm việc. Đa số những em này đều nói đúng theo đường lối chính sách của đảng và nhà nước, cái gì ngoài bắc cũng tốt hơn trong nam. Một hôm tôi thấy một em đang giờ học mà cứ săm soi một cây bút bi quên cả mọi việc chung quanh. Tôi đến bên em và hỏi “ở ngoài bắc có bút này không em?”. Em giật mình và trả lời như một cái máy “Dạ, thiếu giống gì, còn đẹp gấp vạn lần cây bút này.” Mấy người bà con của tôi ngoài bắc vào cho tôi biết cả đời họ chưa thấy bút bi bao giờ dù là họ làm việc ở Hà Nội.

Đầu năm 1977 một giảng nghiệm viên ở Đại Học Dược Khoa đến nhà tôi và báo cho biết sau khi kiểm tra danh sách các giáo sư của trường họ biết tôi còn ở Việt Nam nên muốn điều tôi về dạy lại vì trường đang thiếu giáo sư. Trường Dược nay được sát nhập với trường Y và đổi tên là trường Đại Học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Chị hỏi tôi có muốn về lại trường không? Trong lúc đó, một số giáo viên trường Petrus Ký này là Lê Hồng Phong bị chuyển về các trường nhỏ ở các quận, một số bị cho nghỉ việc vì lý lịch không tốt, một số khác đi vượt biên. Ban Giám Đốc của trường cũng thay đổi. Anh Hiệu trưởng Tư Thiện bị điều đi học ở trường đảng như chị Hoàng, chị Hạnh, anh Sự, chị Tâm, vào thay như chị Hoàng, chị Hạnh, anh Sự, chị Tâm, vào thay thế. Tôi thấy tương lai của mình ở trường có vẻ bấp bênh. Tôi thấy tương lai của mình ở trường có vẻ bấp bênh. Tôi chưa kể về trường Y Dược thì lương của tôi được tăng từ 65 đồng lên 75 đồng mà giờ dạy lại ít hơn và thoải mái hơn nên tôi đến gặp chị Hòa, Giám Học trường Dược và chị rất vui vẻ nhận tôi và làm giấy tờ cần thiết để tôi đem về trường Lê Hồng Phong xin chuyển trường. Lúc đầu chị không chịu nhưng tôi năn nỉ nên cuối cùng chị cũng bằng lòng ký cho tôi đi.

Gia đình tôi vượt biên và đến Mỹ năm 1980. Sau 5 năm đầu chật vật vì sinh kế, gia đình tôi dần dần ổn định. Sau đó các học sinh Petrus Ký ở các nước ngoài liên lạc với tôi và mời tham dự các buổi họp mặt của các hội Petrus khắp nơi. Tôi đã tham dự các cuộc họp ở Washington D.C., Virginia, California, Germany, Australia, gặp rất nhiều đồng nghiệp, học sinh Petrus Ký và tôi có nhận xét như sau:

Trong những lần họp đầu tiên, cuộc gặp gỡ thầy trò, đồng nghiệp rất là cảm động, tình cảm tràn trề nhưng càng về sau thì có vẻ càng nguội dần. Số người tham dự giảm đi và tình cảm không được đậm đà như trước, có khi còn chia rẽ bè nhóm. Việc này có thể vì tác động của môi trường sống, hoàn cảnh kinh tế, vì hình ảnh của thầy cô không giống như ngày xưa, vì thầy trò càng ngày càng già yếu, vì không có gì mới lạ, vì bản chất tự nhiên của người Việt… Các hội Petrus Ký ở nước ngoài không thể tồn tại lâu dài vì không có các thế hệ trẻ tiếp nối. Con cháu của chúng ta không học ở trường Petrus Ký, phần lớn nói và viết tiếng Việt không thông. Chúng cũng không biết rõ Việt Nam chứ đừng nói là trường Petrus Ký. Đây là chuyện buồn không thể nào tránh được.

Hè 1978 tôi chính thức rời trường Petrus Ký (tôi vẫn thích dùng chữ Petrus Ký hơn là Lê Hồng Phong), 3 năm học và 14 năm giảng dạy của tôi với trường đã chấm dứt nhưng những kỷ niệm đẹp đẽ, êm đềm về ngôi trường Petrus Trương Vĩnh Ký, với các em học sinh và đồng nghiệp thân mến sẽ theo tôi mãi mãi suốt đời.