Khi Ky Uc tro ve – Nguyen Viet Hung

Tôi sinh ra ở thành phố Đà Nẵng và lớn lên trong những năm tháng ác liệt của một cuộc chiến tàn nhẫn và đẫm máu nhất trong lịch sử của dân tộc. Tuổi thơ non dại của tôi bị ám ảnh từng ngày, từng đêm bởi nỗi sợ của chiến tranh. Cuộc chiến tàn khốc đã cướp hết tuổi thơ của tôi sự ngây thơ và sự bình an trong tâm hồn. Như tấm khăn tang trắng phủ lên đầu người vợ trẻ có chồng vừa chết trận trong xóm, chiến tranh như tấm vải liệm vô hình phủ kín những năm đầu đời của tôi. Nỗi lo sợ dường như lúc nào cũng phảng phất trên khuôn mặt của ba mẹ tôi và nó cứ lớn dần theo những tin tức hàng ngày về tình hình chiến sự lan truyền trên báo chí, đài phát thanh và truyền hình. Để rồi hằng đêm, giữa khuya khi có pháo kích, ba mẹ tôi lại đánh thức chúng tôi dậy để rồi tất cả chúng tôi phải chui xuống gầm gường nằm, với hy vọng may ra tránh được mảnh đạn!!! Thế rồi sáng hôm sau tôi đi học, tôi mới biết rằng mình đã mất thằng bạn ngồi kế bên vì tối hôm qua nhà nó chẳng may bị đạn pháo rơi trúng và cả nhà nó đã chết với hình hài không còn nguyên vẹn. Trong hoàn cảnh như vậy, những chuyện cổ tích, những giấc mơ thần tiên đều phai nhạt, tôi sớm đủ chín chắn để hiểu rằng sống được là điều quan trọng nhất và mọi thứ khác đều vô nghĩa.

Thế hệ tôi là nạn nhân đau đớn và là chứng nhân buồn bã của niềm tủi nhục của tổ quốc trong thế tranh dành quyền lực giữa hai thứ chủ nghĩa khốn kiếp. Bi thảm thay, sự kết thúc bất ngờ của chiến tranh chỉ tạo ra những bi kịch liên liếp. Ba tôi sau những tháng ngày “học cải tạo”, ông như một con chim bị đạn, khô héo cả thể chất lẫn tinh thần và trở thành một người yếm thế. Bà chị đầu của tôi theo chồng lên thuyền ra khơi, trốn khỏi Việt Nam. Người mẹ nhẫn nại, đảm đang và can đảm của tôi, đã vất vả vô cùng để nuôi gia đình với đàn con chín đứa. Năm ấy tôi chưa đầy mười ba tuổi.

Hòa bình, đối với nhiều người miền Nam như tôi, còn tệ hại hơn chiến tranh nhiều. Một thời đại mê sảng, thời đại thù hận, thời đại u tối mới trên quê hương Việt Nam bắt đầu.

Niềm vui “được” đi học tiếp dưới mái trường “Xã Hội Chủ Nghĩa tươi đẹp” của tôi quá ngắn ngủi. Chỉ hai năm đầu tôi đã cay đắng nhận ra rằng trường chỉ là bộ máy tuyên truyền thô bạo của chế độ hà khắc. Ở đây kiến thức và chân lý sẵn sàng bị bóp méo cho những mưu đồ chính trị. Chúng tôi bị huyễn hoặc bằng những bài học về “ba giòng thác cách mạng”, phải thuộc lòng những khẩu hiệu gian dối và những danh từ rỗng tuếch. Chế độ mới đã phân loại gia đình tôi là những công dân hạng hai, lạc hậu về chính trị, là tầng lớp bị hắt hủi nhất trong bậc thang giai cấp đương thời. “Học tài thi lý lịch”. Tôi không thể theo học đại học sau khi tôi học xong trung học vì “vết nhơ” chính trị trong quá khứ của ba tôi. Tương lai của tôi chỉ là chiến trường Campuchi đang khốc liệt để làm “nghĩa vụ quốc tế” hay lao vào nơi khỉ ho cò gáy để làm “thanh niên xung phong” đào kinh, vét mương và tải đạn ra chiến trường. Thế thì giấc mơ nào cho tôi? Như hàng triệu người miền Nam khác, tôi chỉ còn một con đường duy nhất là lao ra biển để tìm đường sống…

Sau 3 lần nằm nhà lao và hơn 50 lần cố gắng vượt thoát bằng cả đường bộ và đường biển, cuối cùng tôi cũng đến được bến bờ tự do. Ngày 28/3/1983, tôi cũng được quỳ xuống trên bãi biển Trenganu ở Mã Lai, để cảm tạ Ơn Trên. Chiếc ghe chưa tới 10 mét rưỡi mà chứa tới 69 người, như chiếc lá tre bồng bềnh hơn 7 ngày đêm trên Thái bình Dương. Tự Do hay là chết? Tôi đã chờ đợi quá lâu. Tự do đâu phải dễ dàng. Bao nhiêu người đã không may? Bao nhiêu người đã nằm lại dưới lòng đại dương sâu thẳm? Bao nhiêu người con gái đã bị hải tặc Thái Lan hãm hiếp và bắt cóc? Thật lạ, trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, chưa bao giờ cả nước như đang chuẩn bị cho một cuộc tự sát tập thể. Dù biết ra đi là cầm bằng cái chết hay ôm tủi nhục suốt đời. Ai cũng hân hoan lao mình vào địa ngục trước mặt. Để rồi chồng mất vợ, vợ lạc chồng, con mất cha mẹ, cha mẹ mất con, những giọt nước mắt Việt Nam lại vang vọng đất trời.

Đến Mỹ đầu năm 1984, giống như bao người “di tản buồn” khác, một thân một mình tôi bắt đầu cuộc đời mới với nhiều hy vọng và lạc quan. Sau hai năm lăn lộn ỏ các hãng xưởng, làm đủ mọi công việc “cu li” kiếm tiền để trang trải cuộc sống, tôi nhận thức được rằng giấc mơ Mỹ phải bắt đầu bằng một nền học vấn tốt. Khi giấc mơ ấy thành sự thật, nó sẽ giúp tôi làm được những gì tích cực hơn trong cuộc đời còn lại của mình. Thế là tôi quyết tâm quay trở lại giảng đường đại học cho dù phía trước tôi là muôn vàn khó khăn.

Từ ngày bước chân lên con thuyền mong manh ở Bà Rịa, Vũng Tàu đến nay đã gần 40 năm. Thời gian tôi sống ở nước ngoài nhiều hơn thời gian tôi sinh ra và lớn lên trong nước. Trong từng ngần năm ấy, quê hương Việt Nam vẫn trong tôi trên mỗi chặng đường. Rõ ràng quên đi một phần đời mình hoàn toàn không dễ dàng. Việt Nam trong tôi vẫn là một Việt Nam mến yêu, hiện về rất rõ trong những giấc ngủ ở quê người.

8/15/22
VN