Lời tác giả:  Việc biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những chỗ sai sót, chúng tôi ước mong được sự lượng thứ của các bậc cao minh, sự sửa sai và bổ khuyết của quí vị độc giả để bài viết này được đầy đủ và hoàn hảo hơn trong lần viết lại; đó quả thật là niềm vinh hạnh của chúng tôi.

NVT

Trong bài này, chúng tôi sẽ trình bày:

I.- Khái quát về văn học Phật giáo Việt Nam

         A.- Định nghĩa văn học Phật giáo.

         B.- Văn học Phật giáo Việt Nam ở Việt Nam.

         C.- Văn học Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại.

II.-Nhà văn, Cư-sĩ Huỳnh Trung Chánh trong dòng văn học Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại

         A.-Tiểu sử của Huỳnh Trung Chánh.

         B.-Tóm tắt nội dung chính của 9 cuốn truyện ngắn (1988 – 2012) của Huỳnh Trung Chánh:

      –3 cuốn truyện ngắn nổi bật:

        1- Cảm niệm về Mẹ.

        2- Cửa thiền dính bụi.

        3- Vết Nhạn Lưng Trời.

 – 7 cuốn truyện ngắn còn lại:

        4- Trở Về.

        5-Như Thế Mà Trôi.

        6-Con đường Vô Tận.

        7-Mẹ Quan Âm Cữu Long.

        8-Mộng hay Thực.

        9-Am Mây Ngàn

III.- Tổng Kết: Nhận xét về các cuốn truyện ngắn của Huỳnh Trung Chánh.


I.- Khái quát về văn học Phật giáo Việt Nam

           A.- Định nghĩa văn học Phật giáo:

Văn học Phật giáo là một phần của nền văn học thế giới. Tùy theo nội dung tác phẩm, chúng ta có thể phân làm 2 loại:

            1.- Các tác phẩm thuyết giảng về Phật học, đây là loại văn học viết thuần túy về triết học Phật giáo. Ví dụ:

            – Phật học phổ thông (cuốn 1 đến 12) của cố Hòa Thượng Thích Thiện Hoa.

            – Phật học tinh hoa của GS Nguyễn Duy Cần.

            2.- Các tác phẩm chịu ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo. Ví dụ:

              – Tư tưởng Phật giáo trong văn học thời Lý.

              – Tư tưởng Phật giáo trong văn học thời Trần.

          –  Câu chuyện dòng sông.

Văn học Phật giáo Việt Nam là một bộ phận của nền văn học Phật giáo thế giới, và cũng là một bộ phận của nền văn học Việt Nam.

Theo cố Hoà Thượng Thích Tuệ Sỹ thì:

           “1.- Sơ khởi văn học Phật giáo không từ chối vai trò truyền đạo của nó, tức là chân lý của tôn giáo này, tùy từng trường hợp được phô diễn tự do trong mọi thể tài văn học, và coi văn học chỉ như một phương tiện thứ yếu không quan trọng bằng nội dung.

             2.- Nhưng chân lý ở đây mang tính cách nội tại và cá biệt nơi mỗi người. Do đó, sự phô diễn của nó cũng bắt đầu như sự bắt đầu của một tác phẩm văn học; nghĩa là, khởi đi từ cảm hứng bộc phát trước một thế giới của kinh nghiệm tâm linh Phật giáo.

              3.- Hơn nữa, trên khía cạnh tôn giáo, chân lý được chứng ngộ là phản ảnh một thế giới sống động. Trên phương diện diễn đạt của văn học là cảm hứng tự phát của một tình tự cá biệt”

       (Tuệ Sỹ, Dẫn vào thế giới văn học Phật giáo.  Nguồn: Thư Viện Hoa Sen.)

Văn học Phật giáo Việt Nam đã sử dụng một trong 3 ngôn ngữ chính: chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ.

Lần đầu tiên vào thế kỷ thứ 3 đã thấy xuất hiện: “Lục Độ Tập Kinh” do Thiền sư Khương Tăng Hội (? – 280) dịch. Mâu Tử (160 – 230) viết “Lý Hoặc Luận”. Các tác phẩm này được viết bằng chữ Hán.

Vào thế kỷ 18 và 19, các vị thiền sư còn sử dụng chữ Nôm để sáng tác. Thiền sư Minh Châu Thương Hải với “Sự Lý Dung Thông”, nhà văn Nguyễn Du với “Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh”.

Đến năm 1920, do ảnh hưởng của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc được phát động bởi Đại Sư Thái Hư, Phật giáo Việt Nam đã phát động phong trào chấn hưng Phật giáo trên toàn quốc, cùng khắp 3 miền của đất nước: Bắc, Trung và Nam:

Năm 1931, “Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học” được thành lập ở Sài Gòn, sau đó là “Hội Lưỡng Xuyên Phật học” cũng được thành lập ở miền Tây Nam phần.

Năm 1932, “Hội Phật Học Trung Việt” được thành lập ở Huế. 

Năm 1934, “Hội Phật giáo Bắc Việt” được thành lập tại Hà Nội.

Các Hội Phật giáo đã xuất bản nhiều tạp chí để truyền bá tư tưởng triết học Phật giáo và vận động các bậc túc nho, tăng sĩ, cư sĩ phiên dịch các kinh văn chữ Hán ra chữ Quốc ngữ để mọi người dễ đọc, dễ hiểu để học hỏi Phật Pháp.

 (Xem thêm bài “Việc phiên dịch kinh điển Phật giáo ra chữ Quốc ngữ” của NVT.
              Nguồn: Trang Nhà quảng Đức, Thư Viện Hoa Sen, An Phong An Binh.)

Vài tạp chí Phật giáo tiêu biểu từ Nam ra Bắc: 

1.- Từ Bi Âm (1932 – 1943): Xuất bản sớm nhất ở Sài Gòn. Đã đăng Kinh Kim Cang Bát-nhã do Trí Độ dịch từ chữ Hán ra chữ Quốc ngữ.

2.- Viên Âm (1934-1944): xuất bản ở Huế. Đã đăng Kinh Lăng Nghiêm và Kinh Ưu Bà Tắc Giới do Tâm Minh dịch, Luận Đại Thừa Khởi Tín do Trí Quang dịch.

3.- Đuốc Tuệ (1935 – 1941) của Chùa Quán Sứ ở Hà Nội. Đã đăng Diệu Pháp Liên Hoa Kinh và Quan Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn do Viên Quang dịch. Kinh Hối Quá, Phương Pháp tại gia học Phật, Tội nghiệp báo ứng giáo hoá địa ngục kinh do Nguyễn Thượng Cần dịch. Giảng giải kinh Bát Đại Nhân Giác (đây là bài thuyết pháp của Đại sư Trung quốc Thái Hư) do Thiều Chửu dịch.

Nhiều bản dịch Kinh Phật ra chữ Quốc ngữ: “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” “Quan Thế Âm Bồ-tát Phổ Môn” do Viên Quang dịch. 

Có nhiều dịch giả khác như Phạm Kim Khánh, H.T. Thích Mật Thể    (Ngài là vị Sư đã tự đặt họ Thích cho mình, và phát khởi việc dùng họ Thích cho tất cả các sư Bắc Tông/ Phật giáo Phát Triển vào khoảng năm 1940), H.T. Thích Quảng Độ, H.T. Thích Trí Tịnh, H.T. Thích Thanh Từ (Cựu Giáo sư Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn)  H.T. Thích Minh Châu (Cựu Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, Cựu Giáo sư Đại học Văn Khoa Sài Gòn), H.T. Thích Tuệ Sỹ v…v…

Nhiều văn thi sĩ đã dịch thuật các sáng tác, giảng giải kinh luận như: Tâm Minh Lê Đình Thám, Chánh Trí Mai Thọ Truyền (Cựu Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hoá trong Chính Phủ VNCH, Cựu Giáo sư Viên Cao đẳng Phật học Sài Gòn, Cựu Giáo sư trường Đại Hoc Văn Khoa Sài Gòn ), Thiều Chữu, GS Nguyễn Duy Cần (Cựu Trưởng Ban Triết Học Đông Phương tại trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, Cựu Giáo sư Viện Đại học Vạn Hạnh), Võ Đình Cường, Thiền sư Lê Mạnh Thát v… v…

*

*                                 *

Một dịch phẩm rất nổi tiếng trước 1975 ở Việt Nam là “ Câu chuyện dòng sông”, có nhiều ảnh hưởng trong cộng đồng Phật giáo.

Phùng Khánh và Phùng Thăng đã dịch cuốn tiểu thuyết “Siddhartha” từ bản dịch tiếng Anh, của Hermann Hesse (Đức, 1877 – 1962, giải Nobel văn chương 1946). Theo hai dịch giả này thì:

[…] “Tất cả tác phẩm của Hermann Hesse đều nói lên niềm cô đơn tâm linh của con người thời đại, nỗi thao thức triền miên của những tâm hồn khát khao đi tìm một chân trời mới cho đời mình và nhất là những nỗ lực vô hạn để vươn lên mọi ràng buộc của thân phận làm người.”

[…] Đọc “Câu chuyện dòng sông”, chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời đáng sống và chứa đựng muôn ngàn hương sắc tuyệt vời, mà chúng ta thường bỏ quên và đánh mất giữa đời sống thường nhật. “Câu chuyện dòng sông” là câu chuyện của mỗi người trong chúng ta; đó cũng là hình ảnh muôn thuở của trần gian và của mộng đời bất tuyệt”.

    […] Trọn tác phẩm của Hermann Hess là lời Thánh ca bay vút lên nỗi đau đớn vô cùng của kiếp sống và lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà vẫn luôm luôn tha thiết đi tìm sự giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của đời sống tẻ nhạt.”

                    (Phùng Khánh & Phùng Thăng) 

           Hermann Hess đã đặt tiêu đề quyển tiểu thuyết nổi tiếng của ông là Siddhartha, sách dày 140 trang, xuất bản năm 1922 tại Đức. Sánh này đã được dịch ra tiếng Anh với tựa là Siddhartha. Đây là tác phẩm mang nặng màu sắc phương Đông: triết lý Ấn độ và Phật giáo.

           Phùng Khánh và Phùng Thăng đã dịch “Câu chuyện dòng sông” từ bản dịch tiếng Anh: Siddhartha.

          Siddhartha là nhân vật chính của truyện, trùng tên với Đức Phật Thích Ca (Gotama Buddha) khi Ngài hãy còn là một Thái Tử (Siddhartha Gotama).

         Hai dịch giả đã không lấy tên bản dịch là Siddhartha nhưng lại đặt tựa sách cho bản dịch là “Câu chuyện dòng sông”.

        Tựa này làm nổi bật trọng tâm tư tưởng của tác phẩm: “cuộc đời là một dòng chảy cần được lắng nghe”.

         Trong nguyên tác Siddhartha, dòng sông là biểu tượng trung tâm:

         – một dòng chảy của đời sống.

         -sự hợp nhất của quá khứ, hiện tại và tương lai.

         -một con đường thực nghiệm chân lý.

              Theo thuyết nhân duyên của Phật giáo thì tất cả các vật đều liên kết với nhau (the interconnectedness of all things).

              Như vậy hai dịch giả đã chọn “Câu chuyện dòng sông” để diễn giải nội dung triết học của tác phẩm hơn là giữ nguyên tựa Siddhartha.

             Thật vậy, trong nguyên tác, nhân vật Siddhartha đã trải qua nhiều giai đoạn trong hành trình đi tìm giác ngộ:

                   1.-Tu khổ hạnh.

                   2- Sống đời sống thế tục, hưởng đầy dục lạc, hưởng cảnh giàu sang, chơi cờ bạc.

                   3. Rồi bị khủng hoảng tinh thần, sống không có hạnh phúc nên dự định tự tử.

                   4. Giai đoạn cuối cùng là giác ngộ bên dòng sông.

        “Dòng sông” đã dạy cho Siddhartha:

             mọi sự, mọi vật đồng thời hiện hữu.

            quá khứ, hiện tại và tương lai không thể tách rời.

            đời sống giống như một dòng chảy của dòng sông, luôn chảy không ngừng nhưng là một thực thể.

      Theo Hermann Hesse, dòng sông là biểu tượng của giác ngộ.

      Bản dịch này đã được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1965, nxb Lá Bối, Saigon.

     Dịch phẩm đã được nhiều độc giả trong giới sinh viên, giới trí thức, cộng đồng Phật giáo: Phật tử và Tăng Ni ưa chuộng; lại còn được rất nhiều độc giả trong cộng đồng Công giáo ngay cả nhiều vị Linh mục cũng rất thích đọc nữa.

    Dịch phẩm này được đánh giá như là đỉnh cao của ngành dịch thuật trong văn học miền Nam trước 1975.

    Trước năm 1975, nhà văn Huỳnh Trung Chánh đã say mê đọc dịch phẩm này nhiều lần. Văn phong của ông không khỏi không chịu ảnh hưởng của dịch phẩm này.

    Văn Phong của Phùng Khánh và Phùng Thăng rất trong sáng, nhẹ nhàng, giàu nhạc tính và thấm đượm thiền vị. Dịch giả đã diễn đạt tư tưởng Thiền của Đông phương hơn là nguyên bản bằng tiếng Đức của Hermann Hess.

    Đọc “Câu chuyện dòng sông”, nhiều đoạn mô tả “dòng sông” thấm đượm thi ca, nhẹ nhàng, êm ả, khiến độc giả quên rằng đây là một bản dịch mà cảm thấy đây như là một quyển tiểu thuyết triết lý trong văn học Việt nam; sách minh hoạ cho độc giả một hành trình đi tìm giác ngộ. Có vị tâm sự:

       “Đọc “Câu chuyện dòng sông” giống như nghe tiếng nước chảy êm ả trong tâm mình, như nắm bắt cụ thể thiền vị.”

       Tóm tắt nội dung chính của quyển tiểu thuyết Siddhartha:

                     Bối cảnh của câu chuyện là nước Ấn độ cổ đại vào thời mà Đức Phật Thích-ca (Gautama Buddha) còn tại thế.

                     Nhân vật chính của cuốn truyện là Siddhartha, trùng tên với Đức Phật Thích-ca (Gautama Buddha) khi Ngài còn là một Thái tử (Siddhartha Gautama).

                    Siddhartha đã cùng với người bạn thân là Govinda rời bỏ gia đình để theo nhóm tu sĩ Samanas để sống đời tu khổ hạnh. Sau một thời gian, họ nhận thấy lối tu khổ hạnh không đi đến giải thoát. Nên họ đến gặp Đức Phật Thích-ca. Siddhartha nguỡng mộ Đức Phật, ông nhận thấy Đức Phật có một trí tuệ siêu việt. Nhưng ông không theo Đức Phật. Còn Govinda thì chọn theo Đức Phật Thích-ca.

                    Sau khi rời khỏi Đức Phật, Siddhartha gặp Kamala, một kỹ nữ xinh đẹp, ông say mê nhan sắc của nàng. Để được ở gần cô, ông phải học cách kiếm tiền để làm giàu. Ông đã trở thành một thương gia giàu có. Kamala đã dạy cho ông nghệ thuật yêu đương, và cho ông hưởng lạc thú ở đời bên cạnh nàng; ông lại sanh thói tham lam, mê say cờ bạc.

                   Nhưng mà dục lạc, tiền bạc không đem đến điều gì thoải mái cho tâm hồn ông. Ông tuyệt vọng và bị khủng hoảng tinh thần một cách sâu sắc; ông nhận ra cuộc sống này vô nghĩa. Ông đi đến bên dòng sông, và dự định tự tử. Ngay khi sắp sửa gieo mình xuống dòng sông thì từ trong tâm thức, ông lắng nghe một tiếng vang lên: “OM” (đây là một âm thanh “Toàn Thiện” ). Âm thanh này khiến ông tỉnh lại, ông ngã xuống ngủ bên bờ sông. Khi tỉnh dậy ông bắt đầu một cuôc đời mới.

                  Nơi bờ sông, Siddhartha gặp người lái đò tên là Vasudeva. Ông sống bên cạnh người lái đò, ông sống một đời sống giản dị, và lắng nghe tiếng nước chảy của dòng sông. Dòng sông là biểu hiện của vĩnh cữu. Ngưới lái đò không nói những điều cao xa mà chỉ nói với Siddhartha:

                           “Hãy lắng nghe dòng sông”.

                 Rồi Siddhartha học cách “lắng nghe dòng sông”. Đây là biểu tượng của sự thống nhất thời gian, của sự thống nhất của mọi sự vật.”  Một lần nữa tự trong sâu thẳm của tâm thức, Siddhartha nghe âm thanh “OM” (âm thanh toàn thiện) một lần nữa. Lần này, âm thanh OM (âm thanh Toàn Thiện) giúp Siddhartha đạt được giác ngộ bên dòng sông:

              -Đau khổ và hạnh phúc đều thuộc một dòng chảy của dòng sông.

             -Quá khứ -hiện tại-tương lai không tách rời.

             -Mọi hình thái của đời sống đều là một điều như một dòng chảy của đời sống.

            -Thiện và ác không tách rời.

            -Sinh và tử thuộc cùng một dòng chảy.

     Cuối cùng Siddhartha đạt được giác ngộ, giác ngộ không phải là trốn khỏi đời sống mà là chấp nhận toàn bộ đời sống trong sự thức tỉnh của tâm thức.  Ông hiểu được sự đồng nhất của vũ trụ, và đạt được sự bình yên trong tâm hồn như Đức Phật Thích-ca.

    Sau đó Siddhartha gặp lại người bạn xưa Govindha, hai người đã già quá rồi. Siddhartha kể lại hành trình mình đi tìm giác ngộ.

    Qua nội dung của cuốn “Câu chuyện dòng sông”, chúng ta nhận thấy Siddhartha đã có 3 người thầy đã giảng dạy ông trên hành trình đi tìm giác ngộ:

                 1.-Đức Phật Thích-ca: ngưới thầy của trí tuệ:

                      Siddhartha diện kiến Đức Phật Thích-ca, ông rất ngưỡng mộ và học hỏi trí tuệ của Ngài.

                 2.-Kỹ nữ Kamala: người thầy về trải nghiệm cuộc đời:  

                       Kamala đã dạy cho ông về nghệ thuật yêu đương, đã cho ông hưởng những lạc thú của cuộc đời. Nàng đã dạy cho ông cách kiếm tiền để làm giàu, cách sống trong thế gìới giàu sang: chi tiêu tiền bạc, cờ bạc, tham lam.

                       Kamala là vị thầy về đường đời, nàng đã giúp ông hiểu về:  tiền bạc, danh vọng của cuộc đời thế tục. Đây là người thầy đã dạy ông về kinh nghiệm của cuộc đời, đã giúp ông hiểu rõ về bản chất của con người và người đời.

                 3.-Ông lái đò Vasudeva: người thầy của sự im lặng, của sự trực nghiệm để giác ngộ.

                    Như đã biết, Vasudeva chỉ nói với Siddhartha một câu:

                                 “Hãy lắng nghe dòng sông”.

                   Nhờ sự lắng nghe dòng sông, Siddhartha đã học được:

                               -Mọi thứ ở trong cuộc đời đều hoà làm một.

                              -Quá khứ – hiện tại-tương lai không tách rời.

                              – Đau khổ và hạnh phúc đều thuộc cùng một dòng chảy.

          Tóm lại tác phẩm “Câu chuyện dòng sông” là câu chuyện về hành trình đi tìm giác ngộ. Điểm nhấn mạnh ở đây là “giác ngộ không đến từ sách vở, không đến từ giáo lý mà đến từ chính trải nghiệm sống và sự tỉnh thức ở nội tâm.”

          Đây là điểm rất thiền vị, là tinh thần của thiền:

           -Chân lý không nằm ở vị thầy.

          -Chân lý không nằm ở giáo lý.

          -mà chân lý nằm ở chính nội tâm của hành giả, của người đi tìm đạo.

Đây là chủ trương của triết lý thiền học:

“Giáo ngoại biệt truyền,
Bất lập văn tự,
Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật.”

Dịch nghĩa:

“Việc truyền bá (đạo lý),
Không lệ thuộc vào kinh điển,
Không dựa vào văn tự (kinh sách)
Đi thẳng vào lòng người,
Thấy được bản tánh mà thành Phật.”

Tiểu sử Hermann Hesse (July 1877 – Aug. 1962):


         Ông là nhà thơ, nhà văn viết tiểu thuyết gốc người Đức và Thuỵ sĩ. Ông đã được giải thưởng Nobel về văn chương năm 1946. Ông thích các tôn giáo, tinh thần và triết lý phương Đông.


         Ông đã viết các quyển tiểu thuyết nổi tiếng như Demian, Steppenwolf, Siddhartha, Narcissus and Goldmund, và Glass Bead Game.

            (Xem thêm chi tiết: nguồn Internet: Wikipedia: Hermann Hesse)
         
Tiểu sử hai chị em dịch giả:

              1.-Phùng Khánh: tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, sinh năm 1938 tại Huế; viên tịch năm 2003.
                    -1960: Cử nhân Anh văn, Đại Học Huế, dạy tại trường Trung Học Phan Chu Trinh, Đà Nẳng. Sau vài năm bà đi du học ở Hoa Kỳ.
                    -1964: Master ngành Quản thủ Thư Viện tại Đại học Princeton, Hoa Kỳ.
                    -1964: cũng trong năm này bà xuất gia, Pháp danh: Thích Nữ Trí Hải, tu tại chùa Phước Hải,  gần Chùa Pháp Hội và Việt Nam Quốc Tự ở trên đường Trần Quốc Toản Saigon; chùa này do Sư cô Thích Nữ Tịnh Nguyện làm trụ trì. Sư cô Tịnh nguyện tốt nghiệp Ban Việt Hán ngành huấn luyện GS đệ nhị cấp tại trường Đại Học Sư Phạm Saigon, 1965. Vào lúc ấy, Thích Nữ Trí Hải là một Ni Cô trẻ đẹp.

                     Phùng Khánh dịch nhiều tác phẩm về Phật học và triết học như: -Câu chuyện dòng sông của Hermann Hesse, Sống Thiền của Etgen Herrigel, Tạng thư sống chết của Soỳal Rinpoche v…v…

            [xem thêm chi tiết: nguồn internet:  Wikipedia: Thích Nữ Trí Hải]

           2.-Phùng Thăng: tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng, sinh năm 1943 tại Huế, viên tịch năm 1975.

                      -1966: Cử nhân triết học tại Đại học Văn Khoa Huế. Rồi dạy môn Triết học tại trường Trung học Trần Quý Cáp, Hội An.

             Bà đã có nhiều tác phẩm dịch chung với chị mình và cũng có những tác phẩm tự dịch một mình:

                      -Câu chuyện dòng sông (của Hermann Hesse dịch chung với Phùng Khánh).

                      -Buồn nôn (của Jean Paul Sartre).   v…v…

                  [Xem thêm chi tiết: nguồn Internet: “Như Không: về Nữ GS Triết, gốc Huế Phùng Thăng, em gái của Ni sư Thích Trí Hải”    posted by Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu]

             Cha của hai bà là Ông Nguyễn Phước Ưng Thiều.

Hai câu đối trước cổng trường Trung Học Petrus Ký

Năm 1951 Thầy Ưng Thiều, giáo sư Hán Văn tại trường Petrus Ký, đã viết hai câu đối trên như một lời nhắn nhủ đến các thế hệ học sinh của trường sau này. Ông Hiệu Trưởng Phạm Văn Còn liền cho khắc trước cổng hai câu đối đã đi vào ký ức của bao nhiêu thế hệ học sinh từ đó:

孔 孟 綱常 須 刻 骨

西歐 科學 要銘 心

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt (孔孟綱常須刻骨)

Tây Âu khoa học yếu minh tâm (西歐科學要銘心)

Giải thích:

              –Vế thứ nhất có nghĩa:

                            –Khổng Mạnh: Khổng Tử và Mạnh Tử là 2 vị Thầy, nói khác là 2 vị giáo chủ của Nho Giáo.

                            –Cương thường: là nền tảng đạo đức xã hội của Nho giáo, đó là mối quan hệ căn bản của xã hội Nho giáo: quân-thần, phụ-tử, phu-phụ; cùng với những phẩm chất đạo đức như nhân, nghĩa, lễ, trí và tín.

                            –Tu khắc cốt: việc tu dưỡng phải được khắc sâu vào xương (tuỷ), vào tâm trí của mọi người.

                        Nói rõ nghĩa, trong hệ thống đạo lý Nho giáo thì con người phải có đức hạnh và biết sống hài hoà với gia đình và xã hội.

                  –Vế thứ hai có nghĩa:

                            –Tây Âu: phương Tây.

                           –Khoa học: là kỹ thuật, phương pháp thực nghiệm, tư duy chính chắn, duy lý; đó là những yếu tố làm nên sức mạnh của văn minh Tây phương.

                          –Minh tâm: làm sáng tỏ khả năng nhận thức, lý luận, khai mở trí tuệ để giúp con người hiểu rỏ bản chất của thế giới và của chính mình.

                     Nói rõ nghĩa, khoa học Phương Tây giúp con người phát triển khả năng nhận thức, luôn đặt nghi vấn, luôn tìm kiếm chân lý qua những tư duy khách quan.

                    Một điều đáng lưu ý là hai câu đối trên có nội dung không nhằm ở chỗ đối chọi nhau mà bổ sung cho nhau, là một sự hoà hợp: con người lấy đạo đức làm nền tảng xã hội và lấy trí tuệ làm phương tiện để phát triển đạo đức.

                    Tất cả học sinh trường Petrus Ký đều lấy châm ngôn của 2 câu đối trên làm phương châm chẳng những lúc còn đi học mà cả khi ra trường nữa. Họ đã thành công và đóng góp vào xã hội Việt Nam và thế giới nhiều thành quả tốt đẹp.

                    Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chánh quyền mới đã đổi tên trường Petrus Ký thành trường Phổ thông Lê Hồng Phong; và đã đục bỏ hai câu đối trên ở trước cổng trường.

*                         *         

Điểm đáng lưu ý là văn học Phật giáo miền Nam đã được phát khởi: phong trào Phật học nổi lên khi “Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn” được thành lập tại chùa Pháp Hội ở Sài Gòn vào mùa Xuân 1964. Kế đến là Đại học Vạn Hạnh ra đời năm 1965, và sự ra đời của nhiều tạp chí Phật học như Từ Quang ở chùa Xá Lợi Sài Gòn, Vạn Hạnh, Liên Hoa, Bát Nhã v…v…

Biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra: miền Nam Việt Nam thua cuộc, miền Bắc thắng cuộc. Trước và sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, có rất nhiều đồng bào miền Nam bỏ nước ra đi bằng đường biển (gọi là thuyền nhân) hoặc bằng đường bộ (gọi là bộ nhân) để đến các nước Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Hồng Kông, Nhật Bản. Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 không bao lâu thì GS TS Lý Công Cẩn (Cựu Giáo sư Tiến sĩ Vật lý trường Đại Học Khoa Học Sài Gòn) đã tự lái chiếc du thuyền nhỏ vượt biển từ Rạch Giá đến Úc Châu; hoặc bằng đường bộ qua ngã Campuchia để tới Thái Lan; ở miền Bắc thì đi bằng đường bộ qua ngã Trung Hoa rồi đến trại tị nạn Hồng Kông. Từ các trại tị nạn người vượt biên lần lượt được các nước thứ ba nhận cho định cư như Hoa Kỳ, Gia Nã Đại, Pháp, Đức, Đan Mạch, Na uy v…v…; và Úc Châu.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chánh quyền VNCH ở miền Nam sụp đổ, chính quyền mới của phe Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN cho rằng sách báo miền Nam là “đồi truỵ” và “phản động”, nên họ ra lệnh tiêu huỷ các sách báo, tài liệu của chánh quyền VNCH chỉ trừ các sách về khoa học tự nhiên và y khoa như toán học, vật lý, vạn vật, sách y học thì còn được giữ lại.

Các sách về văn học hiện sinh, triết học Tây phương: Nietzche, Freud, Sartre, Camus …Các tác phẩm của Nhã Ca, Mai Thảo, Duyên Anh, GS Doãn Quốc Sỷ, Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền, GS Nguyên Sa … đều bị đốt. Một số người đem cất dấu, sau này họ đem ra bán ở các nhà bán sách cũ, khoảng năm 2021 một số sách cũ còn được đem ra bán đấu giá; tới khoảng thập niên 1990, qua thời đổi mới, một số sách được in lại và bày bán.

Trong lịch sử Trung Hoa, bạo chúa Tần Thuỷ Hoàng (259 trước CN – 210 trước CN) đã ra lệnh đốt sách và chôn các nhà Nho, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, việc đốt sách lại xảy ra ở miền Nam VN.

Các sách dịch tiểu thuyết của Mỹ, Pháp cũng bị tịch thâu và đốt.

Các kinh sách về tôn giáo như Phật giáo, Thiên Chúa giáo/ Công giáo đều bị tịch thâu và đốt. Nhiều Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử đã cất giấu các Kinh Sách … 

Các tạp chí: Sáng Tạo, Bách Khoa, Khởi Hành, Văn, Trình bày   v…v… cũng bị tịch thâu và đốt.

Nhiều người lén cất giấu các sách này để sau này đọc lại. Hàng triệu các cuốn sách bị tiêu huỷ, bị đốt hoặc bị đem đi nghiền nát để làm bột giấy.

Nhiều nhà văn bị đi tù cải tạo, một số may mắn vượt biên ra nước ngoài.

Các bãi đốt sách nổi tiếng ở Sài Gòn sau 1975 là:

       Trước “Thư Viện Quốc Gia” của VNCH nay là “Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp”.

       Trước “Nhà Hát Thành Phố” ở đường Lê Lợi.

       Sân “Trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn” nay là một phần của Đại Học KHXH & NV.

       Công Trường Mê Linh và bờ sông Sài Gòn.

Các nhà in, nhà xuất bản lớn ở Sài Gòn đều bị niêm phong, sách bị tịch thu và một số bị đem đốt: Khai Trí, Xuân Thu, Nam Cường, Tân Việt, Trí Đăng, An Tiêm, Yiểm Yiểm, Lá Bối (nổi tiếng với nhiều sách Phật học và văn hoá Đông Tây phương). v…v…

Các nhà sách Phật giáo, Công giáo, Tin Lành đều bị đóng cửa, nhiều sách tôn giáo bị tịch thâu đem đốt: nhà sách Đức Mẹ (Công giáo), nhà sách Lá Bối (Phật giáo).

Nói tóm, các Nhà Xuất Bản, “tiệm sách tư nhân” như nhà sách Khai Trí, nhà sách Xuân Thu v…v… đều bị tịch thâu, bị quốc hữu hoá. Nhà nước mới đã thành lập một hệ thống “quốc doanh” để in ấn và phát hành sách của XHCN. Văn hoá ở miền Nam bị tận diệt, tuy nhiên với thời gian và nhất là vào thời đổi mới vào cuối thập niên 1980 thì nền văn hoá miền Nam được phục hưng do chính các độc giả yêu mến và kính trọng nền văn hoá tuyệt vời của miền Nam: nhạc Boléro được nhiều người ưa chuộng và hát, nhiều sách, nhiều bản dịch được in lại.

Cuối thập niên 1980-1990, và khoảng 2000 – 2010 đã xuất hiện hoạt động mua bán “sách cũ miền Nam” , chợ sách cũ có những phiên đấu giá sách hiếm nhưng không chính thức, đã thu hút công chúng và người sưu tầm sách hiếm:    “ sách đã từng bị đốt, giờ đây được đem ra mua bán, đem ra đấu giá.”

Tới thời đổi mới, khoảng thập niên 1990, nhiều nxb ở hải ngoại in sách ở trong nước, và ngược lại ở trong nước nhiều nxb cũng đã in sách ở hải ngoại. Dần dần có nhiều tạp chí văn học nghệ thuật ở trong nước và ở hải ngoại đã đăng chung bài viết và sáng tác của người ở trong nước và của người ở ngoài nước.

Các tạp chí văn học lớn và nổi bật của miền Nam trước 1975:

1.- Tạp chí Bách Khoa (1957 – 1975) Chủ nhiệm, kiêm Chủ bút: Huỳnh văn Lang, đây là một tạp chí văn hoá, văn học, triết học có uy tín và ảnh hưởng nhất ở miền Nam. Trọng tâm viết về Phật giáo, Công giáo, triết học hiện sinh v…v…

2.- Tạp chí Văn (1964 – 1975), Chủ nhiệm là Nguyễn Đình Vượng, có nhiều tác phẩm mới của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Nhã ca, Phạm Thiên Thư ( với bài thơ nổi tiếng “Ngày Xưa Hoàng Thị”, nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ nhạc bài thơ này khoảng đầu thập niên 1970) v… v…

3.-Tạp chí Sáng Tạo (1956 – 1961) do Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền khởi xướng; đã tạo nên phong trào thơ tự do, văn học hiện sinh, giới thiệu tư tưởng Tây phương hiện đại. Đặc biệt Tô Thuỳ Yên đã cộng tác với tạp chí này.

4.-Tạp chí Trình Bày (1966 – 1975) do GS TS Nguyễn Văn Trung chủ trương, (ông là Cựu Khoa Trưởng trường Đại học Văn Khoa, Cựu Trưởng ban triết học Tây phương). Tạp chí này chuyên về triết học, chính trị, xã hội.

5.-Tạp chí Khởi Hành (1969 – 1975) do Viên Linh chủ trương; chuyên về văn học, nghệ thuật. Sau 30 tháng 4 năm 1975, Viên Linh tái bản tạp chí Khởi Hành ở hải ngoại.

   – Nhiều tờ báo nổi tiếng ở miền Nam trước 1975 cũng bị đóng cửa như: Chính Luận, Tự Do, Sài Gòn Mới, Sống Thần, Đại Dân Tộc v…v…

x

x                            x

Sau 1975, một số tạp chí văn học, chính trị được tái lập ở hải ngoại: Khởi Hành, Văn, Hợp Lưu (mới), Giao điểm (mới), Quê Mẹ v…v… tiếp tục mạch sống văn học miền Nam VNCH.

Thật ra, vào thời Trần (1225 -1400) văn học nước ta đã có 2 cuốn sách sử được viết tại hải ngoại: ở bên Trung Hoa.

                   “1.-Việt sử Lược:

                           Tác giả khuyết danh, sách còn có tên là Đại Việt Sử Lược, viết khoảng năm 1377-1388, viết bằng chữ Hán, ghi chép từ thời Triệu Đà đến Lý Chiêu Hoàng, viết theo lối biên niên, cuối sách có phụ lục niên hiệu các vua đời Trần, bản Hán văn được lưu trử bên Trung Hoa, còn lưu truyền đến nay.

                          Bộ sách Việt Sử Lược gồm có 3 tập:

                             Tập 1: từ thượng cổ đến nhà Tiền Lê (  -1009).

                             Tập 2: từ Lý Thái Tổ (1009-1028) đến Lý Nhân Tông (1072-1127).

                             Tập 3: từ Lý Thần Tông (1127 – 1138) đến Lý Huệ Tông (1211-1224).

Phụ bản (b): chép niên hiệu các vua nhà Trần.

                      Quyển Việt Sử Lược có hai dịch giả:

                                1.-do Trần Quốc Vượng dịch và chú giải, Hà Nội: nxb Khoa Học Xã Hội, 1983.

                                2.-do Nguyễn Gia Tuờng dịch, nxb TP HCM, 1993.

Chuyển sang ấn bản điện tử bởi Công Đệ và Lê Bắc, 2001.

                     2.- An Nam Chí Lược (Sơ lược về An Nam/ Việt Nam):

                          Tác giả là Lê Tắc (? – ?), đây là một tư sử tức là quyển sử do tự Lê Tắc viết mà không phải do lệnh của triều đình, tức là do các quan viết theo lệnh của triều đình gọi là chính sử, bộ sách sử này được viết bằng văn xuôi chữ Hán vào năm 1335 tại Trung Quốc (vào đời Trần ở Việt Nam, vào đời nguyên ở bên Tàu), nội dung sách ghi chép hỗn hợp về địa lý, lịch sử, văn hoá v…v.. của An Nam , viết từ thời bắt đầu đến cuối đời Trần, bộ sử này gồm có 20 quyển, nhưng quyển thứ 20 bị thất lạc, nay chỉ còn 19 quyển:

                           -Bản dịch tiếng Quốc ngữ do Ủy ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam, 1960.

 Lời giới thiệu của L.M Cao Văn Luận, Viện Trưởng Viện Đại Học Huế. 22 tháng 4 năm 1960. Nxb: Viện Đại Học Huế, 1961.

Chuyển sang ấn bản điện tử bởi: Công Dệ, Doãn Vượng, Lê Bắc, 2001.

            (Nguồn Internet: Viện Việt Học Website đăng lại.)

            Hiện nay ở Việt Nam đã có bản dịch mới, được hiệu đính và chú thích, đã xuất bản gồm cả phần chữ Hán và chữ Quốc ngữ.”

    [Nguồn: Nguyễn Vĩnh Thượng, Tư tưởng Phật giáo trong Văn học thời Trần, Toronto: LuLu Press, 2021, tr. 74 – 75]

  Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một số người Việt được may mắn đã dến Hoa kỳ ngay sau đó. Nên đầu tháng 5 năm 1975, họ cho ra đời tờ Chân Trời Mới  ở đảo Guam, rồi tại trại Pendleton, ở California. Ở Úc châu có tờ Người Việt Tự Do ra số đầu vào ngày 1 tháng 11 năm 1975. Rồi ở Nhật: Người Việt Tự Do. Ở Pháp: Phục Quốc, Quê Mẹ của Võ Văn Ái đã có trước 1975. Ở California có tờ Trắng Đen. Ở Virginia có tờ Việt Báo.

                           Giai phẩm “Lửa Việt Xuân Bính Thìn”, tháng 1 năm 1976.

[Nguồn Internet: Người Việt News: Làm báo Tết con rồng đầu tiên trên xứ người.   Posted on Jan. 25, 2012]

           Hình bìa màu giai phẩm “Lửa Việt Xuân Bính Thìn”, tháng 1 năm 1976  do Lê Văn Khoa cung cấp., GS Nguyễn Ngọc Bích chủ trương, Viên Linh thực hiện, đây là tờ báo xuân đầu tiên của người Việt tị nạn trên đất Hoa Kỳ.

    Cố GS Nguyễn Ngọc Bích viết lời Phi Lộ trên Giai phẩm xuân tha hương:

                “Tập báo này đến trong tay quí bạn có thể với một cái nhói trong tim. Tết tha hương đầu của số lớn chúng ta, làm sao khỏi chút ngậm ngùi, nhung nhớ? Đây là một tựu điểm mà chúng tôi mường tượng và mong đạt thành khi đặt chân lên đất Mỹ. Một ao ước thành sự thật, chứng tỏ chúng ta không chỉ có biết nhìn xuống . . .Một bông hồng phải được đem tặng cho anh Viên Linh đã thức khuya dậy sớm, mặc dầu óm o gầy gò, đã quyết thực hiện cho xong số báo này. Làm việc như anh, không trách anh được lòng mọi người.”

                                                    (Xuân tha hương, tr. 1)

[Source: A Bibliography of Overseas Vietnamese Periodicals and Newspapers, Nguyễn Hùng Cường, Indochina Resource Action Center, Washingto, D.C.,1985]

          Giai phẩm xuân là một nét đặc thù của Văn học Việt Nam. Giai   phẩm này có ít thông tin, nhiều sáng tác và biên khảo với những nhà văn nổi tiếng như : Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đổ, Viên Linh, Võ Phiến, Nguyễn Đức Nam, Kim Y Phạm Lệ Oanh, Huyền Vũ, Trần Phong Vũ, Phạm Duy, Lê Văn Khoa, Nguyễn Ngọc Bích và Hùng Cường.

          Tháng 12 năm 1975, GS Nguyễn Ngọc Bích, Cựu Giám Đốc Thông Tin Quốc Ngoại của chính phủ VNCH ở Washington, DC.đã nhờ nhà thơ, nhà văn Viên Linh, tên thật là Nguyễn Nam Anh, thực hiện tờ Giai Phẩm “Lửa Việt Xuân Bính Thìn”, vào tháng 1 năm 1976 cho tổ chức “The National Center for Vietnamese Resettlement” (Trung tâm Phối hợp định cư Việt Kiều). Đây là tờ báo xuân đầu tiên của người Việt tị nạn ở miền Đông Bắc xứ Hoa Kỳ. Trong tháng 1 năm 1976 , đã có một số báo xuất bản như: Văn Nghệ Tiền Phong (Arlington, Virginia), Ánh Đạo Vàng (Washington, DC.), Khuông Việt (Tokyo, Nhật Bản), Hồn Việt (Glenda, California).

             Sau Tết ,và nội trong năm 1976, còn có nhiều tờ báo được xuất bản như: Đuốc Tuệ (California), Đuốc Tuệ (Washington DC.) là tiền thân của tờ Nguồn Đạo đặt trụ sở tại chùa Giác Hoàng ở Washington DC, Dòng Lửa Việt, Mê Linh v…v…

 Sau khi định cư ở nước thứ ba, người Việt tị nạn bắt đầu có đời sống ổn định, họ đã có việc làm mưu sanh nên họ  bắt đầu viết lách, có những sanh hoạt văn hoá: nhiều tạp chí, nguyệt san, đặc san ra đời với giá bán phải chăng. Có những tờ tuần báo chỉ để phát không ở các chợ, các siêu thị, các văn phòng dịch vụ . . . với mục đích chính là lấy tiền quảng cáo nên nhiều người còn gọi là “báo chợ”. 

Rất nhiều sách xuất bản ở miền Nam trước 1975 đã bị chánh quyền mới đốt sạch, nay đã được nhiều nhà xuất bản ở Hoa Kỳ in lại như nxb Đại Nam, nxb Xuân Thu .v…v. có những nxb mới thành lập để xuất bản các sách mới viết tại hải ngoại như nxb Văn Nghệ của Thầy Từ Mẫn, trước đây Thầy đã quản trị nxb Lá Bối ở Sài Gòn; đã xuất bản “Lý Luận và Phê Bình: Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước ( 1975 – 1995)” của Bùi Vĩnh Phúc; “Văn học miền Nam” (gồm 7 tập) của Võ Phiến v…v…; và phát hành “ Tư tưởng Phật giáo trong văn học thời Lý” của Nguyễn Vĩnh Thượng v…v…; nxb Tiếng Quê Hương đã in “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên v…v…, ở Canada có nxb Làng Văn của Nguyên Hương và Nguyễn Hữu Nghĩa .Phật Học Viện Quốc Tế ở Cali, Hoa Kỳ do H.T. Thích Đức Niệm làm Viện Trưởng, đã in lại tất cả các Kinh, Luật, Luận, các sách khảo luận về Phật học đã in trước 1975. Rồi Phật Học Viện phát hành các Kinh Sách đã in đến các chùa chiền ở hải ngoại. Nơi đây còn xuất bản và phổ biến nhiều tác phẩm được sáng tác tại Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức v…v…; và còn xuất bản nguyệt san để phổ cập tin tức Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại, nguyệt san còn đăng các sáng tác văn học Phật giáo của Tăng Ni, Cư sĩ và Phật tử.

Phần lớn các bài viết trên các báo chí hải ngoại đều không có tiền nhuận bút chỉ trừ các tác giả nổi tiếng có nhiều độc giả thì mới đòi hỏi tiền nhuận bút được. 

Ở hải ngoại, cho tới khoảng năm 1980, báo chí sách vở được phát hành nhiều. Nội dung các bài viết thường là vấn đề tị nạn, lưu vong, hồi ký, bảo lãnh, đoàn tụ, diện HO của các cựu sĩ quan VNCH đã “bị đi tù cải tạo”, diện du học sinh, diện du lịch, những trải nghiệm thống khổ dưới chế độ XHCN ở miền Nam Việt Nam.

Sau đó, thế hệ thứ hai và thứ ba lần lần hội nhập văn hoá mới nơi mình định cư như Hoa Kỳ, Gia-nã-đại, Pháp, Đức, Anh, Na-Uy, Hoà Lan, Đan Mạch, Thuỵ Sỹ, Ý, v… v… có những sáng tác bằng tiếng Anh, tiếng Pháp được xuất bản. Ví dụ: Barbara Tran với quyển “In the Mynah Bird’s own Words”; Monique Truong với quyển “The Book of Salt”, 2003.

Báo chí người Việt ở Canada:

Chúng ta phân ra làm 2 giai đoạn nhỏ:

                –Giai đoạn 1975 – 1979:

                        Một nhóm nhà văn ở Montréal, Canada, ra tờ Chân Trời Mới rồi sau đó đổi tên là Dân Quyền vào đầu tháng 2 năm 1976 với sự cộng tác của các nhà văn: Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Ngọc Ngạn, Võ Kỳ Điền v…v…;  rồi vào tháng 3 năm 1976 ở Montréal có tờ Dân Tộc.

                       Năm 1976, Hội Y Sĩ Việt Nam ở Canada ra tờ Tập San Y Sĩ ở Montréal. 

                      Tháng 8 năm 1979, tờ Niềm Tin ra đời, đây là tờ báo song ngữ Pháp-Việt của cộng đồng Công Giáo VN ở Montréal.

                     Sau đó có tờ Phục Vụ của Hội Thánh Tin Lành Montréal.

                    Tiếp theo là tờ Thuyền Tôn của cộng đồng Phật giáo ở Montréal.

                    Tháng 3 năm 1976 có tờ Lửa Thiêng ra đời.

                    Tờ Đặc san Đất Lạnh (Terre Froide) đã do Hội Việt Kiều Québec xuất bản từ 1960.

                    –Giai đoạn 1980 – 1988:

                           Đặc san Vượt Biển ra đời ở Montréal từ 1980. Sau tháng 2 năm 1988 đổi là Nắng Mới.

                          Năm 1981, tại Toronto, Nguyệt san Lửa Việt do Bùi Bảo Sơn làm chủ nhiệm. Cần phân biệt tờ này với Giai phẩm Lửa Việt Xuân Bính Thìn, ở Hoa Kỳ ra vào tháng 1 năm 1976.

                          Tháng 6 năm 1982, Nguyệt san Sóng do Nguyễn Tăng Chương, cựu GS môn Việt Văn ở trường Petrus Trương Vĩnh Ký, thành lập tại Toronto.

                           Tháng 9 năm 1984, Nguyệt san Làng Văn ra đời, do Nguyên Hương và Nguyễn Hữu Nghĩa làm chủ nhiệm và chủ bút, sau đó họ lập nhà xuất bản Làng Văn. Đã xuất bản sách của Nguyên Phong, ông đã trở thành dịch giả các sách Phật học nổi tiếng ; sách của nhà văn lão thành Lê khắc Ngọc Quỳnh, bà là cựu GS môn Việt văn tại trường Nữ Trung Học Trưng Vương ở Saigon, qua Canada bà làm Công Chức ngành xã hội; sách của GS Lê Hữu Mục, Cựu Giáo Sư môn Hán Văn ở Đại Học Sư Phạm Saigon; sách của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn, có lúc tác giả và nxb kiện nhau về tiền tác quyền, sau này ông trở thành MC nổi tiếng và là cột trụ cho Trung Tâm Nhạc Thuý Nga Paris. V…V…

                           Tháng 9 năm 1984, tờ nguyệt san Phổ Thông do Nguyễn Văn Tiết, Cựu Dân Biễu VNCH tại tỉnh Long An, làm chủ nhiệm. Chủ bút là Nguyễn Thế Vĩnh rồi sau đó là Nguyễn Thính. Ông Lữ Thế Minh phụ trách  quảng cáo, đây là mạch sống của tờ báo. Đặc biệt mỗi số đều có bài tham luận chính trị quốc tế và quốc nội của GS TS Nguyễn Ngọc Huy, GS gởi bài từ Hoa Kỳ. Thiền sư Nhơn Minh Mai Hiền Lương chuyên viết bài bình giảng các nhân vật trong các tác phẩm kiếm hiệp của Kim Dung. Thí dụ như nhân vật Lệnh Hồ Xung trong cuốn Tiếu Ngạo Giang Hồ.

                          Năm 1987, tờ Phổ Thông đình bản. Rồi sau đó, năm 1988, Nguyễn Văn Tiết ra tờ tạp chí Kinh Doanh có 3 chủ bút: – Chính trị: Nguyễn Long Ân, Kinh tế: Nguyễn Bá Lộc, Tài chánh: Phạm Vi Cần. Tờ này ra được mấy số thì đình bản.

                         Vào cuối thập niên 1970, Hội Ái Hữu Việt Kiều ở Toronto có ra Nguyệt san Bạn Việt.

Từ năm 1982, Liên Hội Người Việt ở Ottawa đã ra Đặc san Liên Hội.

Thêm vào đó, còn có nhiều tờ báo khác như : Quốc Gia, Thép Súng, Hành Trình, Góp Gió, Tuổi trẻ, Ngàn Thông v…v…

 Sau năm 1989, Liên bang Sô-viết tan rả, bức tường Bá Linh sụp đổ thì có các tờ: Trăm Con ra năm 1992 ở Toronto, Truyền Thông, Đi Tới ra đời.

Năm 1998 ở Vancouver có tờ Người Việt Hải Ngoại v…v…

Tại Toronto, có tờ Khai Thác Thị Trường và Đối Lực do TS Nguyễn Bá Long làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.

Báo Chợ: là tờ báo phát hành miễn phí, sống bằng tiền quảng cáo, trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại: tại Hoa Kỳ, Canada… Báo được phân phối tại các siêu thị, cửa hàng, văn phòng dịch vụ, phòng mạch Bác sĩ, Nha sĩ v…v..; nơi nào có đăng quảng cáo trên báo.

          Nội dung chính của tờ báo gồm:

– Tin tức cộng đồng: Canada, Hoa Kỳ, Việt Nam, thế gìới.

– Sinh hoạt các hội đoàn, cộng đồng tôn giáo: Phật giáo, Công giáo.

Quảng cáo: đây là nguồn thu nhập chính của tờ báo: các siêu thị, tiệm ăn, các văn phòng dịch vụ: BS, NS, Luật sư, Điạ ốc, tiệm Nail v…v.., rao vặt: việc làm, mua bán, tìm bạn, v… v…

– Sau này có phát triển thêm: đăng các truyện ngắn, truyện dài, truyện dịch, thơ v…v…

Vài tờ báo chợ ở Toronto:

– Lúc đầu có tờ Saigon Nhỏ do Hoàng Dược Thảo thành lập vào năm 1985 tại Westminter, California, Hoa Kỳ. Đây là tờ báo chợ ở Hoa Kỳ được chở bằng phi cơ sang Toronto vào mỗi tuần.

– Năm 1986, tờ Thời Báo ra đời, tờ Saigon Nhỏ ngưng chuyển qua Toronto.  Thời Báo là tờ báo chợ đầu tiên ở Canada, hiện nay vẫn còn sống, đây là “tờ báo chợ Việt ngữ” sống lâu đời nhất ở Toronto, Canada. Từ 1990, Thời Báo còn phát hành ở Montréal, Vancouver, báo thâu thêm quảng cáo ở các nơi này. Từ 2005, Thời Báo online xuất hiện trên Internet.

Saigon Canada ra đời năm 1990 ở Toronto, hiện nay đã đình bản.

– Năm 2002, Thời Mới do Hoàng Như Đạt làm chủ nhiệm ra đời, hiện nay là báo điện tử.

Tự Do do Nguyên Nghĩa làm chủ nhiệm kiêm chủ bút; hiện tờ báo này đình bản, v…v…

Tương lai văn học Việt Nam hải ngoại đã và sẽ dần dần suy giảm về nhân sự: tác giả và độc giả. Tình cảnh cũng như cảm nhận của họ đã thay đổi và biến hoá theo thời gian.

x

x                                      x              

          Song song với việc phát triển văn học Việt Nam ở hải ngoại, văn học Phật giáo Việt nam ở hải ngoại cũng phát triển. Tăng Ni, Cư sĩ và Phật tử cùng nhau thiết lập “Niệm Phật Đường”, “Chùa Chiền”. Nơi đây có in ấn những bản tin, nguyệt san Phật giáo và những đặc san trong các ngày lễ lớn như: Tết Nguyên Đán, ngày Phật Đản, ngày Vu lan v…v…

         Văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại trong mấy mươi năm qua đã phát triển trong các lãnh vực sáng tác, dịch thuật, in kinh sách, in đặc san. Từ khi xuất hiện các trang mạng toàn cầu ở các Chùa lớn, ở các Hội đoàn Phật giáo, ở các nhà thành lập trang mạng toàn cầu thì văn học Phật giáo càng phát triển mạnh thêm:

1.- Trong lãnh vực sáng tác: các Tăng Ni, Cư sĩ và Phật tử đã sáng tác rất nhiều thể loại:

  –Thơ: nhiều nhà thơ đã thành danh trước 1975 ở miền Nam Việt Nam, và khi ra hải ngoại họ vẫn còn tiếp tục sáng tác: Thiền sư Nhất Hạnh (Cựu Giáo sư Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn), Huyền Không/ Thích Mãn Giác, Viên Linh, Đỗ Tú toàn v…v… Nhiều nhà thơ mới sáng tác khi ra nước ngoài như H.T. Thích Tâm Châu, H.T. Thích Giác Nhiên v…v…

Truyện dài, truyện ngắn: Viên Linh, Trần Trung Đạo, Vĩnh Hảo, Cao Ngọc Phượng/ Chơn Không (Cựu Giáo sư Sinh Vật tại Đại Học Khoa Học Sài Gòn), Nguyễn Mộng Giác, Huỳnh Trung Chánh v…v…

     –Bút Ký: Nhật ký của Cố H.T. Thích Đức Niệm được các đệ tử cho in thành sách sau khi Thầy viên tịch.

2.- a) Trong lãnh vực biên khảo, nghị luận:  có nhiều Tăng Ni, Cư sĩ và Phật tử đã nỗ lực biên khảo các luận đề Phật học như H.T. Thích Mãn Giác (Cựu Giáo sư Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn, Cựu Giáo sư trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn), Thiền sư Nhất Hạnh, H.T. Thích Như Điển, Nghiêm Xuân Hồng, Trần Quang Thuận (Cựu Bộ trưởng Xã hội trong Chánh phủ VNCH, Cựu Thượng Nghị Sĩ trong Thượng Viện VNCH) , Lý Khôi Việt, Huỳnh Kim Quang, Bùi Ngọc Đường, Tâm Minh Ngô Tằng Giao, Huỳnh Ái Tông, Nguyễn Vĩnh Thượng v…v…

        b) Phê phán, luận chiến các vi phạm gìới luật ở cửa thiền: Đặng Văn Nhâm.

3.-Trong lãnh vực dịch thuật: phần lớn các bản dịch đều lấy từ các tác phẩm Phật giáo viết bằng tiếng Anh, hoặc tiếng Pháp. Các sách dịch được tập trung vào các đề tài: triết học Phật giáo tổng quát, Phật giáo Tây Tạng, Thiền, Phật giáo và khoa học. Các dịch giả như Trí Hải, Nguyên Phong v…v…

        Có những tác phẩm được dịch ngược lại từ tiếng Việt sang tiếng Anh như các tác phẩm của: Thiền Sư Nhất Hạnh, H.T Huyền Không, Cư sĩ Nguyên Giác Phan Tấn Hải v…v…

4.-Trong lãnh vực báo chí có nhiều tờ phải đình bản vì thiếu tiền trợ duyên. Tuy nhiên cũng có vài tờ có tuổi thọ cao như “Phật giáo Việt Nam”, “ Giao Điểm”, “Quê Mẹ” v…v…

5.- Trong lãnh vực các trang mạng điện toán: Đây là một lãnh vực mới phát triển trong văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại, và ở quốc nội nữa. Các kinh điển Phật giáo bằng chữ Quốc ngữ đã được đăng trên các trang web Phật học ở hải ngoại và ở trong nước:

– “Thư Viện Hoa Sen” do Cư sĩ Tâm Diệu làm Trưởng Ban Biên Tập ở Hoa Kỳ.

  – “Hoa Vô Ưu” do Tỳ-Kheo Thích Hạnh Tuệ làm Tổng Biên Tập ở Hoa Kỳ.

 – Ban Phiên Dịch Việt Ngữ của Vạn Phật Thánh Thành do Cố Đại sư Trung quốc Tuyên Hoá thành lập ở Hoa Kỳ.                     

 – “Trang nhà Quảng Đức” do H.T. Thích Nguyên Tạng làm Trưởng Ban Biên Tập ở Úc Châu.

         – “Chùa A-di-đà” do H.T. Thích Nguyên Trực làm Trưởng Ban Biên Tập ở Úc Châu. v…v…

Ở Việt Nam, có Rộng mở Tâm Hồn do Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến làm chủ biên; Đạo Phật Ngày Nay, Giác Ngộ v…v…

Văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại phát triển mạnh nhất là trong giai đoạn từ cuối thập niên 1970 đến cuối thập niên 1990. Nhưng sau năm 2000 thì văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại bắt đầu suy yếu về lượng cũng như về phẩm. Tình trạng này tương tự với tình trạng văn học Việt Nam tại hải ngoại.

Chúng ta nhận thấy rằng hầu hết các tác giả đã đóng góp cho nền văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại đều là thế hệ thứ nhất của người tị nạn đã được định cư ở các nước thứ ba. Đây là những vị đã hấp thụ nền văn hoá và giáo dục VNCH trước khi định cư ở nước ngoài. Các tác giả sinh ra và lớn lên ở hải ngoại rất ít thấy sáng tác văn học Phật giáo. Điều này hơi khác với nền văn học Việt Nam hải ngoại: chúng ta thấy có sự xuất hiện của nhiều tác giả thuộc thế hệ thứ ba, họ thường sử dụng ngôn ngữ Anh, Pháp v…v…

Trong thực tế, việc sáng tác đối với các Cư sĩ, Phật tử là việc phụ, họ còn phải làm việc khác để mưu sinh nên họ chỉ viết lách cho các tạp chí Phật giáo, các nguyệt san, các đặc san Phật giáo  do thiện nguyện, họ không nhận tiền nhuận bút. Các kinh sách Phật giáo được in ra và bán với số lượng khiêm tốn, không đủ tiền in, phần lớn các kinh sách đều được tặng không tức là để ấn tống.

Tóm lại, văn học Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại đã có nhiều phát triển vào lúc đầu, nhưng có lẽ vì thiếu nhân sự như các Tăng Ni trẻ, Cư sỉ trẻ và Phật tử trẻ đóng góp trong việc sáng tác nên hiện nay văn học Phật giáo hải ngoại có phần suy giảm. Hy vọng trong tương lai khi vấn đề nhân sự được phát triển thì nền văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại sẽ được phát triển trở lại.

II.- Nhà văn, Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh trong dòng văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại

Huỳnh Trung Chánh đã định cư ở Hoa Kỳ khoảng năm 1977. Cũng như tất cả các người Việt tị nạn, ông đã đi làm để mưu sinh. Ngoài ra ông đã dành thì giờ để viết các truyện ngắn, gởi bài đăng nơi các đặc san, các nguyệt san của nhà chùa, và các trang mạng Phật giáo. Sau đó, tác giả kết hợp các truyện ngắn lại thành 9 tập truyện ngắn và gởi đến các nhà xuất bản để in ấn, hoặc có cuốn truyện ngắn “Cảm Niệm Về Mẹ” được làm ebook, posted bởi Website Thư Viện Hoa Sen.

Sau đây chúng tôi sẽ trình bày:

                   A.- Tiểu sử nhà văn, cư sĩ Huỳnh Trung Chánh.

                   B.- Tóm tắt nội dung chính của các tập truyện ngắn của ông.

A.- Tiểu sử:

      Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, tự hiệu là Hư Thân, sanh năm 1939 tại Trà Vinh, quê nội của ông. Suốt quảng đời niên thiếu ông sống nơi quê ngoại tại quận Cao Lãnh, tỉnh Sa-Đéc, Nam Việt Nam. Ông có Pháp danh là Thiện Tâm do Hoà Thượng Thích Tắc Thuận trụ trì chùa Linh Sơn ở Sài Gòn đặt, khi ấy ông được 18 tuổi.

–   Tốt nghiệp Cử nhân Luật Khoa (1961), Đại Học Luật Khoa Sài Gòn.

–   Tốt nghiệp Cử nhân Phật Học (1967), Phân Khoa Phật Học và Triết Học Đông Phương, Viện Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn.

Là một công chức dưới thời Việt Nam Cộng Hoà, ông đã nổi tiếng thanh liêm, chánh trực và hết lòng dấn thân để phục vụ đại đa số dân chúng Việt Nam theo hạnh Bồ Tát của Phật giáo. Ông đã đóng góp vào việc hoằng pháp tại các Tỉnh Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại An Giang và Kiên Giang trong thời gian ông làm việc tại hai tỉnh này từ năm 1965 đến 1975.  Ông đã từng giữ các chức vụ sau đây:

–   Lục sự tại Toà án Sài Gòn và Long An (1960 – 1962).

–   Chuyên viên nghiên cứu tại Phủ Tổng Thống (1962 – 1964).

–   Thanh Tra Lao Động tại Bộ Lao Động (1964 – 1965).

–   Dự Thẩm tại Toà Sơ Thẩm An Giang (1965 – 1966).

–  Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang (1966 – 1969) và Toà án Long An (1969 – 1971).

–   Dân Biểu Quốc Hội VNCH tại Thị Xả Rạch Giá (1971 – 1975).

–   Luật Sư tại Toà Thượng Thẩm Sài Gòn (1971 – 1975).

–   Ông định cư tại California, Hoa Kỳ từ khoảng năm 1977.

–   Từ đầu thập niên 1950, khi hãy còn là một học sinh trung học, ông đã sáng tác nhiều bài thơ, và tự đánh máy để tặng các thân hữu. Ông bắt đầu sáng tác các truyện ngắn trong thời gian làm Chánh Án tại Toà Sơ Thẩm Kiên Giang.

Tại hải ngoại, ông tiếp tục sáng tác. Các truyện ngắn của ông đặc biệt viết cho Tạp Chí  Phật Giáo Hải Ngoại (PGHN), và cho các Đặc San của các Chùa Phật Giáo ở Hoa Kỳ, Canada, Pháp, Đức, Úc v…v… Hoà Thượng Thích Đức Niệm là Chủ Nhiệm của Tạp Chí PGHN, chủ bút là Quảng Thành. Hoà Thượng Thích Đức Niệm đã thành lập PHẬT HỌC VIỆN QUỐC TẾ (PHVQT) ở California, Hoa Kỳ, và làm Viện Trưởng PHVQT cho đến khi Ngài viên tịch. Nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh là bạn đồng môn với Hoà Thượng Đức Niệm khi còn theo học Phật học tại Viện Cao Đẳng Phật Học Sài Gòn (1964), Hoà Thượng Đức Niệm là một vị tăng có đạo cao, đức trọng, nên nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh đã tôn vinh vị Cao Tăng này như là một bậc Thầy, cuộc sống của vị Cao Tăng là ngọn đuốc tuệ cho nhà văn trên bước đường tu học. Nơi trang đầu của tập truyện ngắn Mộng và Thực, xuất bản năm 2009, Huỳnh trung Chánh đã viết:  

      “Kính dâng Hoà Thượng Đức Niệm, vị Thầy đã khuyến khích và nâng đở con trên con đường tu học và viết truyện đạo.”

 Huỳnh trung Chánh sống cuộc đời của người Cư sĩ Phật giáo, ăn chay trường, mỗi ngày tụng ba thời kinh Phật, lấy việc tu học hằng ngày làm niềm an lạc. Các truyện ngắn của ông đều chuyên chở giáo lý của nhà Phật; văn phong của ông rất bình dị nên dễ đi vào lòng người đọc; bởi thế nên dù là Phật tử hay không là Phật tử, ai ai cũng đều thích đọc các truyện ngắn của ông. Văn phong của ông có nhiều đặc trưng của nền văn học của miền đất phương Nam. Có thể nói ông là một trong những nhà văn miền Nam của dòng văn học hải ngoại.

Các tập truyện ngắn đã xuất bản:

Trở Về, NXB Nguồn sống, California, USA, 1988; Chùa Viên Giác, Hannover, Đức quốc, tái bản.

Vết Nhạn Lưng Trời, NXB Phật Học Viện Quốc Tế (PHVQT), California, USA, 1990; Chùa Viên Giác, Hannover, Đức quốc, tái bản; NXB Phương Đông, Sài Gòn , tái bản 2010.

Cửa Thiền Dính Bụi, NXB PHVQT, Cali, USA, 1991; Chùa Viên Giác, Hannover, Đức quốc, tái bản; NXB Phương Đông, Sài Gòn, tái bản 2010.

Như Thế Mà Trôi, NXB PHVQT, Cali, USA, 1994; Chùa Viên Giác, Hannover, Đức quốc, tái bản.

Con Đường Vô Tận, NXB PHVQT, Cali, USA, 1998; Chùa Viên Giác, Hannover, Đức quốc, tái bản; NXB Phương Đông, Sài Gòn, tái bản 2010.

Mẹ Quan Âm Cữu Long, NXB PHVQT, Cali, USA,2001; Chùa Viên Giác,

Hannover, Đức quốc, tái bản; NXB Phương Đông, Sài Gòn, tái bản 2010.

Mộng hay Thực, NXB Phương Đông, Sài Gòn, 2009.

Cảm niệm về Mẹ, Ebook, posted by Thư Viện Hoa Sen, 2010.

Am Mây Ngàn, NXB Phương Đông, Sài Gòn, 2012.

Ông qua đời vào ngày 21 tháng 08 năm 2016 tại Nam California, Hoa Kỳ, hưởng thọ được 77 tuổi. Tang lể được tổ chức trang nghiêm tại Nam California, Hoa Kỳ với sự tham dự đông đảo của các thân hữu xa gần. 

   (Trích: Lời giới thiệu Nhà văn, cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, bài của NVT – Nguồn internet: Thư Viện Hoa Sen, Trang nhà Quảng Đức, Hoa Vô Ưu, An Phong An Bình, 2014 & 2025)

B.- Tóm tắt nội dung các tác phẩm của nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh:

Các tập truyện ngắn của ông được viết theo một định hướng do chính ông vạch ra:

Với tôi, viết truyện đạo là một phương cách biểu lộ niềm tin sâu xa vào Phật Pháp, vừa có cơ hội nhìn lại chính mình để tu dưỡng thân tâm.”

                                (Con đường vô tận, tr. 11)

đạo ở đây là đạo Phật/ Phật giáo. Ngày xưa, các nhà Nho viết truyện cũng để chuyên chở cái đạo: “Văn dĩ tải đạo”, đạo ở đây là đạo Nho/ Nho giáo.

 “Thật vậy, các truyện ngắn của ông đều chuyên chở giáo lý của nhà Phật; văn phong của ông rất bình dị nên dễ đi vào lòng người đọc; bởi thế nên dù là Phật tử hay không là Phật tử, ai ai cũng đều thích đọc các truyện ngắn của ông. Văn phong của Huỳnh Trung Chánh có nhiều đặc trưng của nền văn học của miền đất phương Nam. Có thể nói ông là một trong những nhà văn miền Nam của dòng văn học hải ngoại.”


  (trích: Lời giới thiệu nhà văn, cư sĩ Huỳnh Trung Chánh, bài của NVT

       Posted by Thư Viện Hoa Sen, Trang nhà Quảng Dức, An Phong An Binh)

         Nhà văn Huỳnh Trung Chánh đã kết hợp các truyện ngắn mà ông đã viết thành 9 cuốn truyện ngắn để cống hiến độc giả Phật tử ở hải ngoại và ở trong nước nữa.

         Ông giúp độc giả hiểu và cảm nhận Phật Pháp bằng cách đưa Phật thuyết trở về đời sống thường ngày: có những việc đáng noi theo, có những sai quấy cần sửa đổi ngay cả trong đời sống tu hành. Tất cả sẽ trở về với Chánh Pháp, với những giá trị tâm linh và nhân bản của đạo Phật. Ông trình bày các tình huống sai trái mà không lên giọng dạy đời, không đưa ra phê bình gắt gao mà chỉ để độc giả đối thoại với chính độc giả, và độc giả đối thoại với chính tác giả.

         Văn của ông nhẹ nhàng, trong sáng, dễ hiểu. Cái “tinh thần Nam Việt” thể hiện trong từng câu viết, qua cách đối thoại của nhân vật trong truyện. Ông gợi ý về ý niệm vô thường, về đời người trải qua các giai đoạn: “Sanh-Lão-Bệnh- Tử”, về những khổ đau của cuộc đời, về lòng từ bi, về lòng buông xả. Ở đây chúng ta nhận thấy có sự giao thoa giữa văn chươngthiền vị.

         Trong nhiều truyện ngắn, ông gợi nhớ lại quê hương, những kỷ niệm của thời thơ ấu ở quê nhà, tình bạn, tình mẫu tử, một tâm trạng của người Việt lưu vong nơi đất khách.

          Đôi khi Huỳnh Trung Chánh mượn hình ảnh “Vết nhạn lưng trời” để ẩn dụ đàn chim bay qua bầu trời và không còn để lại dấu vết gì, ở đây chứng tỏ sự phù du của cuộc đời, mọi hiện hữu chỉ là do duyên khởi, không bền lâu, vô thường. Trước sự vô thường trong kiếp người, chúng ta phải thanh thản trước những biến động của cuộc đời, chúng ta cần buông xả mọi vướng mắc để giải thoát. Tất cả mọi vật, mọi sự gì ở trong cuộc đời rồi sẽ qua đi như “vết nhạn”, như “áng mây” trong không trung.

   Trong 9 cuốn truyện ngắn, có 3 cuốn nổi bật nhất là:”Cảm niệm về Mẹ”, “Cửa thiền dính bụi” , “Vết nhạn lưng trời”:

             1.- “Cảm niệm về Mẹ”:

                            Đây là một ebook đã được posted bởi Thư Viện Hoa Sen vào năm 2010.
                            Các truyện ngắn trong cuốn “Cảm Niệm về Mẹ” đã ghi lại những kỷ niệm với Mẹ, lòng thành kính, lòng biết ơn sâu sắc đối với Mẹ.

                            Tình Mẹ là một tình cảm thiêng liêng và bao la, tình thương dịu hiền của Mẹ lúc nào cũng dạt dào nơi tâm hồn của mọi người.

                           Bài văn, bài thơ, bài ca nào nói về tình mẹ cũng làm rung động tâm hồn chúng ta:

                           “Công cha như núi Thái Sơn,
                           Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
                           Một lòng thờ mẹ kính cha,
                           Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”/(Ca dao)

Một Y Vân (1933-1992) với bài “Lòng Mẹ”, là một bài hát ca ngợi tình mẹ thiêng liêng nhất, xúc động nhất:

                       “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào
                        Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào.

                     . . . . . . . . . . .   . . .  . . …  ..  ……………….”

       Một Thanh Tịnh (1911 – 1988): đã ghi lại kỷ niệm được mẹ âu yếm dẫn đến trường ngày đầu tiên đi học trong truyện ngắn “Tôi đi học” ở tập truyện Quê Mẹ:

              “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

                […..]

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.”

           Một Xuân Tâm (1916- 2012) với bài “Mất Mẹ” trong tập thơ “Lời tim non”:

              “Năm xưa tôi còn bé,
                 Mẹ tôi đã qua đời.
                 Lần đầu tiên tôi hiểu,
                Thân phận trẻ mồ côi.

                   [ … ]

                 Hoàng hôn phủ trên mộ,
                 Chuông Chùa nhẹ rơi rơi,
                 Tôi biết tôi mất Mẹ,
                 Là mất cả bầu trời.”

          Bài thơ “Mất Mẹ” của Xuân Tâm đã được Thiền Sư Nhất Hạnh (1926 – 2022) yêu thích nhất và thuộc nằm lòng nên khi viết đoản văn “Bông Hồng Cài Áo” vào năm 1962 tại Medford, thiền sư đã trích dẫn bài thơ này.

          Đoản văn “Bông Hồng Cài Áo” đã làm cảm động nhiều người, đã làm biết bao độc giả rưng rưng lệ. Thật vậy, ai lại không nghẹn ngào khi nghĩ đến Mẹ của mình, đến sự hy sinh của Mẹ, đến tình thương của Mẹ. Đoản văn này còn gây cho người trẻ tuổi ý thức được sự hy sanh của Mẹ, đến tình thương của Mẹ.

          Cùng một ý tưởng diễn tả tình mẹ, và được lấy cảm hứng từ đoản văn này, một tuồng cải lương và một bản tân nhạc đã lấy cùng tựa đề “Bông Hồng Cài Áo” đã được sáng tác vào các năm 1966, 1967 tại Saigon.

       [Xem thêm bài “Về tác giả của bài thơ “Mất Mẹ” trong truyện “Bông Hồng Cài Áo” của Nhất Hạnh”, viết bởi Nguyễn Vĩnh Thượng, post by Hoa Vô Ưu, Trang Nhà Quảng Đức, năm 2016)]

       Sau này, trong ngày lễ Vu Lan, ngày báo hiếu, ở các chùa chiền thường tổ chức “Lễ gắn bông hồng”: những ai còn Mẹ, còn cha thì được gắn bông hồng màu hồng, những ai mất Mẹ, mất Cha thì được gắn bông hồng màu trắng.

       Một Thiếu tướng Lê Minh Đảo và một Đại tá Đỗ Trọng Huề đã bị “ bên thắng cuộc” sau ngày 30 tháng 4 năm 1975  bắt lưu đày nơi các trại tù cải tạo. Trong những ngày bị lưu đày nơi đất Bắc, hai ông đã nhớ Mẹ và đã cùng nhau sáng tác bài ca “Nhớ Mẹ”:

              “Những chiều buồn trên đất Bắc con hướng về Nam con nhớ mẹ nhiều.
             Mẹ ơi bao nhiêu năm tháng cứ trôi, cứ trôi cho bạc mái đầu.

                   [ . . .]

            Trời mây lung linh soi ánh mắt mẹ hiền, 
             Hồn con rưng rưng con nhớ mắt mẹ hiền.
             Mẹ mến yêu con thương nhớ nhiều.”

Một Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh đã ghi lại những kỷ niệm với Mẹ, lòng thành kính, lòng biết ơn sâu sắc đối với Mẹ trong các truyện ngắn ở trong cuốn “Cảm Niệm về Mẹ”.

     Ông viết về Mẹ của mình:

 “Mẹ tuân lệnh nghiêm đường lập gia đình năm 19 tuổi, chồng vĩnh viễn ra đi năm 29 tuổi, ở lứa tuổi nhan sắc vẫn mặn mà, bao nhiêu người rấp tâm tán tỉnh, mà mẹ tôi vẫn tạc lòng tạc dạ, thờ chồng nuôi con.”

      Bà Huỳnh Văn Thiện, nhủ danh Nguyễn Thị Sáu, mẹ của Huỳnh Trung Chánh, đã xuất bản tập thơ “Tiếng Lòng Sương Phụ” tại Hoa Kỳ (in lần thứ nhất năm 1990, tái bản năm 1994); có đoạn thơ bà đã tâm sự:

                            “Mảnh chung tình ngày chờ tháng đợi,
                             Xót thương mình, chìm nổi linh đinh.
                             Trăm năm mình vẫn đợi mình,
                             Từ đây nơi chốn tuyền đình gặp nhau.”

                                  (Một cuộc đời chìm nổ, 1949)  

     Rồi Ông tâm sự:  “Tôi mất cha khi vừa tròn trèm sáu tuổi”.

và :

 “ […] nếu khói lửa chiến chinh vào mùa thu năm 1945 không lan đến quê hương tôi, một hòn cù lao nhỏ giữa giòng sông Cổ Chiên, thuộc xã Long Hoà, tỉnh Trà Vinh, thì có lẽ gia đình tôi vẫn an phận với nếp sống trầm lặng tại miền thôn dã. Thế nhưng, chiến cuộc đã cướp mất tôi người cha, và mẹ tôi đành quyết định bỏ nhà cửa ruộng vườn, gạt lệ dẫn con ra đi. Bà đưa con tạm lánh về Mỏ Cày, Kiến Hoà, gởi anh tôi cho chị chồng. Sau đó, cùng với chị bếp trung thành lãnh phần bơi mũi, bà thuê chiếc xuồng và một người bạn chèo – người chèo thuê, nhưng mẹ tôi gọi là bạn chèo, đúng không tôi chẳng rõ- đi ngược giòng sông Tiền, đưa hai đứa con nhỏ về quê ngoại tại Cao Lãnh nương náo. Lộ trình đi thập phần nguy hiểm. Tiếng súng ngày đêm vẫn vang rèn, sông Cửu Long mênh mông gió chập chùng, nhưng mẹ tôi vẫn nhất quyết đưa chiếc thuyền con lầm lì len lỏi giữa làn súng đạn của hai phe, như là chuyện thường trực liều lĩnh thách thức với tử thần. Ngày nào, trên giòng sông cũng có vài mươi xác chết sình chương, mà người ta gọi là “thằng chổng” trôi dập dìu. Nạn nhân có thể là kẻ bị Tây nghi ngờ là Việt Minh, nên xử bắn rồi đạp xác xuống sông, hoặc cũng có thể là kẻ bị kháng chiến tình nghi là thành phần “Việt gian”, trói bỏ vào bao bố kèm với viên đá nặng thả xuống sông cho “mò tôm”. Nguy hiểm hơn nữa, là những nút: kiểm soát” được đặt đầy dẫy khắp nơi, mà ranh giới không rõ rệt, nếu bị chận hỏi mà trả lời lợn cợn thì mất mạng như chơi. Có một lần một dân quân Việt Minh chận xét thấy trong mớ chỉ thêu của mẹ tôi có rất nhiều màu, trong đó có ba màu xanh trắng đỏ, mà ba màu nầy hợp thành màu cờ nước Pháp.Thế rồi, anh ta lên án mẹ tôi là Việt gian, tịch thu chỉ thêu và bắt mẹ tôi dẫn đi trình với cấp trên. (. . .). Khi mẹ tôi được tha, em tôi mừng quá ôm chầm, càng khóc sướt mướt hơn nữa. (…). Cuối cùng rồi thì chúng tôi cũng về tới Xã Hoà An, Cao Lãnh, sống an lành trong vòng tay che chở của Ngoại”.

   Mẹ tác giả di dời khỏi nhà ông bà ngoại ông để tìm nơi có trường học cho các con sau này. Ông viết:

   “…nỗi ưu tư lớn lao của mẹ tôi là tương lai của con, bà không chấp nhận cảnh dốt nát thất học ở miền quê, nên ở nhà ngoại chưa giáp năm, mẹ tôi lại dẫn con ra đi, tìm chốn thị tứ có trường ốc cho con cái học hành. Thế nhưng với khả năng hạn hẹp của một thiếu nữ vốn chỉ lúc thúc trong khuê phòng, thì sống chốn nào cũng khó khăn chật vật, nên gia đình chúng tôi cứ phải thay đổi chỗ ở liên miên, và do đó chuyện học hành của lũ con cũng gián đọan mãi…          Một hôm, mẹ tôi nghe người em họ tên Nghiệp tán tụng Cần Thơ dễ sống, lại có truờng Trung Học Phan Thanh Giản nổi tiếng. ( Vào thời điểm nầy, trọn miền Nam chỉ có Saigon và Cần Thơ là có trung học công lập mà thôi). Mặc dầu con cái mới bập bẹ “i tờ”, mẹ tôi vốn thầm ao ước sẽ có ngày con mình đặt chân vào ngưỡng cửa trung học, nên chẳng chút đắn đo, bà hăm hở gom góp mớ vốn liếng cỏn con gồm vài món nữ trang còn sót lại, một bàn máy may Singer, khuôn bánh kẹp, khuôn bánh gai…rồi dẫn con đi lập nghiệp. Cậu nghiệp hướng dẫn mẹ con tôi thuê một căn phố lợp lá, nền đất tại một hẻm lầy lội thuộc vùng Cái Khế, cậu ở chơi một tuần, rồi máu lang bạt kỳ hồ nổi dậy, cậu lại ra đi, bỏ mặc chúng tôi ở lại với nỗi bỡ ngỡ, cô đơn, lạc lỏng ở xứ người. Trong nghề may, mẹ tôi là “tay ngang” chỉ dám may quần áo cho con cái, nay bà đành bặm gan đi khắp xóm lãnh may thuê với giá rẻ mạt. Bà cũng có mối lai rai, khách hàng toàn là dân nghèo, chuộng rẻ hơn phẩm chất nên phần đông dễ dãi, tuy vậy, thỉnh thoảng cũng có người sừng sộ chê áo quần hư hỏng, và mẹ tôi phải năn nỉ xin hoàn lại tiền công để khỏi bị bồi thường. Bà cũng trổ tài làm bánh kẹp, bánh gai, khuấy kẹo để bán. Tôi “xung phong” xin mang thùng kẹo rao bán, kiếm ăn được, ra quân lần đầu gặp một khách hàng tặng một cắc, vui quá đổi là vui.Mẹ tôi thì chẳng vui chút nào, bà nhìn con quảy thùng kẹo với nỗi buồn hiu hắt, rồi sau một đêm trằn trọc, bà nhất quyết chẳng cho tôi tiếp tục theo đuổi “sự nghiệp” nầy nữa. Bà điều đình với các quán xép trong xóm, và tại các trường học để bán sỉ cho họ, kiếm lợi được bao nhiêu cũng hài lòng. Nghề làm bánh kẹo coi bộ không khá, kẹo dừa giá rẻ mạt lại dễ bị “lợi đường” lỗ vốn, các loại bánh mắc tiền thì xóm nghèo không mấy ai hưởng ứng, thành thử buôn bán ế ẩm và ngày qua ngày vốn liếng của bà cứ mòn mỏi lần . . .Căn phố nhỏ bé nhưng đối với gia đình tôi thì rộng chán, thừa chỗ cho một cái giường để mẹ con chui rúc với nhau, cái bếp đặt dưới đất phải ngồi xổm nấu nướng, ngồi xổm để ăn.”

           Rồi mẹ ông hay tin ông bà ngoại ông bệnh hoạn, ông viết:

“Thưở đó, tình hình an ninh kém cõi, thương ông bà ngoại tôi sống đơn chiếc, mẹ tôi dẫn cô con gái út về quê nhà tại Cao Lãnh để chăm sóc ông bà. Phần hai đứa con trai, bà gởi mỗi đứa một nơi – thường là các bà dì- để ăn nhờ ở đậu đi học. Tôi quen thui thủi sống một mình từ lúc mới tập tễnh học lớp một, mỗi năm chỉ gặp mẹ tối đa hai lần, còn anh em có khi hằng mấy năm trời vẫn chưa thấy mặt nhau, nhưng càng xa nhau thì chúng tôi càng thương mẹ, thương anh, thương em.”

   Tác giả ghi lại lòng hiếu thảo của mẹ mình:

     “Lòng hiếu thảo của mẹ tôi cũng cao cả hiếm có. Trong thời chiến tranh, khi hoa lợi ruộng vườn yếu kém, ông bà ngoại  tôi già yếu bệnh hoạn triền miên, cần có đứa con sớm hôm gần gũi.Chị em không ai đáp ứng được, nên mẹ tôi quyết định hi sinh về quê báo hiếu mẹ cha ròng rã hơn mười năm trời. Trong thời gian này, mẹ tôi phải gánh chịu bao nỗi nhọc nhằn gian khổ khi bà ngoại bị liệt giường đến ba năm, ông ngoại cũng nằm một chỗ đến sáu tháng, mà mẹ vẫn không tiếng thở than trách móc chị em. Ông bà ngoại từ trần, mẹ tôi hoan hỷ bàn giao tất cả tài sản của ngoại cho người chị, rồi về Saigon hẩm hiu sống với đám con.”

      Trong những ngày sống với mẹ ở Hoa Kỳ, mẹ ông già yếu, bệnh hoạn triền miên, ông viết:

    “Kể từ năm 2005, sức khỏe của mẹ tôi tuột dốc nhanh chóng, tưởng như mình có thể thấy được mức biến chuyển diễn ra từng tháng, từng tuần.”

   Huỳnh Trung chánh đã săn sóc mẹ mình chu đáo, rồi sau đó ông cũng đã gởi mẹ vào Viện dưỡng lão.

     “ Khoảng 7 giờ 15 sáng ngày 19 tháng 5 năm 2007, vào thăm mẹ ở trung tâm nuôi dưỡng người già.

      (…) Vừa nhìn mẹ tôi bổng cảm giác là bà đã ra đi, tôi bước nhanh đến sát bên bà, nhận thấy bà đã thanh thản nhắm mắt yên ngủ, sờ trán còn ấm nhưng hơi thở không còn  nữa.”

       Ông viết tiếp:

   “… tưởng rằng mẹ tôi không bao giờ chết cả, và hình như hai mẹ con tôi đã ước hẹn với nhau, chúng tôi sẽ còn gặp lại nhau. Tôi là đứa con có cơ duyên gần gũi với bà, chia sẻ đắng cay với bà vào những giây phút hiểm nguy trên cuộc đời như lần đi xuồng chèo trên giòng Cửu Long giữa cơn binh lửa từ Trà Vinh về Cao Lãnh năm 1945; lần gay go vượt biển đến trại tị nạn Mã Lai năm 1977; và lần cuối cùng đưa bà rời cõi Ta Bà đầy khổ luỵ này.”

        Ngày 21 tháng 8 năm 2016, Nhà văn Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh đã ra đi tại Nam Cali, Hoa Kỳ, Ông đã gặp lại mẹ mình như ước nguyện.

X

X                                        X

                 Đọc truyện ngắn “ Năm tháng cuối đời” trong tập truyện “Cảm Niệm về Mẹ”  ta thấy tác giả đả diển tả cảnh mẹ mình già yếu, rồi bệnh tật biến chuyển từng tháng, từng tuần, từng ngày; rồi ông đã đưa mẹ mình vào Viện Dưỡng Lão , và đến ngày bà vãng sanh. Đây là quy luật vô thường của triết lý Phật giáo: “Sanh- Lão- Bịnh – Tử.”

                Đọc “Cảm Niệm về Mẹ” chúng ta thấu hiểu đạo hiếu của bà mẹ tác giả, và của chính tác giả.

               Đọc “Cảm Niệm về Mẹ” chúng ta thấy thân phận trẻ mồ côi trong thời khói lửa chiến tranh; chúng ta biết được những ngày cùng khổ của tác gỉả trong quảng thời niên thiếu; chúng ta kính phục và quý mến mẹ tác giả: bà đã hy sinh, tảo tần nuôi con cho đến ngày không lớn.

              Nhà văn Huỳnh Trung Chánh dùng giọng văn nhẹ nhàng để diễn tả những chi tiết đời thường, đã gây được cảm xúc sâu kín trong lòng tác giả và ngay cả trong lòng của người đọc nữa.

               2.-Cửa thiền dính bụi

                    nxb PHVQT, Cali, Hoa Kỳ, 1991; Chùa Viên Giác, Hannover, Đức quốc tái bản; nxb Phương Đông, Saigon, tái bản 2010.

                      Cửa thiền: nhà chùa, chùa chiền, gợi lên hình ảnh thanh tịnh.

                     Dính bụi: sự va chạm với thế tục, với tham vọng trong đời thường.

                   “Cửa thiền dính bụi”: ý nghĩa nói lên sự va chạm giữa lý tưởng tu hành và thực tại nhân sinh thế tục.

                    “Cửa thiền dính bụi”: là tập truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn cư sĩ Huỳnh Trung Chánh. Tập truyện này đã được in lại nhiều lần tại các chùa chiền ở hải ngoại và trong nước, và nxb trong nước cũng đã in lại. Ông dùng hình ảnh “cửa thiền”, cửa chùa là nơi thanh tịnh, trong sáng; nhưng đôi khi có kẻ phá giới, vi phạm giới luật và lý tưởng của đạo Pháp, làm điều càn dở, đó là làm “dính bụi trần”, bị những cám dổ của thế tục. Ông diễn tả sự kiện và để “một dấu lặng”, một khoảng trống cho người đọc tự suy nghĩ và tự phê phán.

      “Cửa thiền dính bụi” cho thấy đạo và đời có chỗ giao thoa cần được sửa chữa theo đúng giới luật của nhà Phật.

     Trong “Cửa thiền dính bụi”, tác giả diễn tả một số nhân vật bị cám dỗ bởi dục vọng, tác giả soi rọi Phật Pháp để người đọc hướng đến sự buông xã: vô thường, khổ đau.

   Hình ảnh “cửa thiền” , “nhà chùa”, hình tượng “tăng sĩ” không chỉ là thanh thoát nhưng đôi khi còn vướng mắc, còn”dính bụi đời”. Người Phật tử phải dùng Phật Pháp để rửa sạch “bụi” , để thanh tẩy những gì “dính bụi” nơi cửa chùa.

  Tựa quyển truyện ngắn “Cửa thiền dính bụi” cho chúng ta biết trọng tâm của cuốn truyện là nói về những vi phạm giới luật nơi các nhà chùa ở hải ngoại, tuy nhiên, điểm đặc biệt ở đây, Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh còn viết truyện ngắn “Sen Trắng” đề cao những vị Phật tử đến chùa lễ Phật, làm công quả, phục vụ nhà bếp với tấm lòng không chạy theo danh sắc.

  Viết về những vị tăng sĩ trong nhà chùa ở hải ngoại , Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh với lòng từ bi, ông  đã diễn tả với giọng văn nhẹ nhàng ôn hoà để phê phán những sai trái :

[…] “Ở xứ người chùa chiền chỉ sinh hoạt vào cuối tuần, ngày thường chùa vắng tanh, nên tu sĩ có thể tùy nghi sống với sở thích, đỡ phải gò bó theo những lễ nghi phiền phức.

[…] Ở nước nhà, tu sĩ phải bận rộn suốt ngày, chăm chỉ tuân theo nề nếp, lo công phu, tập thiền quán. . . lại được thầy tổ giám sát, nên đâu có lúc vẩn vơ lơ đảng. Đến xứ người, một mình một cõi tự tung tự tác, mà công việc Phật sự cũng chỉ thu gọn vào 2 ngày cuối tuần, thời giờ trống không … rỗi rảnh quá nhiều, biết làm gì cho hết”.

 […]Bỗng thầy choàng dậy, vớ điện thoại không giây để bên cạnh, bấm nút chọn đường giây tự động số một. Tiếng người đẹp “he lô” ở đầu giây khiến thầy nghe ấm áp, mắt thầy sáng lên:

           –A lô! Đang làm chi đó? Có gì vui không?

           -Ô! mệt quá thầy ơi! Đang sửa sang tiệm mới cho kịp khai trương đầu tháng tới. Thầy cúng khai trương dùm nghen thầy?

           – Hà! hà! Thiên kim muốn chi mà chả được?

            -Cám ơn thầy! Thôi “bai” nghen thầy. Kim phải đến tiệm mới ngay, để chỉ dẫn đám thợ.

             Thầy Q. L. tiếc rẻ gác máy. Thiên Kim có chồng ngoại quốc nên vui vẻ, và cởi mở, do đó thời gian hàn huyên với người tín nữ nầy vô cùng hứng thú.”      [ …]

[Cửa thiền dính bụi, tr.89, 90 & 91]

Ở chỗ khác Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh diễn tả một vị sư háo danh đã chạy chọt để được tấn phong danh vị “Thượng toạ”:

        […] “Nguyên thầy thọ giới tỳ-kheo(1) hơi trễ, tuổi đời tuy khá cao mà tuổi hạ mới hơn mười năm, chưa đủ 20 hạ để tấn phong “Thượng toạ”. Tuy vậy, ở nước ngoài thiên hạ thi đua nhau tự phong chức rầm rầm, “trung sĩ y tá” còn tự xưng được là “trung tá y sĩ”, nên nếu thầy có mập mờ ngày thọ giới tỳ-kheo để vận động được tấn phong danh vị thượng toạ cũng rất thường tình.”

[Cửa thiền dính bụi, tr. 95]

  Từ cuối thập niên 1970 đến 1990, hàng trăm ngôi chùa, niệm Phật đường Việt Nam được thành lập tại hải ngoại: Pháp, Hoa Kỳ, Canada, Úc, Đức . . . Các chùa và Niệm Phật đường này không chỉ là nơi tu học của cộng đồng Phật giáo mà còn là trung tâm văn hoá của cộng đồng người Việt tị nạn. Như đã trình bày ở trên, nơi đây đã phát hành đặc san Phật giáo trong các dịp lễ lớn.

       Cùng đối tượng độc giả, cùng quan tâm đến đạo đức Phật giáo, cùng đề tài để viết: Phật tử, Cư sĩ,Tăng, Ni, các chùa chiền, Niệm Phật đường, nhưng Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh và Giáo sư Đặng Văn Nhâm có 2 hướng viết văn  khác nhau:

         Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh có lối viết: nhẹ nhàng, ôn hoà, từ bi.

         GS Đặng Văn Nhâm có lối viết: phê phán gay gắt, phẫn nộ, trực diện.

          GS Đặng Văn Nhâm đã xuất bản bộ sách gồm 3 quyển tại Hoa Kỳ, để phê phán gắt gao các tăng sĩ và Phật tử hải ngoại: Pháp, Hoa Kỳ, Canada, Đức , Úc v…v.. đã phạm giới luật Phật giáo:

                 –Giặc Thầy Chùa, quyển 1, năm 1999.

                 –Giặc Thầy Chùa, quyển 2, năm 2000.

                 –Giặc Thầy Chùa, quyển 3, năm 2007.

Cái tựa “Giặc Thầy Chùa” là một cụm từ mang tính ẩn dụ và phê phán, có nghĩa là những người mang áo tăng sĩ Phật giáo nhưng lại làm tổn hại Phật giáo từ bên trong.

            GS Đặng Văn Nhâm (1933 – 2017), cựu Giáo sư tại trường Trung Học Tư thục Tân Thanh ở Saigon, đã định cư tại Đan Mạch.

             Với lối viết phê phán gắt gao và trực diện, GS Đặng Văn Nhâm đã làm va chạm nhiều người. Trong quyển 3 “Giặc Thầy Chùa, ông đã công kích cô Lương Thuỳ Trúc và Giáo Hội Long Hoa Phật Nhị Hội, họ đã kiện ông ra toà, kết quả:

  […]  “Qua thông tin trên mạng lưới vi tính đề ngày 31 tháng 7 năm 2007, hàng chữ đậm in đầu trang đập vào mắt người đọc như sau: Án Lệnh Chung Quyết của Tòa án Tư pháp Sơ thẩm khu vực tài phán thứ 165, hạt Harris, Texas về vụ án 2006-71920 xử vào ngày 16-2-2007. Nguyên cáo là cô Lương Thùy Trúc và Giáo Hội Long Hoa Phật Nhị Hội nộp hồ sơ thông qua tổ hợp luật sư Hoang & Associates kiện ông Đặng Văn Nhâm về tội mạ lỵ. Ông Đặng Văn Nhâm không đến hầu tòa nên bị xử khiếm diện. Phiên tòa kết thúc với phán quyết là: “Tòa án đã tìm ra và phán quyết rằng bị cáo Đặng Văn Nhâm đã bịa chuyện mạ lỵ với ác ý” (Founded, adjudged and ordered that Defendant Nham Van Dang made the libelous statements with malicious intent). Theo phán quyết nầy, tòa án ra lệnh cho ông Đặng Văn Nhâm phải đền bù thiệt hại về vật chất 25.000 đô la; bồi thường danh dự 100 đô la; trả 500.000 đô la thiệt hại về đức hạnh. “Tập sách Giặc Thầy Chùa III cấm phát hành vĩnh viễn. Bất cứ ai tiếp tục phổ biến tập sách nầy phải chịu trách nhiệm về sự sai trái mà toà án đã phán quyết.” (The book Giac Thay Chua III, Bandit Monks III, is to be permanently enjoined from distribution. Any distribution of this book is a continuation of such libel and the party distributing this book is also responsible for such libel).”

[Nguồn Internet:  Trần Kiêm Đoàn, Đặng Văn Nhâm và “Giặc Thầy Chùa”

      Kể từ đây GS Đặng Văn Nhâm không còn qua Hoa Kỳ nữa.

          Hồ Trường An trong bài “Đôi dòng cảm nghĩ sau khi đọc quyển: “Giặc Thầy Chùacủa Đặng Văn Nhâm”, ngày 24 tháng 3, năm 2012, đã viết:

             
                 “Giặc Thầy Chùa …là một quyển điều tra, biên khảo nhằm đặt lại vấn đề hiện trạng tôn giáo và tâm linh của kiều bào . . .để nhìn thấu suốt thực trạng những kẻ núp bóng cửa thiền để mưu lợi, chà đạp ý nghĩa linh thiêng của Phật giáo…qua đủ trò gian dối, tham dâm, lường gạt vô cùng bỉ ổi.

                Tác giả không phỉ báng Phật giáo mà thiết tha với tương lai và viễn ảnh Phật giáo.

              Mục đích là cốt bài trừ những tệ đoan trong hàng ngủ Tăng Ni, để dựng lại một thứ Phật giáo dựa trên nền tảng Trí Tuệ và Từ Bi.”

              [Nguồn internet: dangvannham.blogspot.com]

           Gần đây, trên youtube thỉnh thoảng có đăng các tin từ Việt Nam về những kẻ núp bóng “cửa thiền” để mưu lợi, để chà đạp ý nghĩa thiêng liêng của Phật giáo  qua đủ trò gian dối, tham dâm, lường gạt vô cùng bỉ ổi:

             “Thích Phước Ngọc, tục danh Phạm văn Cung, cựu trụ trì Chùa Phước Quang, ở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; cựu Giám Đốc Trung Tâm nuôi dạy trẻ mồ côi: “Suối Nguồn Tình Thương”, là bị cáo trong vụ án lừa đảo, chiếm đoạt tài sản gây chấn động dư luận, với thủ đoạn tinh vi lợi dụng danh nghĩa nhà sư và tổ chức từ thiện: lừa đảo gần 68 tỷ đồng của 4 người nữ Phật tử. Toà Án Nhân Dân tỉnh Vĩnh Long đã tuyên bố bị cáo án tù: chung thân, ngày xử: 13 tháng 4 năm 2022.”

                Đọc “Cửa thiền dính bụi”, chúng ta nhận thấy Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh vốn có tấm lòng từ bi nên ông đã sử dụng lối văn nhẹ nhàng ghi lại những vi phạm gìới luật trong “nhà chùa”, và tác giả đã để “dấu lặng” cho đương sự tự suy ngẫm và sữa chữa những sai lầm. Nhưng việc sai quấy vẫn còn tiếp tục, “bụi vẫn tiếp tục bám dính vào “cửa thiền”. Khi nào có ai quét dọn thì bụi bốc lên bay tứ tung.

               Chúng tôi xin đề nghị với các bậc Trưởng Thượng, các bậc Tăng Ni, các bậc Phật tử đạo cao đức trọng hãy giúp làm cuộc chỉnh đốn giáo pháp để phục hưng lại nền đạo đức trong cộng đồng Phật giáo trong và ngoài nước.

X

X                                          X

       Như đã trình bày ở trên, “Cửa thiền dính bụi” còn được Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh ghi nhận những vị Tăng Ni, những vị Phật tử chỉ đến chùa để làm Phật sự, để làm công quả với tấm lòng không chạy theo danh sắc:

Sen trắng” trong tập truyện ngắn “Cửa thiền dính bụi”, Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh đã đề cao các chị, các dì. . . âm thầm làm công quả, phục vụ ở nhà bếp với tấm lòng không chạy theo danh sắc. Các vị ấy chính là những vị Bồ-tát vô danh:

[…] “Tánh dì chơn chất giản dị, cứ tuân lời thầy thành tâm thực hành, không hề thắc mắc, so đo, suy luận hơn thiệt, cứ dõng mãnh tinh tấn trong mấy mươi năm không thối chuyển, nhờ vậy tâm địa ngày càng thanh tịnh, rồi đạt đến chỗ niệm Phật nhất tâm bất loạn mà chẳng ai ngờ. Một hôm, trong khi đang nấu cơm, nghe tiếng nước sôi dì quán niệm mong chúng sanh nghe được pháp mầu, thì bổng nhiên thế giới cực lạc hiện bày, tất cả thanh âm dì nghe: tiếng suối chảy, gió reo, chim ca cùng hoà điệu thành những bài thuyết pháp vang lừng. Thời gian sau, biết trước giờ tịch diệt mà dì vẫn lo hoàn tất việc cơm nước hầu hạ đại chúng. Nhiên hậu mới tắm rửa, rồi quỳ lạy từ tạ tổ Viên Quang, đoạn vào bếp lần chuổi niệm Phật mà thị tịch. Sau đó, tổ Viên Quang họp chúng tán dương đạo hạnh của dì, khiến cho lắm người trước kia tệ bạc khinh khi dì, đã phải dập đầu sám hối.

[…]

(…) chợt hiểu rằng bất cứ hình thức nào trong sinh hoạt Phật giáo đều chỉ nhằm mục đích tu tâm. Ở nhà bếp khiêm cung công quả mà tu sửa tâm hữu hiệu thì giá trị gắp trăm ngàn lần kẻ vênh váo nơi chánh điện, gỏ mõ chuông to, tụng kinh lớn tiếng …, mà tâm thì vẫn buông lung theo danh sắc… Hình ảnh của dì Diệu Hạnh, dì tư Rỗ, chị Nguyễn thị Hai … suốt đời làm công quả, cần cù và hoan hỉ phục vụ cho chúng sanh an vui tu tập… bổng sáng ngời, cao cả, tột cùng. Sự hiện hữu của họ, những vị Bồ-tát vô danh đó, vô cùng cần thiết cho đời.”

    (“Cửa thiền dính bụi”, 1991, tr.157, 158 & 171) 

  Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh đã giải thích:

      “Hạnh nguyện của chư Bồ Tát là lăn xã vào lục đạo đời đời kiếp kiếp cứu độ  chúng sanh, là những hình ảnh cao cả siêu tuyệt, đã thu hút mãnh liệt long nhiệt thành cầu đạo của tuổi trẻ. Tác giả thường say mê chiêm ngưỡng tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, trong dáng nữ nhơn nhu bà mẹ dịu hiền, tay mặt cầm nhành dương, tay trái cầm thanh tịnh bình không ngừng rưới nước cam lồ xoa dịu thương đau cho chúng sanh khắp nẻo. Tượng Quán thế Âm Bồ Tát thiên thủ, thiên nhản mang sắc thái khác biệt: huyền bí và linh động lạ lùng. Tác giả thường mường tượng đến những cánh tay Bồ Tát mầu nhiệm nhiều như số cát song Hằng, hiện hữu bàng bạc khắp không gian và thời gian, để thương yêu, lo lắng, cứu giúp chúng sanh khổ luỵ. Những cánh tay Bồ Tát đó, cũng hiện hữu sống động ngay cõi ta bà nầy, dưới muôn vàn dạng thức: Một dì Phước tại trại cùi, một Ni sư ở Cô nhi viện, một Tu sĩ gắn liền với bổn đạo trong nước, một thuỷ thủ vớt người vượt biển Đông, hay một nhà Hảo Tâm bảo trợ dân tị nạn. . .Chiêm ngưỡng những vị đó, tác giả thường tưởng tượng họ cũng có nhiều cánh tay như chư Bồ Tát.”

            (“Cửa thiền dính bụi”, 1991, tr. 7)

         Đọc “Cửa thiền dính bụi”, chúng ta nhận thấy Cư sĩ Hùnh Trung Chánh nêu lên những sai phạm giới luật của một số Tăng sĩ và Phật tử tại các nhà chùa  ở hải ngoại; nhưng cũng chính nơi “cửa thiền”, ông cũng đã học hỏi và kính phục những vị Bồ Tát, những vị đã đến chùa lễ Phật, làm công quả với tấm lòng không chạy theo danh sắc.

        Cư sĩ Hùnh Trung Chánh dùng ngôn ngữ giản dị, nhẹ nhàng, trầm lắng để kể chuyện đời thường giúp độc giả nhận ra ý nghĩa của Phật Pháp. Văn của ông đậm chất thiền, thường để một khoảng hở, “một dấu lặng” để người đọc ngẫm nghĩ mà sửa đổi nếu có chỗ sai sót, để phát huy nếu có chỗ đúng. Ông đã biến văn chương thành phương tiện chiêm nghiệm giác ngộ, ông đã sáng tác nên một tác phẩm độc đáo trong văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại.

       Hoà Thượng Thích Đức Niệm, Viện trưởng Phật Học Viện Quốc Tế ở California, Hoa Kỳ đã nhận xét về cuốn “Cửa Thiền dính bụi” trong Lời Giới Thiệu  như sau:

[…] “Điểm đặc biệt của Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh là mang tấm lòng thành kính thích gần gủi các bậc chân tăng để được học hỏi giáo lý đức Phật, tu tâm dưỡng tánh hầu đem tinh thần bình đẳng vị tha ra hành xử với xã hội đồng bào.

Vốn mang tư tưởng thấm nhuần Phật Pháp, yêu đạo thương đời, tuy ngày nay không còn ngồi trên đất nước quê hương, nhưng trong văn chương của cư sĩ vẫn bàng bạc tinh thần đặc thù cố hữu của đạo pháp dân tộc, với ước mong nguồn đạo được chánh thống chân truyền. Những sáng tác của cư sĩ ngầm cho ta thấy rằng con người muốn được lành mạnh hạnh phúc tiến bộ thì phải xoay lại sống với chính tâm linh mình. Hánh giả muốn đạt được giác ngộ giải thoát thì phải biết sống đời bình dị tri túc, luôn luôn sống trong tĩnh thức. Đạo pháp muốn trường tồn ngời sáng thì phải tôn trọng giới luật, chánh tín thực hành lời dạy của đức Thế tôn. Mọi người biết sống trong cương vị của mình, luôn luôn nhớ mình là người Việt Nam, ý nghĩ, việc làm và đời sống trong tâm lượng bao dung vị tha, thể hiện con dân nước Việt vốn có cội nguồn văn hoá và đạo đức.

   […]

Giờ đây trang sách mở ra, hương hoa thánh thiện phảng phất ngạt ngào, gương sáng phản chiếu vào tận đáy sâu thẳm của tâm thức.”


(H.T. Thích Đức Niệm, Lời giới thiệu cuốn “Cửa thiền dính bụi”, 1991, tr. 5 & 6)

             3.-Vết nhạn lưng trời:

                  nxb Phật Học Viện Quốc Tế (PHVQT), Cali, Hoa Kỳ, 1990; Chùa Viên Giác, Hannover, Đức Quốc, tái bản; nxb Phương Đông, Saigon, tái bản 2010.

             –Vết nhạn: nhạn là loài chim gắn với mùa thu, với sự chia xa. Hình ảnh “vết nhạn” thường tượng trưng cho sự vô thường. “một vệt mong manh” vừa nhẹ vừa thấm đượm nỗi buồn lâng lâng, khoắc khoải.

Thiền sư Hương Hải, thuộc thiền phái Trúc Lâm, trong một pháp thoại với vua Lê Dụ Tông (1679 – 1731) đã viết:

                       “Nhạn quá trường không,
                         Ảnh trầm hàn thuỷ.
                        Nhạn vô di tích chi ý,
                        Thuỷ vô lưu ảnh chi tâm”.

———-
           Lê Dụ Tông là vị Hoàng đế thứ 22 của nhà Hậu Lê, trị vì năm 1705 – 1729. Đây là triều đại thanh bình, ông được đánh giá là vị vua hiền, và sùng đạo Phật.

                  Hoà Thượng Thích Thanh Từ dịch:

                   “Nhạn bay trên không,
                    Bóng chìm đáy nước.
                    Nhạn không có ý để dấu,
                    Nước không có tâm lưu bóng”

          –lưng trời:  ở đây, lưng có nghĩa là khoảng ở giữa, không ở trên cao lắm, cũng không ở dưới thấp lắm. lưng trời là vị trí giữa bầu trời và đường chân trời.

              Ví dụ:     “Trăng tròn như quả bóng,
                               Lơ lửng treo lưng trời.”
                              (Nguyễn Ngọc Hưng)

vết nhạn” không phải là dấu vết vật chất, mà là một vết tích tâm linh. “vết nhạn” chỉ tồn tại trong tâm thức người chứng kiến.

Nhan đề “Vết Nhạn Lưng Trời” là một công án Thiền. Trong mỹ học Phật giáo Á Đông, cánh nhạn bay qua bầu trời nhưng không để lại dấu vết, mặt nước phản chiếu bóng nhạn nhưng không giữ bóng nhạn lại. Đó là biểu tượng của:

            -vô thường.
            -vô ngã
            – sự mong manh của kiếp người.

Con người đau khổ vì muốn lưu giữ những điều vốn không thể giữ được; tuổi trẻ, danh vọng, thân xác. Đời sống vốn chỉ là “một vết nhạn.”

Một nhà văn khuyết danh đã viết:

        “Nhạn qua rồi, trời vẫn trong xanh. Nhưng trong lòng kẻ đứng nhìn, đường bay ấy vẫn khắc khoải. Có phải đời người cũng vậy? Bao chuyến đi, bao cuộc trở về, cuối cùng chỉ còn lại một vệt mong manh.”

Một nhà văn khuyết danh khác cũng đã viết:

        “Chiều xuống, nhạn bay qua sông. Dưới kia, nước vẫn trôi. Trên kia, trời vẫn rộng.Ta đứng giữa, nghe lòng chênh vênh như sợi khói bay?”

Vết nhạn lưng trời” là hình ảnh bắt nguồn từ một thiền ngữ quen thuộc: “Chim nhạn bay qua bầu trời, không để lại dấu vết.” Đây là một ẩn dụ cho ý nghĩa triết lý vô thường, vô ngã: đời người như cánh nhạn, đến rồi đi, không có gì tồn tại vĩnh cữu. “Sự hiện hữu chỉ là do duyên khởi.”

Đời-đạo giao thoa”: không phải chỉ trong chùa mới có đạo, mà ngay trong cuộc sống hằng ngày, đạo lý cũng hiện hữu, từ một cái nhìn từ bi đến một hành động nhân ái.”

Nhan đề “Vết nhạn lưng trời” gợi mở một hình ảnh giàu tính ẩn dụ: cánh chim nhạn bay qua bầu trời đã để lại một dấu tích mong manh, nhưng cũng khắc sâu trong ký ức người ngắm nhìn. Tác giả hồi tưởng quá khứ, gắn với ký ức quê hương, giọng kể chân thành, thấm đượm triết lý vô thường.

Một tác giả khuyết danh đã viết:

         “Có những chiều ở bến cũ, tôi ngỡ mình còn nghe tiếng nhạn gọi bầy. nhưng ngoảnh lại chỉ thấy khoảng không im vắng. Có lẽ, tiếng ấy không ở ngoài mà ở trong lòng tôi.”

Có thể nói “Vết nhạn lưng trời” không chỉ là một tác phẩm văn chương mà còn là một “thiền ngữ bằng văn xuôi”. Nhan đề và nội dung đều gợi một chiều sâu triết lý và thiền vị rõ rệt.

Thiền sư Nhất Hạnh trong lời giới thiệu tập truyện “Vết Nhạn Lưng Trời” của Huỳnh Trung Chánh đã viết:

Huỳnh Quân viết truyện để nuôi dưỡng chân tính và tình cảm của mình như người xưa nuôi hoa lan gầy hoa cúc để nuôi dưởng tính tình của họ. Tôi nghĩ trước khi đặt bút xuống viết một chuyện, Huỳnh Quân thường để tâm mình chim xuống trong suối nguồn lịch sử để được nuôi dưỡng bằng trí tuệ và tình tự của đất nước giống nòi. Trong khi viết truyện, ông cảm thấy khỏe mạnh, hăng hái, yêu đời và cảm thấy thương yêu tràn ngập trong lòng. Và sau khi viết xong một truyện, ông cảm thấy khoan khoái và nhẹ nhàng. Người đọc thế nào cũng cảm nhận được tính chất lành mạnh, tin tưởng và yêu thương đó của ông. Đọc truyện của Huỳnh Trung Chánh viết cũng là để nuôi dưỡng tính tình.

[…]

Vết Nhạn Lưng Trời viết rất dễ thương; không khí trong truyện nhiều khi cổ kính, thuần hậu mà không bao giờ kiêu kỳ. Lòng từ bi của tác giả có thể sờ mó được …”

Viết tại xóm Thượng, làng Hồng.
 Đầu Thu năm 1989
   Nhất Hạnh

       Tóm lại, “Vết Nhạn Lưng Trời” là một tập truyện ngắn giàu chất thiền, đưa người đọc từ những cảnh đời khổ đau, mất mát, đến sự chiêm nghiệm rằng: “tất cả rồi cũng qua đi như vết nhạn trong không trung.” Tác phẩm giúp người đọc tìm thấy thái độ thanh thản trước biến động của cuộc đời, nuôi dưởng tâm hồn bằng sự buông xả và từ bi, biến văn chương thành phương tiện để đạt giác ngộ.

           Truyện ngắn “Vết Nhạn Lưng Trời” là truyện ngắn tiêu biểu của cuốn truyện này:

Nhân vật chính trong truyện này là Ni cô Thanh Hội, vốn có tục danh là Xuân, sinh ra trong một gia đình còn mang nặng phân biệt nam -nữ, và còn mang nặng tư tưởng tông đường. Sau nhiều biến động trong gia đình, Xuân xuất gia, và trở thành một Ni cô trẻ đẹp.

Trong một lần đi qua vùng núi với các người thân, Ni cô Thanh Hội và cả nhóm bị bọn cướp bắt giữ. Bọn này muốn ép Ni cô làm “áp trại phu nhân” để đánh đổi sự tự do cho tất cả những người trong nhóm. Ni cô Thanh Hội đã chấp nhận hy sinh bản thân. Trong lúc tuyệt vọng, cô đã nhìn thấy “cánh nhạn bay qua ngang trời”,, và chợt ngộ ra thân phận con người cũng chỉ như “Vết Nhạn Lưng Trời”: đến rồi mất, không để lại dấu vết. Ni cô chợt giác ngộ, và Thanh Hội đã vượt qua sợ hải. Chính tâm từ bi của Cô đã cảm hoá những tên cướp hung bạo. Chúng đã quỳ lạy Ni cô và đã trả tự do cho tất cả mọi người trong đoàn.

Ni cô Thanh Hội vẫn là người bình thường: Cô cũng sợ hãi, cũng giao động trước cảnh nhục nhã nếu xãy ra. Và rồi Cô đã “ ngộ”, đã thuyết phục được bọn cướp. Ở đây, hình ảnh Ni Cô Thanh Hội giống như những hình tượng Bồ tát: lấy thân mình cứu người, lấy từ bi chuyển hoá bạo lực: giác ngộ không phải là điều siêu hình xa vời mà chính là sự tỉnh thức trong đời thường.

Vết Nhạn Lưng Trời” không những là một truyện ngắn tiêu biểu trong tập truyện ngắn này mà còn là một truyện ngắn Phật giáo tiêu biểu của văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại.

Truyện ngắn “Chân Dung Của Mẹ” là một truyện giàu cảm xúc nhất trong tập truyện này. Hùynh Trung Chánh đã ca ngợi tình mẫu tử, hình ảnh người mẹ Việt Nam: hy sinh cả đời cho con, với giọng văn tha thiết, chân thành, với tình người chứa đựng trong câu văn.

 Tóm lại, “Vết Nhạn Lưng Trời” đã làm nổi bật chiều sâu tâm linh và lòng từ bi thấm từ trang viết. Đây quả là một tập truyện ngắn đặc biệt trong dòng văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại.

   6 cuốn truyện ngắn còn lại:

             4.-Trở về:

                  nxb Nguồn Sống, Cali, USA, 1988;Chùa Viên Giác, Hannover, Đức quốc tái bản.

                    Trở về  ở đây là: trở về bản thân, trở về cội nguồn, trở về những giá trị nhân bản và tâm linh.

                   Trên bề mặt, “Trở Về” nói về sự quay lại một nơi chốn quen thuộc trong quá khứ; nhưng trong chiều sâu tư tưởng, “Trở Về” không chỉ là một chuyển động không gian mà là một hành trình nội tâm.

                 Nhân vật khi “trở về” thường phải đối diện với ba tầng ý nghĩa:

                            1.- Trở về với ký ức: những kỷ niệm thời tuổi trẻ, những con người đã từng gắn bó.

                            2.-Trở về với chính mình: nhì lại đời sống đã qua.

                            3.- Trở về với bản thể tinh thần: một dạng “tỉnh thức” mang màu sắc Phật học; con người đi xa bao nhiêu cuối cùng cũng phải “trở về” với nguồn gốc tâm linh của mình.

                  Tác giả mô tả cảnh vật trong truyện mang tính biểu tượng của ký ức và thời gian:

                       -con đường  cũ.
                       – mái nhà xưa.
                       -hàng cây quen thuộc.
                       -dòng sông, bến nước.
                      -Sân chùa.

                  Trong cuốn truyện “Trở Về”, nhân vật chính thường mang tâm trạng:

                      -lặng lẽ quan sát.
                      -nhớ lại quá khứ.
                     -suy nghĩ về những mất mát của đời người.

               Từ đó nhân vật cảm nhận được:

                       -thời gian đã trôi đi.
                      -nhiều điều không thể lấy lại.
                      -nhưng con người vẫn có thể tìm lại sự bình an trong tâm hồn.                    

                5.-Như Thế Mà Trôi:

                  nxb PHVQT, Cali, USA, 1994; CHÙA Viên Giác, Hannover, Đức Quốc tái bản.

                  Như Thế: mọi sự biến đổi đều đi theo nhân duyên, không thể níu kéo lại được.

                 Trôi: sự trôi chảy của dòng sông thời gian, sự trôi nổi của kiếp người.

                 Như thế mà trôi: đây là thái độ an nhiên trước cuộc đời vô thường.

   Toàn cuốn truyện kể về hành trình của các nhân vật có cuộc đời gắn liền với những biến động của thời cuộc, ký ức và quá khứ, và sự giác ngộ.

                6.-Con Đường Vô Tận:

                    nxb PHVQT, Cali, USA, 1998; Chùa Viên Giác, Hannover, Đức quốc tái bản; nxb Phương Đông, Saigon, tái bản,2010.

              –Con đường: vừa là con đường đi trong cuộc đời, vừa là hành trình tâm linh của con người.

              –Vô tận: không có điểm dừng, ý nghĩa con đường tu học và giác ngộ vốn không cùng, phải bền bỉ và kiên nhẫn.

           Con đường tu hành dài bất tận, không làm con người nản lòng, mà còn khơi dậy lòng kiên nhẫn trên con đường tìm giác ngộ.

                 7.- Mẹ Quan Âm Cữu Long:

                     nxb PHVQT, Cali, USA; Chùa Viên Giác, Hannover, Đức quốc tái bản; nxb Phương Đông, Saigon, tái bản, 2010.

                      –Quan Âm: ý chỉ “Quan Thế Âm Bồ Tát”, vị Bồ Tát tượng trưng cho lòng từ bi, cứu khổ, cứu nạn.

                      Mẹ: không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo mà còn gợi: – tình mẫu tử- sự che chở- lòng bao dung vô điều kiện. Hình ảnh người mẹ Việt Nam chịu đựng đau khổ, hy sinh, nuôi nấng con cái.

                     Mẹ Quan Âm: có thể hiểu như là một nguyên lý từ bi, cứu độ, hiện thân trong hình ảnh người mẹ Việt Nam.

                   Cữu Long: nghĩa đen là 9 con rồng. Đồng bằng sông Cữu Long, ở miền Tây Nam Việt, nơi con sông Mekong chia thành 9 nhánh trước khi chảy ra biển.

Cữu Long gợi liên tưởng đến sự trường tồn, vững chãi và linh thiêng. Trong văn học Việt Nam, miền Cữu Long gợi nhớ đến: sông nước, phù sa, sự hiền hoà.

Trong Phật giáo Ấn độ có chuyện huyền thoại: chín con rồng phun nước tắm Đức Phật lúc Ngài đản sanh. Cho nên “cữu long” còn mang ý nghĩa: sự thanh tẩy, tái sanh tinh thần, sự thiêng liêng.

Mẹ Quan Âm Cữu Long” có thể hiểu là Đức Mẹ từ bi, cứu khổ, cứu nạn của  miền sông nước Cữu Long. “Người Mẹ” như là một vị “Bồ Tát tại thế”, chịu đựng âm thầm, lo cho con bằng tình thương đời thường.

Có thể đưa ra vài nhận xét về giọng văn của Hùynh Trung Chánh trong quyển này: – trang nghiêm, chậm, trầm lắng, có nhiều khoảng lặng, giàu hình ảnh sông nước, mưa, khói, câu văn đượm chất thiền, giúp người đọc vừa cảm nhận vừa suy ngẫm.

Đọc truyện ngắn của ông như nghe kể chuyện ở bên hiên chùa.

            8.-Mộng và Thực:

                    nxb Phương Đông, Saigon, 2009.

Mộng: tượng trưng cho những ước vọng, lý tưởng, khát khao tinh thần của con người.

Thực: là đời sống cụ thể, với những giới hạn, những va chạm và thử thách.

Mộng và Thực” không phải là hai thế giới tách biệt, mà là hai chiều hướng của đời sống tinh thần.

Nhân vật trong truyện đã trải nghiệm một trạng thái quen thuộc của con người và đời người:

– Khi còn nuôi dưỡng mộng tưởng, cuộc đời có vẻ đẹp và ý nghĩa.

– Nhưng khi đối diện với thực tại, nhiều giấc mộng bị tan vở.

           Bởi vậy nên, tác giả nhận thấy:

                           -con người thường đau khổ vì khoảng cách giữa điều mình mong muốn và điều mình đang sống.

                           -Nhưng chính khoảng cách đó đã tạo nên câu chuyện nhận thức, đã tạo nên hành trình trưởng thành của tâm thức. Tác giả cho thấy cái nhìn về tính vô thường của cuộc đời và đời người:

                                    -Mộng có thể tan.

                                    -Thực cũng không bền.

    Rồi Huỳnh Trung Chánh không để nhân vật dừng lại ở sự thất vọng, ông cho nhân vật trải qua mộng và thực, và nhân vật chiêm nghiệm để hiểu rằng:

– Không phải loại bỏ Mộng.

– Cũng không phải trốn tránh Thực.

từ đó, mộng trở thành động lực tinh thần, còn thực trở thành nơi rèn luyện tâm hồn.

           Nói tóm lại, qua truyện “Mộng và Thực”, Huỳnh Trung Chánh đã gửi gắm một thông điệp sâu sắc:

                 1.-Con người không thể sống mà không có mộng.
                  2.Nhưng cũng không thể tránh khỏi thực.
                 3.-Sự trưởng thành của con người nằm ở chổ thức tỉnh để tạo khả năng dung hoà hai điều: Mộng và Thực.

                           9.- Am Mây Ngàn:

                                 Nxb Phương Đông, Saigon, 2012.

                                    –Am: là nhà nhỏ bé, nghèo sơ, nơi để thờ phượng và tu hành nhưng là nơi tâm thức được mở rộng. Am gần với hình ảnh “thảo am”, “tịnh thất” trong truyền thống Thiền ở Trung Hoa và Việt Nam. Như vậy, Am không chỉ là nơi trú ngụ vật chất nhỏ bé, mà còn tượng trưng cho:

                                       – đời sống thanh tịnh.

                                       -sự quay về nội tâm.

                                –Mây: trong Phật giáo, mây thường tượng trưng cho sự biến ảo; đời người mong manh; các pháp tụ tán không bền.

                               –Mây Ngàn: không những chỉ cảnh núi cao có mây phủ mà còn là hình ảnh của kiếp người phiêu bạt, hợp tan vô hạn định.

                               –Am Mây Ngàn có nghĩa là “am” tuy ở giữa “mây ngàn” nhưng vẫn gắn với khổ đau của con người: đạo không tách rời khỏi đời.

           Huỳnh Trung Chánh đã lấy cảm hứng cho tựa cuốn truyện này từ hai câu thơ (câu 2401 – 2402) của Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều:

                              “ Rồi đây bèo hợp mây tan,
                        Biết đâu hạc nội mây ngàn là đâu?”

   “Bèo hợp mây tan”: bèo có lúc tụ lại rồi sẽ trôi đi, mây có lúc vần vũ rồi cũng tan tác; ý chỉ cuộc gặp gở nhanh chóng, cảnh chia lià khó tránh khỏi. “Mây” còn gợi lên nếp sống của người tu hành thường rày đây mai đó, không trụ ở chỗ nào như thể cưỡi mây mà đi.

  “Hạc nội” là con hạc ở ngoài đồng, loài chim sống giữa không gian rộng rãi, không bị giam hãm, ý chỉ người tu hành sống ngoài vòng cương tỏa của danh lợi.

Nội dung truyện Am Mây Ngàn: truyện kể về sư Từ Ân, một vị tu sĩ ẩn cư trên núi Ông, sống đời giản dị: tự khai đất trồng rau, sống thanh bần, tu hành lặng lẽ, giúp dân nghèo dưới chân núi.

Một hôm, bà Hai hấp hối. Sư xuống núi trợ niệm, khai thị cho bà quy y Tam Bảo và niệm Phật trong giờ phút lâm chung. Sau khi bà mất, Sư nhận nuôi đứa cháu nhỏ tên Tý. Sư dạy đứa bé học chữ, học đạo, học cách nhìn đời bằng con mắt vô thường.

Sư đã dạy đệ tử rằng: “cõi trời tuy sung sướng nhưng dễ quên tu. Chỉ có cõi người mới đủ khổ đau để phát tâm giải thoát.”

III. Tổng Kết: Nhận xét các tập truyện ngắn của cư sĩ Huỳnh Trung Chánh:

Chúng tôi xin trích dẫn lời nhận xét của Cố Hoà Thượng Thích Đức Niệm, Viện Trưởng Phật Học Viện Quốc Tế ở California, Hoa Kỳ như sau:

          (. . .) “Ai đã từng đọc sách của cư sĩ Huỳnh Trung Chánh ít nhiều cũng cảm khoái lời văn trong sáng, chuyên chở những chuyện nhân tình thế sự nhẹ nhàng, như để nhắn gửi một ý nghĩa buông xã thăng hoa nào đó, khiến cho người đọc nhìn rõ nhân tình và thầm thấy lại chính mình. Đọc sách mà thấy được người, rõ được mình, cảm khoái dư âm văn vị thì đó là văn tuyệt tác. Tác giả đã sống thực với hoàn cảnh, chứng kiến sự việc và trình bày như sự việc. Nhân sự và thế sự trong truyện uyển chuyển sống động, hấp dẫn bằng lối văn không bóng bảy cầu kỳ, tả chân người, việc một cách tự nhiên như cuồn phim được trình chiếu, không viễn vông không tưởng vòng vo, khiến cho người đọc cảm thấy như chính mình đang thực sự sống trong cảnh tác giả trình bày. Đọc văn mà thấy hành hoạt của người, nhận rõ nhân cách của mình là văn tả chân, xuất phát từ tàng thức chân tình, vô hình chung văn của tác giả đã thành tấm gương phản chiếu nhân tình thế sự vô cùng linh hoạt. Muốn chiêm nghiệm tâm tình ẩn áo biến thái của thế nhân và nhìn thật rõ lại chính mình với cõi lòng thanh thản, tưởng nên tìm đọc những tác phẩm giá trị của Huỳnh Trung Chánh.”

(Trích: Lời giới thiệu về cuốn truyện “Như Thế Mà Trôi”, 1994, tr. 6)

Chúng tôi xin nhắc lại về: “Bối cảnh chung của văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại”:

      Các nhà văn Phật giáo Việt Nam hải ngoại đều viết trong bối cảnh:

            1.-Tâm lý tha hương: sống xa quê hương sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, đối diện với nỗi nhớ, hoài niệm, và lạc lõng trong môi trường văn hoá mới: nhớ quê hương, nhớ chiều xưa, nhớ dòng sông, nhớ bến nước, nhớ Sư Thầy, nhớ Sư Cô, và nhớ nếp sống Phật giáo truyền thống.

            2.-Thể hiện tư tưởng Phật giáo về vô thường, từ bi, an lạc nơi nội tâm, đồng thời cố gắng giữ gìn bản sắc Việt Nam.

           3.-Giao thoa văn hoá: ngôn ngữ và hình ảnh chịu ảnh hưởng văn hoá Việt Nam truyền thống, nhưng tiếp nhận những trải nghiệm đời sống Tây phương, dẫn đến sự biến đổi trong cách thể hiện và ngôn ngữ;

giọng điệu vừa hoài niệm, vừa trầm tư, là dấu ấn của văn học Phật giáo hải ngoại, nơi tác giả phải giữ cốt cách Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh xa lạ của xã hội Tây phương.

Trong bối cảnh này, các tác giả tiêu biểu có thể kể đến: Huỳnh Trung Chánh, Viên Linh, Trần Trung Đạo, Vĩnh Hảo, Nguyễn Mộng Giác v…v…

     Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh chuyên viết truyện ngắn trong khi ông định cư ở Hoa Kỳ; các tập truyện ngắn của ông đã góp phần định hình diện mạo văn học Phật giáo của cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ và hải ngoại. Trong bối cảnh Phật giáo Việt Nam hải ngoại, ông giữ bản sắc Việt Nam, tâm hồn Phật giáo nhưng vẫn phản ảnh cuộc sống tha hương, nỗi hoài niệm, sự giao thoa văn hoá Việt và đời sống hải ngoại.

     Như đã biết, ông đã định hướng cho các sáng tác của ông rằng ông chỉ viết truyện đạo, đạo ở đây là đạo Phật/ Phật giáo; nhưng cấu trúc tự sự và sự phát triển của nhân vật thường vận hành theo 3 tầng triết lý mà chúng ta có thể nhận ra: vô thường, nhân duyên, buông xả. Đây là trục tư tưởng của nhiều truyện ngắn của ông.

Văn phong của Huỳnh Trung Chánh:

          -Giọng văn giản dị, gần gủi văn nói/ khẩu ngữ giúp câu văn dễ hiểu, phù hợp với mọi độc giả.

         -Văn chương mang phong vị miền Nam Việt Nam: hiền hoà, chân chất; ít phô diễn, nhẹ nhàng mà sâu lắng.

         -Những hình ảnh minh hoạ trong các truyện ngắn của ông như:   

         -miêu tả dòng sông, bến nước, cảnh chùa, cánh đồng, người mẹ, giấc mơ, mộng và thực.

        Nhờ văn phong này, Huỳnh Trung Chánh đã đóng góp vào văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại:

               -Gìn giữ bản sắc Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hải ngoại.

               -Viết ra truyện ngắn mang tính chiêm nghiệm và tĩnh lặng, khác với dòng văn học hiện thực xã hội thông thường.

              -Giúp độc giả nhận thức sâu hơn về cuộc sống nhân sinh, và ý nghĩa trở về nguồn.

         Văn phong của ông vì thế vừa đậm chất Phật giáo, vừa đậm chất văn học, nghệ thuật, trở thành một dấu ấn đặc sắc trong dòng văn học Việt Nam hải ngoại.

         Nếu văn của Thiền sư Nhất Hạnh giống tiếng chuông chùa buổi sớm mai, thì văn của Huỳnh Trung Chánh giống tiếng mái chèo đêm khuya trên sông nước miền Tây Nam Việt.

X

X                                             X

Di sản văn học của Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh sống mãi trong tâm thức độc giả, như một ngọn đèn soi sáng, dẫn dắt những ai quan tâm đến nhân sinh và đạo lý. Cư sĩ Huỳnh Trung Chánh mãi mãi là một “ngôi sao sáng” trong bầu trời văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại, vừa là nhà văn, vừa là Cư sĩ, với tấm gương sáng về nhân cách, đạo đức và lòng nhân ái./.

               Tác giả cẩn chí,

                  Nguyễn Vĩnh Thượng

Viết lần thứ nhất, Toronto, ngày 8 tháng 9 năm 2025.

Sửa chữa và bổ sung ngày 14 tháng 4 năm 2026.

Cước Chú: Sa-di và Tỳ-kheo;

1.-Sa-di (沙 弥) trong tiếng Hán, phiên âm tiếng Sanskrit = Sramanera, tiếng Pali = Samanera.

Về nghĩa gốc: 

– Srama = tinh tấn, khổ hạnh. – Sramana= Sa-môn, người tu hành xa lià thế tục.
    – Sramanera = người tu hành mới xuất gia. Sa-di là giai đoạn tập sự để bước vào đời sống Tỳ-kheo. Sa-di phải giữ 10 giới căn bản:

1.Không sát sanh.
2. Không trộm cắp.
3. Không dâm dục.
4. Không nói dối.
5. Không uống rượu.
6. Không đeo đồ trang sức.
7. Không múa hát, xem và nghe nhạc.
8. Không ngủ giường cao rộng.
9. Không ăn sau giờ ngọ.
10. Không giữ vàng bạc, tiền của.

2. Tỳ- kheo (比 丘) trong tiếng Hán, phiên âm từ tiếng Sanskrit = Bhiksu, tiếng Pali= Bikkhu.  Bhiksu/Bikkhu có nghĩa là người sống bằng cách khất thực, xin ăn.  Nghĩa rộng là người xuất gia tu hành theo đạo Phật.

             Tỳ-kheo giữ 227 giới theo Theravada, giữ 250 giới theo Phật giáo Phát Triển/Bắc tông.

            Tỳ-kheo Ni giữ 311 giới theo Theravada, giữ 348 giới theo Phật giáo Phát triển/ Bắc tông.

Tài liệu tham khảo chính yếu

Bùi Vĩnh Phúc, Lý luận và Phê bình: Hai mươi năm văn học ngoài nước (1975 – 1995), nxb Văn Nghệ, California, USA, 1995.

Huỳnh Văn Lang, Ký ức Huỳnh văn Lang (chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Bách Khoa ở Saigon trước 1975), tác giả xuất bản: tập I: 2011, Tập II: 2012.

Huỳnh Trung Chánh, Các cuốn truyện ngắn của ông.

Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam (3 tập), nxb Tổng Hợp, TP. HCM, 2006.

Lê Mạnh Thát, Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam (3 tập), nxb Tổng Hợp, TP HCM, 2006.

Lý Khôi Việt, Hai ngàn năm Việt Nam và Phật Giáo, Sepulveda (California, USA): Phật Học Viện quốc Tế, 1981.

Nguyễn Mộng Giác, Nghĩ về văn học hải ngoại (tiểu luận), nxb Văn Mới, California, USA, 2004. (Nguồn Internet: ebook, Thư Viện Hoa Sen.)

Nguyễn Hiến Lê, Đời viết văn của tôi, nxb Văn Nghệ, Cali, USA, 1986.

Nguyễn Vy Khanh, Nhà văn Việt Nam hải ngoại, nxb Nhân Ảnh, San Jose, USA, 2019.

Nguyễn Vy Khanh, Văn học hải ngoại 20 năm đầu thế kỷ XXI,(Nguồn Internet: Posted by Hội Ái Hữu Petrus Trương vĩnh Ký Úc Châu, July 2020.)

Nguyễn Vĩnh Thượng, Tư tưởng Phật giáo trong văn học thời Trần, USA: LuLu Press, 1921.

Nguyễn Vĩnh Thượng, Về tác giả bài thơ “Mất Mẹ” trong truyện “Bông Hồng Cài Áo” của Nhất Hạnh. (Nguồn Internet: posted by Hoa Vô Ưu, Jan 2014; Trang Nhà Quảng Đức, An Phong An Binh.)

Phạm Thế Ngũ, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Quyển I, II, III, Saigon: Quốc học tùng thư, 1961-1965.

Phạm Văn Diêu, Văn học Việt Nam, Saigon: Tân Việt, 1960; nxb Xuân Thu in lại ở USA, 1993.

Phùng Khánh & Phùng Thăng, dịch phẩm “Câu chuyện dòng sông”, Saigon: nxb Lá Bối, 1965.

Trang Đài, Tham luận: Văn học miền Nam 54-75, 40 năm văn học miền Nam thất thủ: thế hệ hậu chiến khước từ thân phận mồ côi, Nguồn Internet: posted by Văn Việt on 25 Dec 2014.

Thuỵ Khuê, Văn học miền Nam 1954-1975. Nguồn Internet: posted by Văn Việt on 14 July 2014.

Thích Nguyên Siêu, Thích Tâm Hoà, Bùi Ngọc Đường, Huỳnh Kim Quang, Vĩnh Hảo, Văn học Phật giáo Việt Nam hải ngoại – Sưu khảo, Nguồn Internet: ebook, 2010, California, USA.

Thích Tâm Hải, Giới thiệu vài nét về văn học Phật giáo Việt Nam, Nguồn Internet: Nguyệt san Giác Ngộ, 1999-2000; posted by Thư Viện Hoa Sen.

Thích Tuệ Sỹ, Dẫn vào thế giới văn học Phật giáo. ( Nguồn Internet: posted by Thư Viện Hoa Sen.)

Thích Thiên Ân, Zen Philosophy, Zen Practice, Berkeley (Cali, USA): Dharma Publishing, 1975.

(Thích) Thiên Ân Đoàn Văn An, Triết học Zen, tập I và II, Saigon: Đông Phương, 1963 – 1964.

Thích Mật Thể, Việt Nam Phật giáo sử lược, Hà Nội:1944. Phật học viện Quốc tế tái bản, Cali, USA, 1984.

Việt Thạch Nguyễn Thuỵ Đoan, Văn học Phật giáo hải ngoại: nỗ lực vượt qua rào cản ngôn ngữ trong sứ mệnh hoà giải.
(Nguồn Internet: posted by Thư Viện Hoa Sen on 07 Aug 2021.)

Võ Phiến, Văn học miền Nam tổng quan, nxb Văn Nghệ, Cali, USA, 1986.

Võ Phiến, Văn học miền Nam (gồm 7 tập), Cali, USA, nxb Văn Nghệ.