Tưởng Niệm Về Nhà Thơ Bùi Giáng
Vũ Ký
Giai Phẩm Xuân Người Việt Tân Tỵ 2002
Cách đây khá lâu, trong cuộc đời làm thầy giáo tình lẻ của tôi, lúc tạm dứt cuộc đời làm sinh viên ở Hà thành, tôi hân hạnh được ba người đệ tử – có thể gọi là đệ tử được không nhỉ vì tôi không lập một môn phái nào để trở thành là sư phụ của họ – đúng hơn là ba người em lớn thân thương và lỗi lạc. Đó là Bùi Giáng, Tạ Ký và Nguyễn Thùy.
Không lớn hơn họ bao nhiêu tuổi và cũng là đồng hương, họ học với tôi từ lớp nhỏ ở bậc Trung học Pháp như Bùi Giáng, Nguyễn Thùy, từ hết cả bậc Trung học ở trong bưng rồi về thành Huế và rồi sau này là đồng nghiệp với mình như Tạ Ký.
Ở xứ Quảng xa xăm, Bùi Giáng từ miền sông Thu Bồn đổ xuống, Tạ Ký từ miền núi Quế tạt qua, Nguyễn Thùy từ Phước Tiên đến, là những “du học sinh” lặn lội ra thành phố Hội An nho nhỏ, khá văn minh thoảng mùi nước mắm, cá tôm hăng hắc và thơm mùi á phiện trong các phố hẹp có đông đảo các chú Khách Tàu. Một trường trung học tư thực nho nhỏ – trường Viên Minh – mọc lên trên bờ sông Hội An chi chít ghe thuyền phảng phất cảnh rộn rịp thời Phố Hiến Chúa Trịnh vào cuối thế kỷ 17. Ở trường này, những ông giáo từ Hà thành hoa lệ đổ dồn về dạy học tạm sống qua ngày: đó là nhà thơ Lưu Trọng Lư, rồi Lưu lấy vợ luôn ở đó, nhà văn Phạm Văn Hạnh của nhóm Tinh Hoa Hà Nội và chúng tôi, ba, bốn người của địa phương xứ Quảng Nam – Đà Nẵng.
Nhắc đến bộ ba Nguyễn Thùy, Bùi Giáng, Tạ Ký, ngày nay kẻ mất người còn, có người trong hiện tại vẫn gọi tôi là Thầy như Bùi Giáng và Nguyễn Thùy, có người để được thân mật hơn, đã bỏ lối xưng hô “Thầy, Con” từ bao giờ mà gọi bằng tiếng “anh, em” ngọt xớt như Tạ Ký… Tôi thật vô cùng bùi ngùi về bao nhiêu hoài niệm cũ ray rứt được sống với họ, trên mảnh đất quê hương đất nước suốt thời bình đến khi thời loạn. Nhớ về họ, tôi cũng không có chút hậu ý nào lấy cái thực danh và chân tài của cả ba làm cái hư danh phảng phất cho chính mình.
Cả ba, Nguyễn Thùy, Bùi Giáng và Tạ Ký đều có quan niệm sống lạ thường là bất cần dư luận và miệng thế, qua nhiều lần tâm sự với tôi như anh Tạ Ký và Bùi Giáng. Họ có nhiều dị biệt, mâu thuẫn thay! Mà tương đồng. Cuộc đời họ không gian truân, chìm nổi nhiều lắm nhưng mỉa mai thay, cả ba nuôi dưỡng trường kỳ tâm trạng bất đắc chí, chung thân bất mãn lại có vẻ như hận đời chút chút. Tuy tỷ lệ có khác nhau, cả ba đều “bất bình thường” đẩy đến độ “bịnh hoạn” như Bùi Giáng. Họ có tài vượt chúng do trí sáng tạo đặc biệt của mình. Và ở đây, “bất bình thường” rất đúng là dấu hiệu của tài hoa. Đã có lần, nửa đùa, nửa thật, tôi nói với Giáng, Ký và Thùy: “Tuy lớn hơn các em không bao nhiêu tuổi, nhưng nếu còn sống lâu, anh sẽ viết cho cả ba, mỗi người một tiểu sử với tâm tình và nhiều giai thoại lặt vặt làm thành những mẩu ‘Đời văn’ ngồ ngộ cho văn học sau này”.
Bùi Giáng
Từ năm 1943 ấy, Bùi Giáng thôi học ở Hội An, rồi lui về cố hương làm Tô Vũ mục dương (chăn dê) ở Trung Phước, miền rừng núi xứ Quảng. Theo nhiều người cho biết, Giáng nghêu ngao làm thơ, ca hát, điên khùng suốt năm tháng. Lúc tôi gặp ở Sài Gòn thì Bùi Giáng đã nghỉ dạy học tư để cầm cọ bôi mực loay hoay vẽ tranh trong một căn nhà lụp xụp ở ngõ hẻm Trương Minh Giảng, và Giáng cũng vừa in xong mấy cuốn sách giáo khoa. Luận đề về Chu Mạnh Trinh, Tản Đà… ở nhà xuất bản Tân Việt, tác quyền không có bao nhiêu nên Giáng cũng là con bà “Cả Đọi”. Giáng khoe đã thực hiện được hơn 100 bức tranh tuyệt phẩm trên giấy bản. Tôi đã mang về bán giùm cho Giáng một số nhưng chẳng ai mua vì không ai hiểu nổi công trình nghệ thuật của họ Bùi, ai nhìn vào cũng chỉ thấy một màu sắc rối nhùi, tăm tối. Giáng đã vẽ theo khuynh hướng sáng tạo riêng của mình, nhắm vào chủ đề từ tư tưởng tâm thức của Giáng, một phần minh họa những giá trị tư tưởng ẩn tàng qua các thần thoại cổ Hy Lạp cộng thêm với những ý tưởng và ý hướng của Đạo học Đông phương nên chẳng một ai hiểu nổi.
Có một điều thực là dễ thương và đáng ghi nhớ hoài ở ba đệ tử “khá uý” của tôi là họ đều hết mực thương người thầy cũ và cũng là người anh của họ… bằng cách nâng đỡ tôi về vật chất, về tinh thần với khả năng có thể của mình, mỗi lần Thầy đi tù về. Sau Hiệp ước Genève, từ trại tù Việt Minh rừng cao núi thẳm, ở trong bưng về, tôi xin dạy ở trường Trung học Khải Định, Huế, thì đã thấy ngay trong lớp Đệ Nhất tôi dạy có người học sinh cũ là Tạ Ký rồi. Thế là Ký tìm đến nhà thăm viếng thường xuyên, giúp đỡ vặt vãnh trong khi vợ tôi nheo nhóc, trong tình trạng chưa phục hồi vật chất đến tinh thần.
Còn Thùy mời tôi vào dạy tư thục Thùy mới mở khi tôi ở tù Phú Quốc về, giữa Sài Gòn rộn rịp và giàu có, tôi không có một xu dính túi. Cũng như Tạ Ký, Bùi Giáng lăng xăng hồi thúc tôi viết bài và thân hành đạp xe đi bán ở các tòa báo để “cứu khổ, cứu nạn”. Có bài “Thời Gian và Con Người” của tôi, Giáng đã bán cho tuần báo Mai của ông Hoàng Minh Tuynh vừa bán cho Diễn Đàn Thi Văn của Đài phát thanh Sài Gòn. Khi nhà báo trả tiền nhuận bút, Giáng chạy băng đến nhà tôi vừa trao tiền mừng rỡ và còn khoe: “Có cả hai bài, bài của Thầy và bài của em nữa, trong số này. Thầy giữ kỳ số báo Mai nấy làm ‘kỷ niệm'”. Và bài của Giáng trong số báo Mai ấy nhan đề là “Người Tây Phương nhìn Đức Khổng” (Mai 10-7-1961).
Bài báo của Giáng được giới độc giả trí thức, học giới và một số người ngoại quốc nghiên cứu về Đông phương nhiệt liệt ca ngợi, trong số ấy có Linh mục Bửu Dưỡng và R.P Cras. Bài báo báo hiệu sự xuất hiện của một nhà văn tư tưởng (écrivain philosophe) lớn trên văn thi đàn nước Việt là họ Bùi… và Bùi Giáng được nổi tiếng từ đó. (Bài viết về Đức Khổng của Bùi Giáng trả lời cha Cras sẽ đăng tải trên số báo sau này. Hiện tôi có đem ra nước ngoài số báo Mai ấy.) Có lần Giáng bị sa thải ra, không cho dạy tư tại trường Tân Thanh Sài Gòn của ông Phan Út, tôi đến năn nỉ ông ta cho Giáng dạy lại thì ông ta phân trần: “Giáng hại tôi rồi! Tan cả một lớp Đệ Ngũ đông học sinh”.
Một buổi tối trời, mặc trong mình bốn chiếc sơ mi. Đang giảng bài say sưa, Giáng bỗng nhiên cởi trần từng chiếc, bỏ trên bàn thầy giữa sự ngơ ngác của toàn thể học sinh, rồi Giáng bảo lũ nhỏ ấy cùng Giáng leo lên lầu thượng. Đoạn Giáng lấy ngón tay chỉ lên mặt trăng mà la lớn: “Kìa các em hãy nhìn lên cao kìa! Chân lý đó! Chân lý đó!”; thế là học sinh rủ nhau đến văn phòng nhao nhao phản đối vị giáo sư khùng ấy, rồi xin thôi học. Lúc Giáng không còn dạy học ở trường tư nào nữa thì Giáng lại viết sách giáo khoa cho nhà xuất bản Tân Việt và các sách Giáng viết về Tản Đà, Chu Mạnh Trinh, Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị v.v… đúng là những tiểu luận, ý tứ tùy hứng, lạc đề, mông lung và mới lạ, hơn là đi vào khuôn khổ cổ điển của lối văn cử nghiệp của sách giáo khoa.
Lối xử sự của Giáng thực bất ngờ. Có một điều tôi do dự không biết có nên viết ra đây không là có lần chúng tôi mời Giáng đến ăn điểm tâm tại nhà; khi ăn xong đĩa hột gà “ốp la” là Giáng đưa cả đĩa lên mồm, liếm tròn quanh dĩa rất tự nhiên và rất lâu làm vợ tôi sững sờ đứng gần đấy không dám cười. Bà vội xuống nhà bếp làm vội thêm mấy trứng nữa. Mỗi lần có biến cố gì trong đời Giáng, Giáng không quên chạy đến cho tôi biết, nào Giáng khoe học Đức ngữ để đọc Heidegger và Hégel… Và Giáng viết Đức ngữ cũng rất “chì”. Giáng nói tiếng Pháp, tiếng Anh, làm thơ Pháp, thơ Anh, và chữ Hán cũng hiểu rất thâm thúy. Giáng làm thơ chữ Hán cũng dễ như làm thơ tiếng Việt. Dịch thuật ngoại ngữ sang tiếng Việt của Giáng siêu tuyệt. Những quyển “La porte étroite” (Khung cửa hẹp) của André Gide, “Le Petit Prince” (Hoàng tử bé) của St. Exupéry, Giáng dịch rất thoát, rất tài tình, hầu như đi hẳn vào được cảm xúc nội tâm của tác giả. Nhiều đoạn của Martin Heidegger, của Géarard de Nerval, Giáng dịch cũng nhuần nhuyễn, sát ý vừa diễn đạt được cái sâu sắc, cái phiêu bồng của nguyên tác. Cả thơ của Walt Witman, Emily Dickinson… cũng vậy. Giáng đọc rất nhiều về tư tưởng, về triết, về thi ca, văn chương, thần thoại Hy Lạp, Kinh Phật, sách Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, truyện kiếm hiệp của Kim Dung và Ngọa Long Sinh và cả một số sách về Luận Lý học. Hầu như các sách của Heidegger được dịch sang Pháp, Anh, Giáng đều có và còn nhờ bạn bè mua cả nguyên tác Đức ngữ. Giáng so sánh, đối chiếu các bản dịch, tìm ra những chỗ, theo Giáng, dịch đúng hay còn thiếu sót hoặc bỏ qua nguyên tác không đem vào các bản dịch đó. Nhưng, theo lối “phiêu bồng, ngao du”, nhiều khi trong lúc dịch, Giáng đem cả tư tưởng, ý nghĩ mình vào, trộn cả Đông phương, Tây phương trong khi dịch nên người đọc lắm lúc nhức đầu không rõ chỗ nào thật sự là của tác giả chính của tác phẩm. Giáng có biệt tài chỉ lật sơ qua một tác phẩm là thấy cần mua hay không, cần đọc hay không và hầu như nắm được ngay những điều thiết cốt mà tác phẩm đề cập. Do năng khiếu hay cái tuệ trí nào trong Giáng. Chính vì thế mà khi cầm lướt qua cuốn “Nghệ thuật viết và đọc văn” của tôi (Phạm Văn Tươi tái bản 1956), Bùi Giáng buột miệng nói: Thầy viết súc tích mà cổ điển, uyên bác lắm! Nếu em viết về luận đề nầy, em sẽ rong chơi đến một bộ “Bách khoa tự điển” cũng không dày bằng! Nhưng toàn bộ tác phẩm của thầy, em mạn phép phê bình, chỉ có một câu là em nghĩ cũng ưng ý nhất. Câu đó chắc Thầy chịu, không biết”. Giáng giở sách trang đầu và đọc lớn: “…Chúng tôi lại không muốn nói cao siêu như Đức Phật đã chỉ trăng với ngón tay mình mà bảo các đệ tử: “Các người hãy nhìn theo ngón tay ta mà thấy rõ trăng kia! Nhưng ngón tay ta không phải là trăng đâu!” Tuyệt lắm, thấy trưng dẫn vào chỗ đó thực tuyệt diệu! Em chịu lắm!”
Tất cả các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, Giáng đều đọc cũng như các nhà tư tưởng như Simoe Weil, Karl Jaspers, Gabriel Marcel, Merleau Ponty, Jean Paul Sartre, Nietzche, Albert Camus, René Char, Gérard de Nerval, Baudelaire, Apollinaire… St John Perse, Witman, Dickinson… Về Việt Nam, Giáng thuộc thơ Huy Cận, Xuân Diệu và lúc nào cũng nhắc đến Nguyễn Du (truyện Kiều và thơ chữ Hán). Về các nhà văn, nhà thơ Việt đương thời với Giáng, Giáng chỉ đọc lướt qua nhưng nhiều khi trích, thuộc một số câu, số đoạn mà Giáng cho là “kỳ tuyệt”. Có một bận, rất túng tiền, Giáng mang một chồng tác phẩm “Tư tưởng hiện đại” của Giáng đến tôi để bán lấy ít tiền còm. Sách ấy dầy, tiền ấn loát hình như là của bác sĩ Bùi Kiến Tín, người bà con của Giáng chi cho. Sự thực, tác phẩm viết rất uyên bác, cô đọng, có đoạn nửa đùa nửa giỡn với nhiều suy tư triết lý – đoạn tôi cố gắng mà không hiểu nổi vì cấu trúc, diễn đạt tư tưởng bằng một trạng thái bất bình thường của con người hơi loạn về ý thức, tiềm thức. Có nhiều câu, Giáng đệm vào nhiều chữ, nhiều câu, nhiều lời tục mà thô, thô mà tục, đọc đến mà thương cho cái khùng của Giáng.
Còn nữa, còn nhiều nữa những giai thoại về Giáng mà tôi được biết, chìm trong cái mịt mù của thời gian từ hồi ở Phố Hội xứ Quảng đến hồi Giáng vô Sài Gòn…
Bùi Giáng không đọc và cũng thường ít biết về chính trị, kinh tế. Vốn “thật dạ tin người”, Giáng sống với cái “tấm từ bi” sẵn có nơi mình nên rất thương người và cũng rất dễ tin. Có lần, một người bạn chụp hoặc lấy đâu được tấm hình Brigitte Bardot nằm trên ghế xích đu nơi bải biển Pháp, đang đọc một quyển sách nào đó, nói với Giáng là “Anh không biết, chứ Brigitte bên Pháp thích sách anh lắm, nhất là những đoạn anh nói về Nàng”. Giáng ta hỉ hửng tin, hỏi đi hỏi lại người bạn, cho đó là sự vừa lạ, vừa “thanh khí lẽ hằng”. Giáng thường nhắc đến Marylin Monroe, Kim Novak, Brigitte Bardot, Kim Cương, Thu Trang… Trong tập “Ngày Tháng Ngao Du”, Giáng có viết một đoạn mà tôi nhớ đại cương như sau:
“Brigitte Bardot chạy ôm Bùi Giáng bảo:
– Anh yêu ơi, lâu nay em những ghen với chị Marylin, cứ ngỡ anh yêu chị ấy hơn em. Đến nay, em mới biết anh yêu em nhiều, rất nhiều hơn chị ấy.
– Sao cô biết?
– Thì đây nè! Thư anh viết cho em dở ẹc, còn thơ anh viết cho chị Monroe thì bay bướm, lả lướt quá chừng…
– Thư tôi viết cho cô “dở ẹc” mà sao cô bảo tôi yêu cô hơn Marylin?
– Anh còn vờ! Thư viết dở ẹc, thì tình mới thật chứ. Còn viết thư hay quá, quá lả lướt thì chỉ là… vờ vĩnh, giả dối thôi”. (Xin nhắc lại tôi chỉ nhớ mang mang chứ không đúng nguyên văn).
Giữa Nguyễn Thủy và Bùi Giáng vẫn có nhiều bất đồng ý kiến nhẹ nhàng về nhân sinh quan, về suy tư, về xử thế, cả hai gặp nhau ở điểm triết lý là rất mộng mơ, khác với đời, tự bản năng, không cố ý. Người bạn văn thường hay động cái cô đơn tâm thức của Giáng là cố thi sĩ Hoàng Trúc Ly mà Giáng ái mộ thi tài và bản tính.
Thường sau một thời kỳ nằm ở nhà hay ở chùa, không thèm ăn, chẳng thèm đọc sách, chẳng nói văn chương, thơ phú, Bùi Giáng tỉnh dậy rong chơi với cái gánh lĩnh kĩnh đồ vật dơ dáy lượm lặt dọc đường. Giáng đây đó đi khắp phố phường. Rồi nghêu ngao thơ phú, có khi gián tiếp “chửi” chế độ (Cộng Sản), đem cả Chùa, Phật, Khổng, Trang, Heidegger, Nguyễn Du và Hồ Chí Minh ra “đùa giỡn”, bảo là Thầy, là bạn, là tiền thân, đương thời, hậu duệ, là sư huynh, sư đệ, là em, là “học trò” của Giáng… Cái “khùng” đó không rõ từ cái “điên loạn” hay do từ một dụng ý mơ hồ nào, thật khó lòng đoán định. Có khi Giáng đứng ngay giữa đường, làm cảnh sát công lộ, có khi chọc cán bộ để rồi khen đó, mỉa mai, có khi chọc trẻ em, chọc người qua đường, miệng vẫn nghêu ngao, lầm nhầm mọi điều vừa chửi, vừa đề cao, chẳng ai rõ Giáng thật sự muốn nói cái gì. Mọi người cho là “khùng” là “điên” chỉ nhìn mỉm cười rồi bỏ đi. Một đôi kẻ cự nự, gây gỗ thì Giáng hì hì xin lỗi hoặc “trận thượng” lại với cặp mắt hừng hực lửa khiến người đối diện đôi khi khiếp vía. Giáng không hề để ý đến ăn ngủ, đến quần áo. Quấn vào mình đủ mọi thứ áo quần, dài có, ngắn có, đủ màu, bỏ đủ mọi thứ lượm lặt được vào túi, lại còn mang một xách trên tay, trên vai; ăn bất kỳ lúc nào, sắn khoai, cơm, bánh mì hôi, thiu gì cũng được, ăn ngay giữa đường, giữa chợ; ngủ ở chùa, ở nhà bạn, có khi ngủ ngay trên đống rác, giữa đường hay lề đường, nơi hàng hiên nhà ai đó. Giáng nhiều lúc đi đường, dừng hoài bên một bàn khách đang ăn, đợi khách ăn xong là húp ngay, ăn lấy những gì còn thừa. Đã thế mà còn “khen” hoặc nói bóng gió về các khách đang ăn, không tục nhưng thật không ai hiểu ra sao khiến khách nhiều lúc vừa thẹn, vừa cười như được khen tặng hết lời. Nhất là các khách vợ chồng hay bồ bịch đang ngồi ăn thì Giáng nói một hồi khen ngợi “giai nhân” chàng trai diễm phúc “tu mấy kiếp” mới được giai nhân như vậy. Đôi người thấy ngô nghê kêu cho Giáng một tô phở hay hủ tiếu, Giáng từ chối nhưng khách nài ép và Giáng bưng tô đó ra lề đường, ăn, húp, đôi khi liếm sạch cả tô rồi hề hà khen ngon, ca ngợi đây là “bát cơm Phiếu Mẫu”, là “tấm lòng Bồ Tát” đã ban cho. Một lần, cũng lối đó, Giáng bị một người khách trẻ đang ngồi ăn với “bồ” xua đuổi vì thấy Giáng dơ dáy, Giáng không đi, còn kè nhè đủ thứ nên bị khách xô ngã, đánh đến bầm mặt. Giáng vừa chạy, vừa chửi rủa, đến nhà Nguyễn Thùy, bảo Thùy đi với Giáng đến đánh cái tên “mất dạy” ấy. Thùy cũng đi, không phải để đánh mà để giải thích thôi, nhưng đến nơi thì khách đã đi mất, lần ấy là tại một quán đường Ngô Gia Tự (Minh Mạng cũ) gần nhà Thùy.
Giáng có lần chọc cả khách ngoại quốc. Một lần, lang thang xuống đường Tự Do, thấy một cặp vợ chồng Liên Xô đang đứng, nói năng gì đó. Giáng nhảy xó đến “bóp” nhũ hoa cô gái, cô gái hoảng hốt chạy, chồng cô ta nhìn thấy Giáng thấy kỳ cục, cho là “điên” nên chỉ cười. Giáng quay lại lấy cái bị “cái bang” của mình thì bị hai công an đến chận hỏi Giáng sao làm chuyện bậy bạ, Giáng trả lời: “Tôi muốn xem bình sữa Liên Xô nuôi nổi dân ta được bao lâu thôi mà!”.
Giáng không là người thích chính trị, hiểu chính trị. Hồi Cộng Sản mới vào Sài Gòn, Giáng nhiều lúc nghêu ngao gián tiếp chửi Engels, Marx tơi bời nhưng có lúc Giáng cũng khen Cộng Sản, không khen thẳng chế độ mà chỉ mỉa mai bông đùa khen từng cán bộ thôi. Thực sự, không có thể rõ là Giáng khen hay chê. Giáng nghe đâu được có người nói với Giáng rằng Hồ Chí Minh có đọc thơ Bùi Giáng và khen Giáng nức nở, Giáng cho rằng bên kia lằn mức còn có tên “thượng thặng” CS hiểu mình. Trong một cuộc gặp gỡ với Huy Cận ở Sài Gòn vào năm 1985 hay 1986 gì đó, Giáng đã hỏi Huy Cận tại sao theo Cộng Sản; Huy Cận đã nói với Giáng: “Thử nghĩ có còn cái gì nữa khá hơn đâu!” Và có thể Giáng đã cho Huy Cận có phần chút chút hữu lý! Và cũng theo Thùy, Giáng không bị công an bắt giữ, có lẽ một phần do thấy Giáng “điên điên khùng khùng,” không thấy Giáng có thái độ hoặc hành vi chống đối chúng ra mặt, phần khác có thể nhờ sự nhắn nhủ, chỡ che của Huy Cận và Hoài Thanh (thầy Bùi Giáng). Những gì ở Giáng đột xuất bằng hành động, bằng suy tư, bằng quan điểm thì có Trời mà hiểu. Có lần cùng ăn cơm ở nhà Nguyễn Thùy với Nguyễn Đức Quỳnh, Giáng tranh luận gì đó với Nguyễn Đức Quỳnh (sau đôi lần gặp nhau ở Đàm trường của Nguyễn Đức Quỳnh đường Phan Thanh Giản) Giáng tức giận xô bể cả chén bát, ly tách xuống đất… lúc ấy, Thùy bận đi dạy nên rời bàn ăn từ trước, vợ Thùy không hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện.
Giáng đặc biệt thương đàn bà, con gái và trẻ nít. Những bà cụ, những bà hàng rong hay buôn bán lẻ tại các chợ, Giáng thường dừng lại hỏi han, chọc phá, bông đùa, đọc thơ, kể chuyện lông bông, nói đến Phật, đến Chúa, đến CS một cách đùa giỡn để chọc vui các bà. Giáng đau xót vô cùng trước cảnh những người già, tật nguyện, khổ sở, khóc than… nhưng Giáng đành tìm cách quên đi, không nhắc đến vì có lẽ các cảnh đó quá nhiều, nhan nhản khắp nơi mà “từ bi” thương xót đến bao nhiêu cũng không cứu gỡ được. Giáng tức tối và can thiệp ngay những cảnh người cha, người mẹ đánh con đến ngất xỉu, chảy máu, bầm mình hoặc mắng con bằng những lời độc địa, tàn nhẫn. Vì thế, Giáng thích chơi với trẻ con, mặc cho chúng chọc ghẹo, quấy phá, nhiều lúc ném đồ dơ, liệng đá vào người. Nhiều bà già, nhiều bà buôn bán, nhiều cô hàng thuốc lá dọc đường cũng thích nói chuyện với Giáng, như tìm được nơi lời Giáng những an ủi, chia sẻ và tin tưởng nào đó. Nhiều trẻ con quyến luyến Giáng, chạy theo Giáng, xách túi “cái bang” cho Giáng, che chở cho Giáng và nhiều khi mua quà (chuối, đu đủ, bánh mì hoặc cơm) đem đến cho Giáng, lay Giáng đang ngủ ở lề đường, dậy ăn để cùng chúng rong chơi. Có được tiền, Giáng đem cho lũ nhỏ hoặc đến mua đủ thứ nơi các bà, các cô, các chị bán hàng rong, dù Giáng mua mà chẳng dùng, lại đem cho người khác. Giáng đi đường lượm từng khúc củi, từng chiếc bao nylon đem cho các bà hay cho Nguyễn Thùy. Nhiều lần, Giáng đến Thùy, giở bọc “cái bang” lấy ra nào chuối, nào bánh mì, cơm khô, thịt kho nhận được từ đâu đó, để cả mấy ngày hôi, thiu cùng ăn với Thủy, bắt Thủy phải ăn, Thùy giẩy nẩy nhưng đôi lúc cũng phải chiều lòng.
Hai người nữ mà Giáng thường nói đến là Kim Cương và Ni cô Trí Hải. Giáng gọi là “mẫu thân”. Nhiều lúc Giáng đùa khá tục. Với Kim Cương, Giáng thường nhắc đến trong nhiều thơ và nhiều đoạn trong sách và cứ thường mong được “Kim Cương đái lên mồ mình.” Mặc dù Giáng hay đùa sổ sàng nhưng Ni cô Trí Hải và Kim Cương không bao giờ giận. Giáng lại còn tiếp đãi ân cần và quí trọng, nhất là Kim Cương. Với Kim Cương, Giáng có hơi quá đáng. Đi qua nhà Kim Cương, Giáng bô bô la lên: “Cô Kim Cương có mấy cái… Cô Kim Cương có ba… cái…” (xin không nói, rất tục). Lũ nhỏ chạy theo cũng bắt chước Giáng mà la lên. Một hôm, Giáng kể lại, trong khi Giáng vừa đi vừa hét như thế, Kim Cương mở cổng, chạy ra, lôi Giáng vào nhà rồi than: “Anh Giáng ơi, anh thương Kim (Kim Cương thường gọi mình là Kim) thì xin anh đừng giởn lối đó, tội cho Kim mà! Kim ra đường, bọn nhỏ cứ bắt chước anh gọi như thế, Kim còn dám nhìn ai nữa…” Với Kim Cương, cả Giáng và Thùy đều mến tuy Thùy không mấy tán thành cái tài “đóng kịch” của nữ nghệ sĩ này. Cả hai đều nhìn thấy nơi Kim Cương cái “tinh thần xã hội” khá đẹp, và có lẽ do tinh thần xã hội này mà Kim đã bị quyến rũ bởi Cộng Sản để trở thành “cán bộ cái” khả ố của Cộng Sản. Cuộc đời Kim Cương, nhất là về mặt tình ái cũng rất đáng thương, Kim Cương đã nhiều lần thổ lộ với Nguyễn Thùy. Có lần, Thùy bảo Kim Cương: “Hay là cô lấy anh Giáng làm chồng đi!” Kim Cương trả lời: “Cũng được lắm nhưng mà chịu không nổi ảnh đâu, anh Thùy ơi!” (Xin nói, Kim Cương là bạn thân của vợ Thùy). Một lần nghe Thùy nói về chính trị, phê phán chế độ Cộng Sản, Bùi Giáng đề nghị với Thùy cùng ra Hà Nội, gặp Nguyễn Văn Linh, đưa ra kế hoạch cứu nước, xây dựng Đảng và kinh tế, văn hóa. Giáng thì ngao du, nói bóng gió đây đó, còn Thùy thì bàn kế hoạch. Nhưng theo Giáng, thì cả hai cũng chẳng được Nguyễn Văn Linh tiếp đâu và sẽ quăng kế hoạch vào sọt rác nên phải có Kim Cương cùng đi, Kim Cương có thể nói để Nguyễn Văn Linh chịu tiếp và chịu nghe đề nghị, vì Kim Cương, theo Giáng, là “quốc mẫu” hiện nay mà!
Có lần, Giáng đi bụi đời rồi nằm luôn, ngủ đêm nơi lề đường Trương Minh Giảng, công an bắt Giáng giải về công an phường. Giáng la to lên giữa đường: “Ôi Bác Hồ ơi! Bác Hồ ơi! Lúc Bác trốn ra nước ngoài, nằm lê nằm lết, ngủ bụi ngủ bờ nơi Paris, nói là để tìm đường cứu nước, cứu người vô sản, có thiệt không đó, Bác? Thế mà bọn thực dân để Bác ăn ngon, ngủ yên. Bây giờ Cách mạng thành công, đất nước được giải phóng, thế mà công an của Bác lại hành hạ, bắt bớ người vô sản ngủ bờ, ngủ bụi, đây này, Bác Hồ ơi!”. Tên công an giải Giáng đi, nói với Giáng: “Anh nói gì thì nói, chửi gì thì chửi nhưng đừng động đến Bác Hồ đấy nhé!” Nhiều lần, Giáng bị công an Cộng Sản bắt đưa vào nhà thương Chợ Quán, chính Nguyễn Thùy đã đi lãnh ra hai lần và một nhà sư (hình như chùa Theravada) cũng đã lãnh Giáng một lần. Ngày 29-4-1975, cùng chính Nguyễn Thùy đã bảo lãnh Giáng ra khỏi phường công an Việt Nam Cộng Hòa (Phường 1 gần nhà Thùy ở Chung cư Minh Mạng).
Tất cả những bất bình thường mà người đời cho là khùng điên của Bùi Giáng trong cuộc sống bụi đời, trong văn thơ, trong suy tư, trong tiếp vật xử thế, ứng sự của họ Bùi, phân tích đến cùng, có nhiều nguyên nhân ẩn tàng trong tiềm thức và vô thức của Giáng qua nhiều động tác sau:
– Trước hết, do tác động của những ẩn ức sinh lý từ đầu đời đến ngày nay… Giáng hình như có yêu một thôn nữ vùng quê mình nhưng vẫn yêu trộm nhớ thầm đến ngày rời bỏ ruộng đồng ra thành. Rồi ở Sài Gòn, Giáng âm thầm si mê nhiều người đẹp, có khi là những giai nhân qua đường, nhưng không bao giờ Giáng thổ lộ với ai mà chỉ biểu hiện bằng thái độ và cử chỉ rất dễ thương. Mến một nữ sinh viên Đại học Sư Phạm tên H.H.T.V., Giáng tìm đến trường giữa giờ giáo sư đang giảng bài, réo tên cô ra nói chuyện với Giáng và mạt sát thậm tệ các giảng viên Cộng Sản tại trường Đại học Vạn Hạnh (Đại học Sư Phạm được Cộng Sản dọn về Đại học Vạn Hạnh) là không đáng xách dép cho cô chứ đừng nói giảng dạy. Cô nữ sinh này rất trẻ, không đẹp nhưng duyên dáng (bạn tình của Thùy), thông minh, dạn dĩ và rất giỏi Anh văn. Bùi Giáng có lần đưa thư tiếng Anh cho cô đọc, dịch và giảng, cô đã khiến Giáng ngạc nhiên, nhiều lúc gọi cô là “Thánh Nữ, Tiên Nương”. Một hôm, tại nhà Thùy, Thùy đi đâu vắng, Giáng quì trước cô, bảo cô hãy đặt đôi chân cô lên đầu mình và cho Giáng hôn chân… Năm 1985 hay 1986 gì đó, bỗng nhiên có hai cô, một cô là Đ.N.L.H. (giáo viên cấp ba, người Huế, và một cô nữa (hình như là cháu của nhà văn Cung Giũ Nguyên – cô bảo thế) xách đồ đạc đến nhà Thùy ở luôn cả hai tháng. Giáng đến, thấy thế cũng ở luôn với Thùy (Giáng từng đến nhà Thùy nhiều lần như thế), hai cô sợ quá nhưng rồi chính sau nấy cô giáo viên văn cấp ba (rất trẻ, chừng hai mươi bốn tuổi thôi) lại rất mến trọng Giáng, thường la cà với Giáng tại nhiều quán cà phê, nhiều lúc rất tình tứ khiến mọi khách trong quán rất ngạc nhiên. Chính cô H.H.T.V. nói trên cũng từng làm như thế. Có điều nói là Giáng tuy đùa giỡn thất thường, có la hét lung tung nhưng người tỏ ra thông cảm với Giáng thì Giáng lại không có một cử chỉ hay lời nói cợt nhả, bậy bạ nào. Vì thế, tuy rất để tâm đến vẻ đẹp của Mỹ Hạnh (vợ Thủy, Hoa hậu Lục Tỉnh tại An Giang, năm 1957), Giáng vẫn kính trọng, không tỏ ra một lời gàn dở nào cả, cả Mỹ Hạnh cũng rất mến Giáng.
Trong “Tư Tưởng Hiện Đại,” tác phẩm có phần triết của Giáng và các thi phẩm như Mưa Nguồn, Lá Hoa Cồn, Ngàn Thu Rớt Hột… không thiếu những từ, những lời khá tục tĩu, văng ra một cách bất ngờ, sắp vận để trở thành thơ… Về sau, khi đem in các bản văn và chính những nhà xuất bản đã gạt bớt đi, tuy thế vẫn có mùi uẩn ức sinh lý của kẻ tài hoa. Giáng tự coi mình là “Bán dủi,” là “Bốn lù”. Nghĩ ra, tất cả đáng yêu, đáng thương hơn đáng trách.
– Trong những lần nói chuyện với tôi, với Tạ Ký và có thể với người khác, Giáng có mặc cảm hơn người và độc đáo trong sáng tạo tư tưởng. Văn thơ của Giáng, theo Giáng, tuy thế, vẫn hầu như bị một thế lực văn hóa, văn hóa về phe tư bản nào đó nhận chìm (nhất là sau khi căn gác Giáng ở bị cháy, đốt toàn bộ sách vở, không rõ nguyên nhân thực ra sao), không cho ngóc đầu lên được. Giáng cũng hận rất nhiều khi viết bài ca ngợi một số bạn văn do yêu cầu hoặc do tìm thấy được một đôi câu, một đôi đoạn khá đẹp nhưng rồi sau đó, lại phê phán, đả kích, gièm pha Giáng. Do đó, Giáng có mặc cảm không tốt đối với nghệ sĩ đương thời và đâm ra “thù nghịch” với một số văn đoàn quen biết lúc bấy giờ.
– Nhưng sâu xa và suy đến cùng, thái độ, tâm trạng, xử sự nửa say nửa tỉnh và khi tỉnh khi say của Giáng, tất cả cái bất bình thường ấy nằm trong một sự bế tắc nan giải về tư duy và tư tưởng của Bùi Giáng. Giáng đọc rất nhiều Khổng, Phật, Lão và viết về Khổng, Lão, Phật rất siêu bằng những luận giải và tìm hiểu độc đáo của mình. Nhưng hầu như Giáng ngã hẳn về Phật và Trang Chu, cho đấy là nguồn sinh khí và tâm lực của Đông phương mà chưa ai lĩnh hội đến cùng như Giáng. Cái rong chơi với mở đồ linh kinh, nhóp nhúa trên vai rồi bạ đâu ngồi đó, yên nghỉ và nói làm xàm hoặc la hét của Giáng, Giáng tưởng chừng như một hình thức hiện đại của Bồ Đề Đạt Ma hay của Trang tử ngao du thiên hạ. Giáng học tiếng Đức và viết Đức cũng rất hay để đọc Hégel, Heidegger và đọc Nietzsche, Sartre, Albert Camus, René Char, Simone Weil, St Exupéry, Gide, Holderlin (thi sĩ Đức), Witman (thi sĩ Mỹ)… cảm thông với một cách khác đời. Giáng không băn khoăn về sự hiện và sự mất của con người cũng không tư lự để tìm hiểu thế giới mai sau của nhân thế. Tất cả đều là đối tượng suy tư thường trực bất biến của các ý niệm tôn giáo. Những cái “buổi đầu tư tưởng, bình minh nguyên sơ, bình minh đệ nhị, cái giờ “phục sinh” (theo Kinh thánh Thiên Chúa giáo)… Giáng luôn luôn nói đến nhưng hầu như Giáng chưa tìm ra câu giải đáp nằm trong tiềm thức và vô thức của Giáng là vấn đề bản thể sự vật, tính chất của mọi hiện hữu… trên đời. Anh suy tư nhiều về lẽ siêu hình và cái thực thế với thời gian theo triết lý của Heidegger (Kant et le problème de la Métaphysique – L’Être et le Temps), anh phân vân gần như – điên loạn mà không bày tỏ được với ai về sự đồng nhất giữa thực thế và tư duy nằm trong một nguyên lý chung nhất nào đó như “ý niệm” theo tư tưởng Hégel. Anh đọc quá nhiều tư tưởng Đông và Tây phương và tiềm thức anh rối nhùi trong cái mê lộ, mê cung của bản thể, tính chất, hữu thể, cái hữu, cái vô… cho đến tận cùng quả đất, tư duy nhân loại sẽ phải vỡ đầu cố gắng tìm hiểu. Ngày nọ, Giáng xông xộc vào nhà tôi, đưa vội cho tôi cuốn Địa Ngục của Giáng vừa viết và nói: “Thầy đọc cuốn nấy của em, có chết rồi không kịp đọc”.
Có lần tôi sắp đi dạy học, Bùi Giáng tìm đến trao cho sách bỏ túi về thơ của Apollinaire, Aragon, Tagore rồi bảo tôi giải cho đúng danh từ triết: “L’Être et le Néant, le Non-Être” của Jean Paul Sartre bằng triết. Tôi nói tôi không hiểu sâu bằng họ Bùi tuy tôi là đàn anh của Giáng. Và không ai vất vả vì Giáng phá rầy trong giấc ngủ, trong sinh hoạt hằng ngày bằng Nguyễn Thùy. Giáng cho rằng nhờ mình, nhờ nói đến mình mà một nhà văn, nhà triết thời danh bấy giờ nổi tiếng và với thái độ trịch thượng một cách dễ thương, Giáng nhất định Thùy hãy viết thư cho vị giáo sư kia gửi tiền cho Giáng hàng nhật vì Giáng là đối tượng cho sự kính nể phi pháp, phi lý của thiên hạ đối với người ấy. Có những buổi mạn đàm ngắn ngủi giữa Bùi Giáng, Nguyễn Thùy và tôi về thế sự, văn chương, triết lý và bao giờ có mặt tôi thì Giáng cũng giữ được tối thiểu sự nể nang và bình tĩnh, không vung vãi những lời thô bỉ, tục tĩu mà thường Nguyễn Thùy, Tạ Ký hay các bạn thân khác của Giáng được nghe rất bất ngờ ở Giáng. Giáng có lần hỏi Thùy: “Theo mầy, cuốn Kiều có hay không?” Thùy trả lời: “Hay là cái chắc rồi!” Giáng tỏ vẻ phẫn nộ và nói lớn lên, rất cộc cằn: “Mày nói sai rồi! Phải nói: Truyện Kiều dở ẹc, đáng đem chùi… thì Nguyễn Du mới phục mầy, kêu mầy là vĩ nhân tri kỷ…” Thùy không hiểu được câu nói cực kỳ phạm thượng, mất dạy ấy của “đười ươi thi sĩ” và tỏ thái độ bất bình.
Giai thoại về Bùi Giáng còn nhiều. Bất kỳ ai sống ở Sài Gòn trong những thập niên 60, 70, 80 và sau nầy cũng đều có ít nhiều câu chuyện về Giáng, chắc khó có một ai không nhớ một câu chuyện lạ đời về Bùi Giáng. Ngay cả Nguyễn Thùy thân thiết với Giáng, bị “mắng chửi” nhiều khi thậm tệ cũng như từng bàn bạc, cãi cọ và gây gỗ nhau như điên, cũng bảo không thể phân tích thế nào cho thật đúng về con người và văn thơ Bùi Giáng”.
Đến nay, qua bao biến chuyển kỳ dị của lịch sử, dân tộc, qua bao tang thương đổ vỡ của Tổ Quốc, số người Việt trước đây từng không chấp nhận và có thái độ chẳng thiện cảm nào đối với con người “Trung niên đười ươi thi sĩ” ấy, hẳn nhiên ngậm ngùi về thái độ của mình đối với những kẻ đã chiêm nghiệm và đã sống trước cái dòng lịch sử oái oăm, bi kịch của cõi thế đắm chìm trong thị phi, sai biệt.
Bùi Giáng vẫn có lối sống đó tại Việt Nam hiện nay và có thể không bao giờ thay đổi được. Nguồn tin mà Bùi Giáng mơ màng thấy trong tư tưởng và trong giấc mơ những lần ngủ vùi trên những đống rác sau cơn “điên”, niềm vui đó vẫn chưa đến với Giáng cũng như với mọi người, với đất nước quê hương. Văn thơ cùng tư tưởng của Bùi Giáng đi vào lịch sử văn học đất nước, đánh dấu một giai đoạn của văn chương Việt Nam vong quốc thì các giai thoại về Bùi Giáng sống cùng những cái “điên loạn, ngông khùng” của Giáng cũng sẽ được nhắc nhở hoài trong văn chương, văn học.
Gần đây trên báo chí hải ngoại, nhiều bạn nói về Bùi Giáng. Là người gần gũi Bùi Giáng khá nhiều từ hồi thư sinh của Giáng đến khi trưởng thành “lỗi lạc, điên loạn”, tôi đóng góp thêm những hiểu biết thú vị của mình cộng với nhiều kể thuật chính xác của vài bạn khác về Bùi Giáng trước và sau năm 1975. Gọi là phác họa chung chung một bức chân dung đa dạng cùng tư duy, tư tưởng phức tạp của Giáng qua các tác phẩm của Giáng, một con người – đúng hơn là một hiện tượng, nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nghĩa hẹp và nghĩa rộng – mà chắc sẽ còn nhiều người nhắc đến trong nền văn học, văn hóa Việt Nam hiện tại.
Nhân ngày giỗ năm thứ 2, tường thuật cuộc tang lễ trước đây của nhà thơ họ Bùi tại Sài Gòn
Sau khi đã viết rất nhiều về nhà thơ họ Bùi, lần này tôi lại cũng nói về nhà thơ quá cố: Một Bùi Giáng bắt đầu đi vào một cuộc sống đích thực triền miên với văn hóa sử Việt Nam. Một Bùi Giáng đi vào cõi bất tử từ mùa thu năm ấy, 1998, “Cõi thần tiên” chớ không phải “Cõi người ta” như nhan đề một cuốn sách dịch của ông. Tôi có dịp nói về cái vui, cái buồn, cái thân tình, cái đùa cợt, cái bất thường sống với người ở quê hương đất Quảng trên mảnh đất Hội An thưở nào cùng ở Sài Gòn từ lúc người vào đời đến khi trưởng thành tao loạn.
Hai mươi năm trời xa cách Việt Nam, lòng mình luôn vọng về người môn sinh tài hoa lỗi lạc là nhà thơ Bùi để gọi lại bao hoài niệm-thân thương giữa tình sự đê gắn bó và tình thân hữu, đồng hương thắm thiết. Nhớ về họ Bùi với rất nhiều nghĩa tình xót xa bùi ngùi, như tôi đã thưa trong bài trước, không có hậu ý nào lấy cái thực danh, chân tài độc đáo của người làm cái hư danh phảng phất cho mình.
Mỗi lần có người thân về Việt Nam là tôi nhờ họ tìm đến thăm Bùi Giáng. Lần thứ nhất tôi được Giáng gửi cho hai câu thơ vớ vẩn trên một mảnh giấy nhàu nát mà tôi nói trong một bài viết. Lần thứ nhì, khi người cháu tôi về Việt Nam, tôi nhờ tìm cách để tìm gặp được nhà thơ và cuối cùng, sau những ngày dò hỏi khá khó khăn, anh ta tìm được Bùi nằm khoèo trên chiếc võng trong vườn nhà người em ở Gia Định, gần chùa Dược Sư. Họ Bùi đang say, miệng nói lảm nhảm, thỉnh thoảng chửi đổng vào thế nhân và thiên hạ sự. Khi nghe nó có người cháu “Thầy Vũ Ký” đến thăm, họ Bùi bước xuống võng, hỏi thăm sức khỏe Thấy và sau năm ba câu chuyện không đâu, vội nhờ cây bút Bic và tập giấy của người khách mang theo viết đôi dòng nguệch ngoạc gửi cho tôi:
“Bùi Giáng kính tặng Vũ Khác Vịnh và Vũ Ký sư phụ. Bùi Giáng L’Empereur des Arabes et Chef suprême de l’Orient vous envoir quoi? L’Enormité de l’Enorme – l’Inoni de la Terre – de la Terre grave et souffrante etcetera…
Noel tới gần chúng ta
Tình yêu vô tận như là hình dung???
Đường qua ngôn ngữ cuối cùng
Niềm vui sơ ngộ não nùng bình sinh
Tòng lai giả minh tâm tình
Còn sơ nguyên mộng phục sinh bây giờ…”
Có lẽ trong cơn bàng hoàng ê ẩm tâm thần nên các vần thơ của Giáng vô nghĩa, khó hiểu và tối tăm vô cùng. Phần lớn thơ của Giáng là như thế.
Đến lần thứ tư, tôi cũng lại nhờ người cháu tìm đến thăm thì Giáng đi vắng và người nhà cũng không biết nhà thơ hiện ở ngõ ngách nào. May mắn lắm, một tuần sau, tình cờ người ấy đi dạo trước Bưu Điện Sài Gòn thì bắt gặp Giáng đang ngồi vắt vẻo trên chiếc xe xích lô có người đạp. Giáng bước xuống xe, anh phụ xe hốt hoảng lại phân trần với người cháu tôi: “Sớm mai đến giờ, ông kêu xe tới đi, đến bây giờ là 4 tiếng rồi; hỏi tiền, ông nói không có; bảo xuống xe, ông không chịu và cự nự, ông bảo tôi cứ kéo nữa đến nhà quen của ông họ sẽ trả tiền cho. Tôi chưa biết phải làm sao đây cho ổng xuống xe.” Người cháu tôi hỏi người phu xe lấy bao nhiêu tiền anh đưa ra trả và mời Bùi Giáng vào một hiệu bán dụng cụ văn phòng phía sau nhà thờ Đức Bà để mua nhiều giấy bút cho nhà thơ và sau khi hỏi thăm tin tức của tôi, nhà thơ vội kê giấy trên sạp viết đôi dòng thăm tôi và gia đình. Lần này nhà thơ không đùa giỡn mà là lời lẽ chân thật, thân tình và trang trọng dễ thương:
Kính gửi Thầy Vũ Ký
Con vừa gặp lại em Vũ Khác Vịnh ở Sài Gòn. Mừng rỡ hết sức.
“Tận cùng bất chợt mà ra
Trùng trùng nhân vật niên hoa buổi đầu”
Thưa Thầy thưa Cô
Vui vô cùng nghe em Vũ Vịnh nói rằng Thầy Cô vẫn mạnh khỏe như xưa (và có lẽ hơn xưa là khác!).
B.Giáng sẽ giao Thầy một tập thơ mới toanh (1996) để Thầy thong dong sử dụng cho phiêu diêu tuế nguyệt. Muôn năm tiến trình…
Kính bút
Học trò cũ của Thầy
Bùi Giáng (ký tên)
1996
(Xin xem thủ bút)
Cùng với bức thư trên, họ Bùi sau đó nhờ người tặng tôi tập thơ Rong Rêu mới in với lời nhã kính thân yêu. Trong đó, bài thơ Giáng để tặng anh Võ Văn Ái, Chủ bút tạp chí Quê Mẹ ở Paris, tôi gửi sang anh Ái bài thơ; anh Ái điện đàm với tôi, xin địa chỉ của họ Bùi, và chắc có gửi tặng nhà thơ một số tiền…
Hai năm qua. Bấy giờ 5 ngày sau khi nhà thơ mất tại Sài Gòn tức vào ngày 12 tháng 10 năm 1998 (họ Bùi lìa đời ngày 7 tháng 10) thì tôi được người bạn báo hung tin từ quê hương. Thiệt là rụng rời, đau xót vì những hoài niệm hồi nào trỗi dậy của người đối với mình, hồi còn ở trong nước, ở miền quê xứ Quảng đất Hội An đến khi vào Sài Gòn, rồi đến lúc tôi ra nước ngoài xa cách mà thấy trò vẫn liên lạc với nhau bằng thư từ thắm thiết… Một chấn động tình cảm bất ngờ do ba chiều triết lý của sự việc: chiều thời gian, chiều không gian và chiều hoài niệm, chiều nào cũng sâu thẳm xa xăm hun hút giữa nhà thơ với mình, bèn trút nỗi lòng bằng đôi câu đối hổn nhiên viết với chân thành thắm thiết gởi đăng trên Văn Nghệ Tiên Phong của Mỹ và tạp chí Viên Giác ở Đức:
Kính viếng hương hồn nhà thơ Bùi Giáng
Ơi hỡi Hoa lạc nguyệt minh, thiên tài vĩnh biệt, gió bụi mây trời, sầu ly hận,
Thôi rồi, “Ngàn thu rớt hột”, xót tình sư đệ, đoái nhìn quê mẹ, rũ màu tang.
VŨ KÝ (Bruxelles 10-1998)
Theo người bạn kể lại rành mạch cuộc tang lễ họ Bùi ở Sài Gòn thì linh cữu nhà thơ quàn tại chùa Vinh Nghiêm; suốt hai ngày 8 và 9 tháng 10, nhiều nhà trí thức, tu sĩ, văn nghệ và dân chúng mến mộ thiên tài đến bái viếng. Họ Bùi Vĩnh Trinh, quê hương nhà thơ ở Quảng Nam có soạn câu liễn thơ:
Lô hỏa thuần thanh.
Với câu đối:
Tài tử thân du Hoan Hỷ địa
Thao bút thi thành phương Ngoại Thiên
(Lửa lò xanh biếc. Quảy rượu thân chơi miền Hoan Hỷ. Múa bút thành thơ chốn Ngoại Thiên)
Đặc biệt có đôi câu đối của các văn hữu thân tình:
“Mưa gió ngàn thu rớt hột về thăm đàm gái núi
Lá hoa máy độ bái cốn vương cấn trận mưa nguồn”
Nhà thơ Tường Linh cũng có câu đối:
“Bùi Huynh – Trung Phước đợi anh về
Đồi cũ mong người thuở giữ dê”
Cũng có nhiều tu sĩ, đại đức các chùa lần lượt cúng lạy. Trong đám văn nghệ sĩ đến chào vĩnh biệt, thấy đủ các thế hệ, nào văn sĩ của Việt Nam Tự Do, một số người văn nghệ Cộng Sản. Và đông đảo xung quanh bàn thờ, có nhiều thân nhân tộc Bùi và đặc biệt có sự hiện diện của nữ nghệ sĩ Kim Cương. Người nghệ sĩ đã đi sâu trong văn thơ và cả cuộc đời của nhà trung niên thi sĩ Bùi Giáng mà có lúc nhà thơ hết lời bỡn cợt, đùa giỡn với người được ghi lại qua mấy giai thoại mà chúng tôi có nhắc đến nhiều trong bài về Bùi Giáng…
Văn thơ của Bùi Giáng là một đại dương, khi dậy sóng thì chuyển biến vô thường thách đố làm sụp đổ mọi tư tưởng của lý trí bình thường. Khi tĩnh lặng, sóng yên gió tịnh thì dưới đáy sâu thẳm nổi lên bao nhiêu kỳ hoa dị thảo dồn dập đến vô cùng! Có những nhà văn viết kỳ tài xuất chúng nhưng vẫn là cái thấp là sà của thế nhân. Có những nhà thơ viết bình thường nhưng siêu nhân quái dị, thỉnh thoảng điểm vào đôi chớp lòa thần khải đột xuất khôn lường. Bùi Giáng ở vào hạng người sau đó ký vậy.
Có người bảo nhà thơ họ Bùi là điên loạn tập thành rồi trở nên thập thành. Có người cho rằng trung niên thi sĩ là con người lập dị đầy cao độ đến kỳ chướng quái gỡ. Dù nói sao cũng đúng cả ở trường hợp họ Bùi, vì đấy quả là đặc tính của thiên tài. Đúng như lời triết gia và nhà kinh tế học nổi danh Anh Quốc là Stuart Mill đã nói: “Cái kỳ cục và sức mạnh của cá tính ở con người kỳ cục đi song song với thiên tài. Cái điều đánh dấu sự lâm nguy to lớn của xã hội chúng ta trong thời đại nấy chính là ta thấy có rất ít người dám kỳ cục dị thường, không dám đi ra ngoài các công thức xã hội.”
“…Bỏ trăng gió lại cho đời,
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.”
BÙI GIÁNG
VŨ KÝ
Bruxelles 6/7/2000

