Tưởng Nhớ thầy Lê Thanh Liêm, Cố Giáo Sư Triết Học Petrus Ký
Đinh Anh Tuấn & bạn bè
Nguồn: Đặc san “Tạ Ơn Thầy, Nhớ Ơn Cô” – Học trò Petrus Ký
Hình lúc thầy Liêm dạy tại Petrus Ký và hình thầy Liêm chụp vào dịp Tết Nhâm Tý (1/1972) với bọn học trò 12B6 – Ảnh trước và sau khi chỉnh sửa bằng AI
Trong 7 năm trời theo học tại Petrus Ký, đây là tấm ảnh duy nhất tôi đã chụp cùng bạn bè 12B6 (và thầy Lê Thanh Liêm, giáo sư Triết). Tôi mang tấm ảnh này trong hành trang khi rời khỏi Việt Nam vào cuối năm 1972. Trong hình, từ trái sang phải tôi nhận ra Trần Tam, Nguyễn Tấn Lũy, Đoàn Danh Hồng, Trịnh Việt Thảo, Võ Minh Phụng, Đức, Phạm Kim Ngoan, thầy Liêm, tôi, Nguyễn văn Bá, Nguyễn Mạnh Tuân và ???
Trong số các thầy cô dạy tôi năm Đệ Nhất, thầy Liêm là vị giáo sư dễ chịu nhất, không hạch hỏi khi bọn tôi trình giấy của ban đại diện học sinh để xin ra khỏi lớp. Ngày xưa bỏ học thì cứ nghĩ là mình khôn ngoan qua mặt được thầy cô, thích thú lắm, bây giờ nhớ lại tôi mới tiếc nuối. Không biết có phải vì tôi trốn học nhiều hay vì trí nhớ giờ yếu kém, những gì mà thầy Lê Thanh Liêm đã dạy chúng tôi suốt năm trời môn Triết Học, tôi chỉ nhớ đến hai triết lý Quy Nạp (Induction) và Suy Luận (Deduction) và câu “Nhân Chi Sơ Tính Bản Thiện”.
Đinh Anh Tuấn, người bạn cùng lớp, nhớ rất chi tiết về thầy Lê Thanh Liêm đã đóng góp bài viết sau về thầy.
Về thầy Lê Thanh Liêm dạy Triết của 12B6, S. nhắc đến làm Tuấn muốn đóng góp một chút kiến và kỷ niệm về vị giáo sư quá cố của chúng ta, sự ra đi của thầy gây niềm xao xuyến không ít trong đám cựu học sinh đã từng học với thầy.
Nhắc đến tất cả giáo sư của 12B6, có lẽ thầy Lê Thanh Liêm là giáo sư mà Tuấn nhớ nhiều nhất vì hai lý do: thứ nhất Triết là môn học hoàn toàn mới của học sinh lớp 12 và thứ nhì tài hùng biện và cách diễn tả đề tài rất tự nhiên của thầy lôi cuốn đám học trò, và bây giờ Tuấn muốn ôn lại chuyện cũ về thầy. Thầy Liêm lúc dạy 12B6, chỉ trạc giữa 30, dáng người thầy nhỏ, thầy bị cận thị nặng nên đeo kính gọng đen thật dày, tóc thầy quăn, bồng bềnh. Thầy thích đi lại trong lớp lúc giảng bài, tay thầy mân mê cục phấn trắng, giọng của thầy lúc giảng bài to và lưu loát, lôi cuốn ảnh nhìn của học trò. Thầy tốt nghiệp Đại học Sư Phạm tại Đà Lạt (thầy Nguyễn Xuân Hoàng cho biết thầy Lê Thanh Liêm là bạn đồng môn của thầy tại Đại Học Đà Lạt và sau này hai thấy thành đồng nghiệp tại Petrus Ký) và đã xuất bản sách giáo khoa về Triết trong khi thầy dạy tại Petrus Ký.
Đầu năm 1972, thầy có cho ông bố của Tuấn (thầy Đinh văn Vĩnh) quyển sách Triết vừa mới ấn hành. Vợ của thầy Liêm, cô Long, cũng là giáo sư Trung Học (thầy Dương Ngọc Sum cho biết cô Long, vợ của thấy Liêm qua đời trước thầy Liêm). Rất tiếc là môn Triết bị bải bỏ sau 1975 và từ đó thầy Liêm bị hạ tầng công tác cho xuống dạy Việt văn của cấp hai (Đệ Nhất Cấp) tại Petrus Ký.
Chương trình học của lớp 12 mỗi tuần gồm có 30 tiếng. Vì bọn mình là dân ban B nên lớp Toán của thầy Vũ Đình Lưu chiếm hết 9 giờ, môn Triết chỉ có 3 giờ mỗi tuần và nếu Tuấn không lầm mình học Triết với thầy Liêm vào ngày thứ hai và thứ ba. Học Triết với thầy Liêm tương đối khá thong thả vì thấy không cho bài làm về nhà hay phải lên trả bài như những môn học khác. Vào lớp chỉ cần nghe thấy giảng bài, ghi xuống và mỗi cuối tháng thấy cho làm bài trong lớp trả lời các câu hỏi mà thầy đã giảng dạy để thầy cho vào phiếu điểm hằng tháng.
Giáo sư Triết dạy tại Petrus Ký năm 71-72 chỉ có thầy Liêm, thầy Nguyễn Xuân Hoàng và một vị nữa mà Tuấn quên tên. Chương trình học về Triết của chúng mình thuần túy Tây phương. Ban B của bọn mình học hai phần Đạo Đức Học và Luận Lý Học. Ban A có thêm phần Tâm Lý Học và ban C thêm phần Siêu Hình Học. Không biết có ai thắc mắc vì sao triết lý Đông Phương không được giảng dạy lớp 12? Có phải vì Triết học Đông Phương cao siêu và đầu óc non nớt của bọn mình chưa đủ để hiểu?
Thầy Liêm soạn bài khá kỷ lưởng và cho bài làm hay bài thi lục cá nguyệt theo đúng tiêu chuẩn của bài thi Tú Tài. Bài thi gồm có 10 câu hỏi ngắn, mỗi câu 1 điểm và một bài luận, 10 điểm. Học trò chịu khó ghi chú và học những gì thầy Liêm giảng thì chắc được trên trung bình vào các kỳ thi. Môn Triết cũng như Việt văn khó mà lấy được điểm tối đa nên được trên 12/20 là quý lắm rồi.
Tuấn còn nhớ đề thi của bài bình luận Triết năm 71-72 là Gía trị khoa học có đi đôi với gía trị đạo đức hay không? “Tuấn còn nhớ thầy Liêm dạy – giá trị nhân bản phải được quân bình với giá trị khoa học kỷ thuật thì đời sống con người mới hoàn thiện như câu danh ngôn của Rabelais “Science sans conscience n’est que la ruine del’ame – Khoa học thiếu lương tri thì là một sự sụp đổ của linh hồn.”
Note: Tuấn ơi, tôi cúp cua hơi nhiều nên không được nghe bài giảng này của thầy Liêm, vì thế thi Tú tài môn Triết chỉ được 10/20. Rõ dại.
Đối với học sinh lớp 12, Triết là môn học thay thế và tiếp nối cho môn Việt văn của lớp 11, tuy nhiên mang nhiều sắc thái mới mẻ hơn và có chút khó khăn hơn vì đòi hỏi quan niệm cá nhân. Đối với bọn học trò 17, 18 tuổi, Triết học có chút gì thiếu thực tế và thực tiễn lúc ấy, vì thế đại đa số ráng học thuộc lòng những gì thầy giảng mà không cần suy nghĩ làm chi cho mệt xác. Đây là một nhận xét khá sai lầm vì khi ra trường đời, nhất là trong xã hội Tây Phương, triết lý dính liền vào cuộc sống. Điển hình là trong các công ty sản xuất, ngành quảng cáo thương mại (marketing) đòi hỏi nhiều về tâm lý học vì người bán cần hiểu thị hiếu của người mua. Và ngay trong lành vực khoa học và y học, tâm lý học là một ngành khảo cứu nhu yếu để chửa tâm bệnh. Triết còn là một nhân sinh quan, cách xử thế, như người ta thường nhắc đến triết lý Phật Giáo, triết lý Khổng Mạnh, triết lý bất bạo động của Gandhi, v.v. Thinh thoảng chúng ta nghe lời giảng trong kinh thánh “Treat people the way that you want to be treated”, nghe chừng quen quen, chợt nhớ ra Không Từ mấy ngàn năm trước cũng đã từng dạy môn đồ “Những điều mình không thích thì đừng làm cho người khác. “Triết lý Đông Tây cũng khá giống nhau đấy chứ?
Thầy Liêm đã mang sinh khí cho môn học hơi khô khan này với chút khôi hài và những buổi tâm tình gần như minh bạch với đám học trò. Tuấn nhớ hoài câu chuyện tiếu lâm thầy Liêm nói về Archimède khi ông này khám phá ra sức đẩy của nước. Thầy Liêm rất cổ vỏ việc loại bỏ nền giáo dục song phương (Việt và Pháp) lúc đó bằng cách đóng cửa các trường Pháp tại tại Việt Nam. Thầy giảng nghĩa, chúng ta ngưởng mộ nền văn hóa Pháp, nhưng hai danh từ văn hóa và giáo dục hoàn toàn khác biệt và người Việt cần thông thạo tiếng Việt trước khi học thêm tiếng Pháp. Thầy Liêm thích dùng những dẫn chứng ngoài đời để cụ thể hóa những gì thầy giảng trong môn học. Tuấn nhớ hoài thầy giảng về tam đoạn luận của triết gia Auguste Comte như sau:
Đã là người thì ai cũng phải chết (1)
Nguyễn Du là người (2)
Vậy thì Nguyễn Du cũng phải chết (3)
(1) và (2) là tiền đề, khi đã chấp nhận tiền đề thì kết luận (3) không thể tránh được. Thầy miên man suy diễn từ chuyện này qua chuyện khác, bây giờ ngồi nghĩ lại Tuấn mới biết thầy Liêm có quan điểm chính trị riêng có chút lý tưởng về thời cuộc tại Việt Nam (71-72) và thầy có cùng lập trường với thành phần thứ ba lúc ấy muốn mau vản hồi hòa bình cho miền Nam.
Vài dòng ghi lại về thầy Lê Thanh Liêm, chúng ta không khỏi ngậm ngùi về sự ra đi vĩnh viễn của thầy. Tất cả mọi sự thay đổi đều làm cho ta buồn, một nhà văn nào đó đã viết như thế. Đôi khi ngồi nghĩ lại năm học lớp 12, chúng ta không khỏi lưu luyến những kỷ niệm xa xưa, “những ngày xưa thân ái”. Đối với lứa tuổi chúng ta ngày nay chuyện hồi tưởng lại quá khứ là chuyện thường tình, có ôn cố mới tri tân, có quá khứ thì mới có hiện tại và tương lai. Sống ở ngoại quốc đã lâu, chúng ta đã hoà mình vào nhịp sống mới, tự do hơn, đời sống vật chất cao hơn, tầm nhìn xa hơn nhưng chúng ta lại vội vả hơn, tư lợi hơn và cá nhân chủ nghĩa hơn (Pascal có nói – cái tôi là cái đáng ghét) thì cũng đã đến lúc để “tình hoài hương” được dậy sống và” ăn trái thì phải nhớ kẻ trồng cây”. Để đến ngày hôm nay, sau hơn 30 năm xa cố hương, Tuấn mới có dịp nhớ lại người thầy giáo năm xưa đã để lại nhiều kỷ niệm trong năm học cuối cùng bậc trung học.
Thân mến,
Đinh Anh Tuấn (12B6, 71-72) /Xuân Đinh Hợi 2007
Phạm Quốc Phong, con thầy Phạm Ngọc Đãnh tại Đức, cho tôi địa chỉ của thầy Châu Thành Quang, người bạn thân của thầy Liêm, cư ngụ tại Santa Rosa, Bắc California. Tôi viết thư thăm thầy và thầy Quang cho tôi số điện thoại của cô Út, người em út của thầy Liêm, đang cư ngụ tại Moreno Valley, miền Nam California.
Tôi gọi điện thoại thăm cô Út để thăm hỏi về gia đình của thầy Liêm.
Cô Út cho tôi biết thầy Liêm mất tại Sài gòn vào ngày 24 tháng 6 năm 1989 vì bệnh gan. Cô Út cũng cho biết thêm là cô Long, vợ thầy Liêm, cũng là giáo sư dạy môn Triết học tại trường Trung học Nguyễn An Ninh. Cô Út cho biết sau khi cô Long qua đời vì bệnh ung thư vào năm 1976, thầy Liêm đã gà trống nuôi bốn đứa con.
Nguyễn Thanh Hùng, người bạn học 12B6, từ Seattle còn nhớ là vào năm 1976, thầy Liêm đã đến nhà Hùng (bán mộ bia trên đường Trần Bình Trọng ??) đặt tấm mộ bia cho cô Long.
Cô Út lúc ấy cũng vừa mản tang chồng được gần 2 năm nên thương và chăm sóc bốn đứa con của thầy Liêm như hai đứa con của mình. Sự gắn bó, thương yêu giữa cô Út và cháu đã được thể hiện qua lời yêu cầu của thầy Liêm khi cô Út dự định mang hai con vượt biên:
Em mang theo các cháu và bảo bọc bọn nó giùm anh.
Cô Út đã mang 3 đứa con lớn của thầy Liêm trong cuộc hành trình qua Pulau Bidong, rồi qua tới Hoa Kỳ. Cô con gái út của thầy Liêm lúc ấy còn nhỏ (8 tuổi) nên thầy Liêm giữ lại với thầy.
Vì sao thầy Liêm không vượt biên cùng em và con? Cô Út tâm sự:
Chắc em đã từng học với thầy Liêm, em biết thầy là người thích xài sang, ăn diện, rộng rãi và có một cuộc sống khá dễ dãi trước 1975 hay trước khi chị Long, vợ thầy, qua đời. Chị Long đúng là một người vợ lý tưởng, thương chồng, thương con, lo hết mọi chuyện cho thấy, ngay cả việc soạn bài, chẩm điểm các lớp Triết thầy dạy. Khi cô Út quyết định ra đi, cô có thảo luận với thầy, nhưng thầy nghe tin đồn qua xử người không có công ăn việc làm, phải làm việc tay chân cực khổ nên thây không đi. Tuy nhiên sau đó thấy hối tiếc cho đến ngày thầy mất vì đã không hy sinh cho con và đã nhờ cô Út thay thầy làm việc này. Chứ thầy Liêm không có lập trường chính trị hay thành phần thứ ba chi hết. Sau 1975, thầy Liêm hết dạy tại Petrus Ký và thầy đã phải chuyên qua dạy Pháp văn (cấp 2) tại trường Hồng Bàng.
Tôi muốn tạm kết bài viết về thầy Lê Thanh Liêm, nhưng bạn bè tò mò muốn biết về tình trạng hiện tại của bốn đứa con của thầy. Cô Út đã hoàn thành lời hứa với anh, trông nom, dạy dỗ, thương yêu các cháu như con mình. Sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ, cô tần tảo ngày làm việc assembly, tối về thêm nghề may và đã nuôi dưỡng cháu và con của cô trở thành những người rất thành công trong xã hội.
Người con trai lớn của thầy, 40 tuổi, đã ra trường Kỹ Sư Cơ Khí tại UCLA. Đã thành lập gia đình nhưng chưa có con. Cô con gái kế của thầy, 39 tuổi, lấy bằng bác sĩ Nha Khoa tại UCLA. Cô này học rất giỏi và thành công trong công việc, đã mở 3, 4 văn phòng Nha Khoa. Có gia đình và ba con. Cậu con trai thứ ba, 37 tuổi, ra trường ngành Khoa Học Điện Toán tại UC Riverside. Hiện đang làm việc cho Microsoft tại Redmond, tiểu bang Washington. Có gia đình và một con trai. Và cô con út của thầy Liêm, giờ 34 tuổi, sau khi thầy mất, đã được các anh chị bảo trợ qua Hoa Kỳ cùng gia đình.
Riêng hai người con của cô Út học giỏi không thua gì anh chị.
Người con trai của cô Út, 35 tuổi, ra trường bác sĩ Nha Khoa tại UCLA. Hiện hành nghề tại Arizona. Còn độc thân. Cô em, 33 tuổi, ra trường bác sĩ Nha Khoa tại Đại Học Michigan. Cũng theo anh qua Arizona.
Phụ Chú:
Thành thật cảm ơn các bạn Nguyễn Thanh Hùng, Phạm Quốc Phong và các thầy Dương Ngọc Sum, Nguyễn Xuân Hoàng, Châu Thành Quang và cô Út, em của thầy Lê Thanh Liêm đã cho tin về thầy Liêm.

