Lời giới thiệu tài liệu viết về Hát Bội của cụ Petrus Trương vĩnh Ký
GS Vũ Hiệp
Xin cám ơn anh VyKhanh Nguyen (PK 66-69) về bản tài liệu hiếm quý này về Hát Bội của cụ Petrus Trương Vĩnh Ký do Vũ Hiệp, Giáo sư phụ trách Lịch sử Kịch Nghệ trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Saigon phổ biến ngày 01/9/1973.
GS Vũ Hiệp cho biết đây là bản chép tay theo bản in thạch bản của Viện Khảo cổ Saigon, trong hồ sơ TRƯƠNG VĨNH KÝ lúc 11 giờ sáng ngày 3/7/1967 tại Thư viện Khảo cổ đường Thống Nhất, Saigon, đánh máy và in ronéo xong tháng 9/1973. Tài liệu này đã được hội Ái hữu Petrus Ký – Montréal phổ biến lại trên tờ Nội san số 2 – tháng 3 năm 2000, và may mắn thay khi anh Nguyễn Vy Khanh còn giữ lại được cho chúng ta.
Khoảng năm 1965, trong một buổi tiếp tân tại trường đại học Văn khoa Sài gòn, chúng tôi hân hạnh được gặp cụ Trương vĩnh Tống, một quan khách tham dự, là cháu ba đời nhà học giả lỗi lạc và tiền phong của văn học quốc ngữ thế kỷ XIX. Trong cuộc nói chuyện, cụ Tống cho biết ông nội của cụ có viết một cuốn sách khảo cứu về hát bội.
Đến năm 1967, chúng tôi có việc làm cần tìm hiểu về hát bội nên đi tìm các sách vở viết về nghệ thuật sân khấu cổ truyền này thì chỉ thấy có một cuốn “Nghệ thuật Hát Bộ” của Đoàn Nồng viết hồi tiền chiến là tương đối đầy đủ, còn lại là những bài hồi ký, khảo cứu của M. Landes, của G. Cordier, Vũ ngọc Phan, Đông Châu, Nguyễn thúc Khiêm, Hoàng thiếu Sơn, Thuần Tùng, Đạm Phương Nữ Sử…. viết về Hát Bội, hoặc bằng chữ Pháp hoặc bằng chữ quốc ngữ đăng rải rác trên các tạp chí trước năm 1945, nhưng hầu hết chỉ bàn về văn chương Hát Bội hay lịch sử Hát Bội mà giải thích một cách mơ hồ theo quan điểm riêng, gần như chưa có ai khảo cứu chi tiết về nghệ thuật này, trừ Đoàn Nồng. Nhưng tác phẩm của Đoàn Nồng không làm chúng tôi thỏa mãn, vì tác giả nêu ra nhiều giả thuyết mà thiếu chứng minh về nguồn gốc tài liệu dẫn chứng.
Chợt nhớ tới cụ Trương vĩnh Tống nói năm 1965, chúng tôi tới các thư viện ở Sài gòn tìm kiếm thẻ mục lục và tác giả thì không đâu có tác phẩm viết về Hát Bội của học giả Petrus Ký cả. Thế rồi suốt ba tháng hè năm 1967, chúng tôi tới thư viện của khảo cổ xem sách. Một tình cờ và ngạc nhiên trong hộp hồ sơ Trương vĩnh Ký (tất nhiên không có thẻ ở hộp phiếu truy tìm) đặt trong một giá sách gần bàn độc giả, chúng tôi lục lọi xem vì tò mò, thì thấy một cuốn sách mỏng cũ mèm, cuốn này được in bằng thạch bản, chữ viết bằng ngòi bút chấm mực và ngòi bút ronde, mực đen, nét chữ khá đẹp, không biết có phải là thủ bút của cụ Petrus Ký hay không? Sách in trên giấy ngà đã ngả ra màu vàng ố, mọt mối đã đục thủng nhiều chỗ. Sách không có bìa nhưng tờ lót bìa đề như sau:
Théâtres, Comédies, Chants
CHANSONS ANNAMITES
HÁT, LÝ, HÒ ANNAM
Cours aux élèves Annamites
Saigon – 1886 – Trương vĩnh Ký (Petrus)
Cours d’Annamite aux élèves Annamites
Chúng tôi lật trang trong thì vô cùng thích thú thấy ở tờ thứ ba (khổ giấy độ 15×21) có hàng chữ đề I – HÁT BỘI. Thế là vội sao chép nắn nót từng chữ, từng dấu chấm phẩy theo đúng nguyên bản. Chép xong, đọc lại mới thấy tài liệu thật đáng quý cả về thời gian tính đến nội dung. So với Đoàn Nồng, cụ Petrus Ký đã hơn hẳn nhiều điểm, dù hai tác phẩm của hai vị này đều viết về Hát Bội cả.
Đầu tiên là thời gian khảo cứu Petrus Ký viết trước Đoàn Nồng tới gần 70 năm và định nghĩa danh từ hát bội rõ ràng. Hơn nữa, thế kỷ 19 là thế kỷ phát triển cao độ của nghề hát bội triều Nguyễn hẳn cụ Petrus Ký sống gần gũi với nghệ thuật đó hơn, hiểu rõ hơn Đoàn Nồng và nguyên tài khảo cứu của cụ cũng đủ nói lên giá trị tác phẩm. Quả thật như vậy, cụ Petrus Ký đã ghi chép tỉ mỉ từ tuồng bản, từng thứ đồ nghề, từng cách diễn cho tới tên gọi y trang và các vai… theo ngôn ngữ của thế kỷ 19. Người đọc có cảm tưởng cụ Trương vĩnh Ký là một tay lão luyện trong nghề hát bội mới biết lắm chi tiết đến thế. Sau nữa là lối viết chữ quốc ngữ thế kỷ 19 trong tác phẩm của cụ đã cho chúng ta một tài liệu quý báu về cách hành văn của quốc ngữ do người miền Nam viết cách đây gần 90 năm so với ngày nay ra sao?
Chính vì tính chất giá trị sử liệu của tác phẩm ấy, chúng tôi tôn trọng nguyên văn, nguyên bản, nên chép tay và đánh máy, in ronéo một cách thận trọng. Mong người dùng tài liệu này chú ý điều đó và đừng tưởng lầm chúng tôi chép sai chính tả Việt nam. Đó là đặc điểm thú vị của lối viết chữ quốc ngữ trước đây, thời kỳ Trương vĩnh Ký. Đôi khi, tác giả còn viết tắt và nhiều dấu hiệu khó hiểu nữa. Chẳng hạn như trang II, tác giả viết giải thích: Búa đồng (đại bản phủ C.) không hiểu C. viết sau câu đó là nghĩa gì ? hoặc câu hành văn sau đây : “Hát bội là cái giống gì ? …” khiến người đọc ngày nay phải bật cười về cú pháp nôm na ấy .v.v….
Để tôn trọng nguyên bản, chúng tôi ghi đúng từng chữ, từng dấu, dù có lỗi sai chính tả Việt ngữ đi nữa. Thêm vào, chúng tôi còn ghi chú bên lề bản ronéo này, số trang ở nguyên bản tác phẩm, để người khảo cứu tài liệu này hiểu rõ hơn.
Khi đem in ronéo tập tài liệu này, chúng tôi đắn đo vì con cháu tác giả còn sống nhiều ở Sài gòn, e rằng có lỗi với tác giả nếu không xin phép các con cháu cụ. Nhưng thú thực, chúng tôi không biết nhà cụ Trương vĩnh Tống ở đâu mà xin phép, và nghĩ rằng đây là một tài liệu văn nghệ có tính chất giá trị lịch sử nhiều hơn, có thể phổ biến trong học đường, miễn là đừng thủ lợi và thương mại. Do đó, trong tập ronéo này, chúng tôi chỉ in phần hát bội mà thôi, còn các lối hát khác, chúng tôi miễn in ra đây. Rất mong những người sử dụng tài liệu này để tham khảo, xin ghi rõ xuất xứ và tác giả để tỏ lòng tôn kính tác giả.
Tập tài liệu này của học giả Trương vĩnh Ký sẽ giúp ích không ít khi cần tìm hiểu về Hát Bội, vì hầu như chưa một tác phẩm nào ra đời sau tập tài liệu này có ghi và tham khảo tới nó cả
Lời giới thiệu dài dòng trên cốt chỉ để làm sáng tỏ về nguồn gốc của tài liệu và theo đúng tinh thần Đại học.
Trân trọng,
VŨ HIỆP
Giáo sư phụ trách Lịch sử Kịch Nghệ trường Quốc Gia Âm Nhạc & Kịch Nghệ Saigon
Sài gòn 01/9/1973
Théâtres, Comédies, Chants
CHANSONS ANNAMITES
HÁT, LÝ, HÒ ANNAM
Cours aux élèves Annamites
Saigon – 1886 – Trương vĩnh Ký (Petrus)
Cours d’Annamite aux élèves Annamites
HÁT LÝ HÒ ANNAM
Bài đầu
Tục hay ca rằng: Nam lý, Bắc thơ, Huế hò; thì chỉ nghĩa là người trong Nam (là từ Đồng nai ra cho tới Quảng nam) thì lý hát hay hơn; còn thơ, phú, ca, vịnh thì là người ngoài Bắc nói hay hơn; còn về việc hò thì tại kinh kì (Huế) cả trong ngũ Quảng, người ta hò hay hơn hết.
Thơ, phú, tuồng, văn, ca, vịnh cùng là câu hát người ta đặt ra, đều là nhân bởi trong tâm tình người ta mà ra, đâu có ý tứ nghĩa lý đó cả.
Nó đều thuộc trong Phong, Nhã, Tụng:
Phong thuộc về phong tục; nhã thuộc về việc chánh; còn tụng là về cách chúc tụng ngợi khen; lại nó cũng hoặc dựa hỏi phú là hỏi nói ngay hoặc dựa hỏi tỉ là hỏi nói ví dụ hoặc dựa hỏi hứng là hỏi muộn mà nói.
Có (3) ba thứ hát: 1/ là hát 2/ là lý 3/ là hò
1/ Hát thì hoặc hát bội, hát nhà trò, hát phường chèo, là hát cho người ta coi chơi cho vui nhạc tích kia tích nọ, đời nọ đời kia, có đủ ngôi thứ sang hèn khó giàu, có hay có dở, có tốt có xấu, có ý khuyên bỏ cái xấu mà làm cái tốt, khen cái hay, chê cái dở, giục lòng trung hiếu, thảo thuận, dậy biển ái nguồn ân, hoặc hát đưa em, hát xẩm, hát chèo ghe, hát huê tình đối đáp chọc gái giỡn trai, nhắn nhen tình ân ái v.v…
HÁT BỘI
Hát Bội nghĩa là hát có nhiều vai tuồng, có nhiều người cả bọn hiệp nhau lại, chớ chẳng phải là một người hát mà nên đám đâu (30-40). Bội là nhiều, là bè bội cũng như là bọn lũ vậy.
Hát Bội là hát giống gì ? là hoặc dùng tích đời trước thật có, hoặc cũng có khi bày đặt, hay là mượn mà thêm thắt thêu dệt ra làm tuồng tập dẫn lại cho người ta coi, trước sau dọn có thứ lớp thảy cả.
Tuồng thì có hai thứ tuồng: Tuồng đồ và tuồng pho
1/ Tuồng đồ là tuồng có một, hai hay là ba thứ mà thôi, nột bất quá nữa là 5 thứ mà hết tích.
2/ Tuồng pho là tuồng truyện dọn ra chẳng kì là 3 thứ, mấy thứ cũng được
Kể tên một ít thứ trong 2 loại tuồng cho biết:
TUỒNG ĐỒ
| Sang hậu (Đồng kim Lân) Tuấn mộng lân Phụng hoàng anh Kim luông xích phụng Tá đình luông Lý trình châu Bạch vân tiên chấn trung Bạch vân tiên Trưởng Liêm, Trưởng Hiếu Hùng Vương cất rổ Nhơn lai hổ Hổ thành nhơn Kim Lân Lục vân tiên Túy Kiều Văn dườn (thằng Lóa) (thơ pha tuồng) Võ nguyên luông Hùng văn hùng võ Nữ vương tranh châu Nữ vương xé nộm Lộc hiến công Đào Phi Phụng Trà hồn (trần) Vạn thủy hà Triệu mã văn Thằng dái Bất tiểu Đổng hiền châu Huình lan, Bạch cúc Kim ngưu Trần Cam, Lý Thiện Mã hiền Mai Lương Ngọc Mai, Lan, Cúc, Trúc… Khuông tùng lão Sài Nam Triệu, Nữ Tống Xích Phụng Nguyên Triệu nhà văn Nhạc hoa linh Lý thiên luông Võ thành lân Trần nhang cúng áo Tam hoàng Cao đức Trần bồ Trương Ngáo Triệu tam hủy Lưu Thiện Đại trượng phu chí quân tử Mao y (Thục vương thần quỉ) Đào phi phụng, Kiều Nguyệt tâm Diệp nhạc hầu Giang công nhã co (Thiên Lũy) Sở vương Phụng thăng thiên Trường đầu nhục Ô long mã Lý kì sanh Lý tư sanh Uất long thừa Lôi phong pháp (thanh xà, bạch xà) Kim tứ kì dươn Mai lương Ngọc (Nhị độ mai) Linh ân Lý kì ân Linh Lân Ngọc Côn, Huình Tú Đinh lưu tú Thủy hà Ba vành Vân lía Hội hài Phụng kiến văn Ngũ oán hồ (cấm huê đình) Tam lang (Hồ nguyên sách) Giác hoàng (tam ban trào điển) Châu lý ngọc Dấu báu Hoa sanh nhơn Tứ bửu Tứ linh Tứ dân tứ thú Kỳ huê lợi thuận Mã đăng luông Lự Không tư | 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 6 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 1 thứ 1 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 5 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 1 thứ 1 thứ 1 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 7 thứ 1 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 1 thứ 2 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ 3 thứ |
TUỒNG PHO
1/ Tuồng Châu (Phong thần) 80 đến 100 hồi
2/ Tuồng Chiến quốc
Ngô Phù Ta (Câu Tiễn)
Tử tư phá mồ v.v…
3/ Tuồng Đông Hán: Sầm Bành, Lưu Tú v.v.
4/ Tuồng Tam quốc (Hậu Hán) 120 hồi
5/ Tuồng Đường:
Tảo bắc 120 hồi
Chinh đông
Chinh tây
Phản Đường
Phụng Kiều, Lý hán
Phá thiết khâu phần v.v..
6/ Tuồng Tống:
Nê mã độ hạ
Sính hiền Ái huê sơn
Tàng kim cốt Phối vân nam
Xá vân nam
Khưởng lang sơn
Chinh thái hồ
Cửu long sơn
Phá phổ
Phá đảm
Ngũ liêu
Thi võ
Ngũ phương trận
Châu tiên
Đoạn túy
Thượng ngưu đầu
Trung ngưu đầu
Tống khách
Phổ phong tàng
Ngũ hổ bình tây
Ngũ hổ bình nam
Chánh Đức du Giang nam
Tống từ Vân tấu các v.v.
Công cuộc Hát Bội
Hát bội cũng dùng vô việc lễ nhạc cho nên nơi đình miếu chùa chiền đều có làm nhà VÕ CA để khi ai có khấn có vái một chầu thì kêu bầu gánh đem ban hát tới đó mà hát. Tuồng hát thì chẳng thiếu gì tuồng mặc ý chủ đám lựa lấy tuồng nào thì ban hát phải giáp tuồng ấy mà hát.
Rước ban hát thì phải hết: 1 quan tiền lễ tiên sư, 1 quan tiền ngân phân (mua đồ giặm mặt), 1 quan tiền giựt rạp (là hát rồi giựt lá dỡ rạp một chút lấy phép)
Thể Hát
Hát soát: là lãnh hát 1 chầu là bao nhiêu, có cát giá trước
Hát đám (hát cá): là lãnh hết mà hát hoặc 1 chầu, 2 chầu hay là 3 chầu, mỗi chầu là 3 thứ
Hát trưởng: là hát tại rạp của bầu gánh cho được lấy tiền ghế tiền giàn mà ăn
Hát ăn tiền thưởng: là hát hễ hay đâu thưởng đó, thưởng thì có tiền giót, 1 giót là 30 đồng; còn đồ muớn thì cứ lệ mà trả
Hát chặp: là khi nhà có cuộc vui, kêu một hai đứa kép hát chơi vậy, không mặc đồ, không vẽ mặt, cũng không cứ thứ lớp nào, khúc nào hay thì hát khúc nấy !
Hát giúp (giùm): là cuộc chủ mướn đã mãn rồi tiền chủ còn dư, hát thêm chơi mà thưởng cho hết tiền
Hát phá rai: là khi rạp các chú nó cất ra mà nó không dám hát trước thì nó rước bạn hát Annam hát trước 1, 2 chầu lấy phép
Hát lễ tiên sư: là hát mà cúng tiên sư hồi đầu năm
Hát xoang mặt: là khi mới xây chầu rồi, ra 1 kép đứng cái, 4 kép đứng con, cái hát 1 câu rồi gian ra 4 con vô đứng hát mà chúc mà ca
Hát lễ trường (hát bỏ đồ): là hễ mỗi năm đáo lễ, cúng mà hát, rồi thì đem đồ hát bội ra đường đi mà bỏ, vì sợ lâu ngày nó sanh quái ra chăng. Làm là làm lấy phép, đem bỏ thì bỏ, mà thường bầu gánh lén biểu người quyến thuộc giả đò được đồ ấy lấy về bầu gánh ra tiền ít nhiều mà chuộc lại, thì cũng như là mua đồ mới hay là sắm lớp khác.
Đồ cuộc
Trang thờ tiên sư (là thờ tam vị tiên sư, thập vị nghệ nghiệp) (a)
Mắt thái tuế là 2 tấm mặt quỉ treo 2 bên cửa buồng
Cửa sanh là cửa buồng bên tả ở trong ngó ra, cũng kêu là cửa xuất tuồng ở bên trống chiên
Cửa tử là cửa buồng bên hữu, cũng kêu là cửa nhập tuồng ở về bên phía trống chầu
Buồng là chỗ ở sắm sửa mà ra tuồng
Thùng là rương đựng đồ hát
Đồ đầu là mão, là râu …
Lối là đầu rồng, phụng … mặt địa
Sân khấu là chính chỗ trường tập ở giữa hát bội ra mà hát mà làm tuồng
Tên đồ hát bội
Mãng hình long bào là áo nhà vua mặc
-long phi là áo vợ vua bận
-huê bào, là áo thái tử và trạng nguyên bận
-thanh bào là sắc áo thái sư, thừa tướng, thượng thơ mặc
mã giáp là áo các tướng ra trận bận
Áo song khai là áo các quan bận
-mã đề, song khai, song mang
Mão (cặp nẹp) cửu long là mão vua đội
-thất phụng là mão vợ vua đội
-bình thiên là mão quan lão võ đội
Võ đằng cân là trạng võ đội
Văn đằng cân là trạng văn đội
Văn khu ốc là mão các tướng đội
Đại kim khôi là mão chánh tướng, nguyên soái đội
-Tiền kim khôi là mão phó tướng đội
-Ô mạc là mão quan văn đội
–Kim quang là mão hoàng tử đội
-Giao long là mão con cốc quan đội
-Tú tài là mão thái giám, học trò, thị vệ đội
Áo mã tiên là áo xổ xuống có thẻ (đào mặc)
Đai, là cái vòng thắt mãng như cái nịt lưng vậy
Áo song mang, phiên con, tướng, trấn, sĩ …mặc
Hia
Cung, cái vân đằng trước xô xuống tới dưới chơn
Xiêm-Giang, dây thác cho chặt có diềm có tụi thòng xuống
Xiêm vế, là cái tủa hai bên đầu gối
Gươm Song kiếm, là cặp gươm đờn bà (đào) cầm
Siêu đao, là cây mác lớn của các quan tướng cầm
Búa đồn, (đại bản phủ c.)
Dùi đồng (đồng côn) cái roi bằng đồng nặng lắm
Roi sắt (thiết côn c.) là cái roi bằng sắt nặng lắm
Giáo ngũ (trường thương c.)
Tiểu bản phủ c. là cái búa nhỏ giắt lưng
Song phủ c. là cái búa nhỏ cầm hai tay 2 cái
Trái đấm (ngân chùy c.) là cái dùi sắt như dùi thợ nhuộm nặng lắm
Kim giản, giản bằng vàng như cây độc kiếm mà lưỡi vuông có từ khấc
Thiết giản, cây giản bằng sắt
Cờ đại kỳ
-ngũ hành
-lệnh (tiễn)
Trống chiến
-trận
Mã la
Kèn
Đờn Q
uyển
Tàn
CHẦU
Xây chầu là phép gõ ba thức bốn là bảy, rồi đọc nhứt điểm trừ quỉ mị ! đánh thùng một cái, nhị điểm tai ương ! thùng; tam điểm quốc gia xương thạnh ! thùng; tứ điểm thiên hạ thái bình ! thùng; ngũ điểm thôn trung hòa hiệp ! thùng; lục điểm thăng quyền tấn chức ! thùng; thất điểm phú quý giai thành ! rồi xuống rằng : NGÔ KIM XUẤT HÀNH, VÕ VƯƠNG THUẬT ĐẠO, TAO VU TI BINH BẤT ĐẮC, ĐẠO TẶC BẤT ĐẮC, KHỞI HỔ CANG BẤT ĐẮC, THÂN HÀNH VIỄN QUY CỐ HƯƠNG, ĐANG NGÔ GIẢ TỬ, BỐI NGÔ GIẢ VONG, CẤP CẤP NHƯ CỬU THIÊN HUYỀN NỮ LUẬT
ĐỊNH ! đánh thùng thùng ba tiếng rồi thôi ! ấy là 10 dùi, còn 112 nữa mới đủ hồi nhứt; hồi nhì 137 dùi, hồi ba 155 dùi. Đánh trước nhẹ sau mạnh mới nhằm phép chúc
Gióng chầu là nổi trống lên trước khi hát
Đánh chầu là đánh trống lớn, đứa hát cho biết hay dở; mà tùy khi: hoặc chầu bộ, chầu mau, chầu cầu hoặc chầu lỗi, chầu rước
Ngâm thơ là khi một mình thanh vắng ca vịnh chơi hoặc hai đứa hát rập với nhau
Hát Biệt là hát khi phân ra một người một ngả mà đi
Hát bài học là hát chữ một như học
Loan là hát khách
Hát khách, là nhịp ba bẩy mà hát thì kêu là hát Khách Phú
Hát tẩu mã là hát nhịp một, hát mau
Văn là hát Nam
Khấu là đánh trận
Ó, là hiệu nó reo lên tiếng ọm sòm
Vãn là khi đã rồi một thứ mà nghỉ đi
Vãn tuồng là thôi hát đi, khi hát xong chầu rồi mà bãi
Hạ lớp (rồi lớp) vai nọ hết, vai khác ra
Nhà võ ca, là trường hát tại đình, tại miễu
Trường hát, là chỗ để hát thường
Rạp hát là nhà làm tạm mà hát, hát rồi dỡ đi
VAI TUỒNG
Bầu gánh, là người sắm đồ, nuôi bạn hát mà đi hát mướn lấy tiền (ca công hộ trưởng)
Nhung, là người coi sóc gánh hát cùng dậy biểu tập luyện lớn nhỏ, cũng có khi nhắc tuồng… có phụ một người Biện nhắc tuồng là kẻ thuộc tuồng để mà ca mà nhắc
Trẫm, là vai tuồng vua
Hoạn, là quan thái giám nội thị hầu vua
Lão văn, là quan văn già
Lão võ, là quan võ già
Lão về vườn, là quan tàn hưu trí Thái sư và Thừa tướng là quan lớn trong trào có quyền thế, trên vua, dưới mình, thường là Nịnh hay lo mưu soán ngôi
Kinh (tướng) là quan tòa dua theo phe thái sư, hoặc anh em hoặc rể là bà con với thái sư nên đồng lòng giúp thái sư soán tước
Thằng Bột là con thái sư mà bất tiếu, hư những bỏ học, ỷ thế ngang tàng, những ăn chơi, trai gái, đào đĩ…
Đào là hoặc con trai làm vai đờn bà, hoặc con gái chính mình làm lấy
Đào Thương là vai tuồng người đờn bà ngay mà mắc nạn
Đào độc là người đờn bà chánh hay ghen
Đào chiến là vợ quan từng ra đánh giặc có tài
Đào giả trai, là con gái giả con trai mà đi thi
Đào ma, là đào chết rồi, hồn nó hiện về mà giúp cha, giúp chồng…
Đào giả dại, là vai đào giả dại qua ải mà cứu kẻ trung
Kép, là tướng trung thần mà còn nhỏ, văn võ giỏi đậu trạng nguyên phò vua vực nước (thường là đầu tuồng)
Kép núi, là tướng ở núi vẽ mặt xám mặt xanh
Kép mặc thiệt, là tướng mà không có giặm mặt
Kép mặc đỏ là kép giặm mặt đỏ
Kép Phiên, là tướng, là vua người nước khác tới đánh mà giành đất
Liêu tướng là Phiên
Lư la là quân côn đồ ở rừng ở núi qui tụ mà ăn cướp
Tứ Linh là Long, Lân, Qui, Phụng, hoặc múa trình tuồng mà cầu cho chủ
Nữ chúa là con gái Phiên có tài đi đánh giặc hay bắt đặng quốc trạng sau lấy làm chồng
Thằng hề là hàng đệ tử theo cậu đi học, nó hay giễu
Quân tuần là quân lính canh do nói chuyện vui chơi với nhau mà cười giỡn kẻo buồn ngủ mà bỏ canh
Yêu là quỉ mà thọ khí âm dương hiện hình ra để mà báo người ta cho phải khốn nạn
Tiên là người trên trời xuống truyền phép, cho phép nọ phép kia mà cứu người dương thế
Địa tiên, là ông địa để mách bảo cho biết cho hay mà cứu người ta
Mặt địa là cái mặt giả mang vô mà làm ông địa
Cọp, là thú dữ ở rừng hay bắt người ta mà ăn thịt, mà cũng có khi linh, biết ơn, đền ơn cứu người
Con đòi (thể nữ) là con gái hầu hạ công chúa hay là con quan
Thể nữ là sáp a hoàn hầu hạ công chúa
Ông Lão tiều là người thú thong dong đi ở rừng núi hái củi bán nuôi lỗ miệng mà dưỡng thiên nhiên chi tánh, nhiều khi trời dùng mà cứu giúp người ngay
Hiệu (chạy hiệu) là trẻ nhỏ làm binh lính cầm cờ cầm giáo
Thầy chùa là làm vai ông thầy chùa
Ông Ngư (lão ngư) là ông già câu cá, đi chài lưới
Thầy pháp là làm vai thầy pháp
Thầy Bói là làm vai thầy bói
Chú chệch (Khách) là vai giả người chệch, người khách
==============================
Ấy là những tên, những hiệu, những tiếng, tuy là thường mà muốn cho nên lịch sự thì cũng phải biết cho tường tận mới là lịch sự
Hát xướng ca văn là cuộc chơi bày ra cho vui mà giải tánh tình. Mà trong cái trò chơi ấy cũng có bao biếm chê khen khuyến giải, là có truyện hay cho người ta khen, có truyện dở cho người ta chê, có điều tốt cho người ta bắt chước, có điều xấu cho người ta lánh. Vì vậy khi có đám tiệc vui mừng hay là kì thần bái xã thì hay hay hát cho người ta đến coi cho đông
F I N
Chép tay theo bản in thạch bản của Viện Khảo cổ Saigon, trong hồ sơ TRƯƠNG VĨNH KÝ lúc 11 giờ sáng ngày 3/7/1967 tại Thư viện Khảo cổ đường Thống Nhất Saigon I. Đánh máy và in ronéo xong tháng 9/1973. Chúng tôi tôn trọng nguyên văn bản chính của tác giả, ghi sao chép vậy, dù có nhiều lỗi chánh tả quốc ngữ thế kỷ 19. Vậy khi dùng tài liệu này đừng thắc mắc về những lỗi trong đó. Cảm ơn.
VŨ HIỆP
Sưu tầm và giới thiệu, 1973
(a) Chính tiên sư hát bội (tục kêu là ông xó) là người dậy ông An Lạc vương tôn thất có tội bị cấm cố thì biểu kiếm cái chi vui mà giải buồn thì quân lính lấy các tích truyện nọ truyện kia bày ra mà hát chơi cho vui cho người giải buồn. Sau lần lần người ta bắt trước mà lập ra nên cuộc chơi. Tam Vị Tiên Sư là tiên thánh, tiên hiền, tiên sư kêu nhập vậy đó mà thôi. Thập vị là chỉ 20 công nghệ làm trò như làm vua, làm quan, làm dân, làm trung, làm nịnh…
Tài liệu ronéo này chỉ là một phần viết về Hát Bội trong giảng khóa của Petrus Ký năm 1886. Còn lại những phần khác chúng tôi không in ra vì thấy không cần thiết cho việc khảo cứu Hát Bội