Thiên chức của người mẹ và phong trào dành quyền sống của người phụ nữ ở Mỹ cũng như ở Việt Nam

Nguyễn Thanh Liêm

Giao duc VNCH 7

Trong mấy mươi thế kỷ đã qua chưa có thế kỷ nào chứng kiến được sự tiến bộ nhanh chóng và những biến đổi lớn lao trong thế giới loài người bằng thế kỷ XX vừa rồi. Những người được sinh ra trong thập niên đầu và còn sống đến thập niên cuối của thế kỷ này chắc chắn đã nhận thấy những thay đổi lớn lao đó trong đời sống của con người, nhất là trong các xã hội văn minh tân tiến. Những khám phá mới của khoa học, cùng với những sáng chế ở địa hạt kỹ thuật đã đưa con người đến một nền văn minh mới với mức độ tân tiến vượt xa nền văn minh nhân loại hồi cuối thế kỷ XIX, nhất là về phương diện vật chất và khoa học/kỹ thuật.

Bên cạnh những tiến bộ vượt bực về khoa học và kỹ thuật, người ta cũng nhận thấy sự thay đổi rất nhiều trong địa vị và vai trò của người phụ nữ đối với gia đình và xã hội trong thời gian này. Phụ nữ Mỹ cũng như phụ nữ Việt Nam đều có những đổi thay lớn lao và đều phải qua những phong trào tranh đấu mạnh mẽ gọi là phong trào hay chủ nghĩa phụ nữ (feminism). Đó là phong trào phụ nữ dành quyền sống, quyền đi học, đi làm, quyền bầu cử, quyền bình đẳng với đàn ông, v v . . .Các phong trào này đã giúp phụ nữ giải thoát họ ra khỏi những áp bức, đè nén của xã hội trọng nam khinh nữ. Tuy có những đổi thay trong địa vị, trong vai trò của họ đối với xã hội nhưng có điều họ không thay đổi bao giờ, đó là thiên chức làm mẹ mà người phụ nữ ở Mỹ cũng như ở Việt Nam, cũng như ở các nơi trên thế giới đều không hề thay đổi. . .

Vào đầu thế kỷ XX, tuổi thọ trung bình (life expectancy) của người phụ nữ Mỹ được ước tính khoảng 51 năm. Phần đông dân chúng hồi đó sống về nghề nông. Thành thị còn thưa thớt, điện thoại được xem như là một thứ xa xí phẩm. Hát bóng còn là những phim câm. Muốn đi một khoảng đường vài mươi miles, người ta phải mất cả ngày, bằng phương tiện tốt nhất lúc đó là xe ngựa. Chuyện ly dị hầu như là chẳng bao giờ xảy ra. Họa hoằn mới có một vụ xì căn đan có thể đưa tới hôn nhân tan vở. Người phụ nữ còn phải mặc áo lót bó sát thân mình thật chặt, với cái váy dài phủ cả bàn chân. Phần đông không trang điểm gì cả. Son phấn phần lớn được dành cho giới “chị em ta”. Phụ nữ chưa có quyền đi bỏ phiếu. Rất ít người được đi học, và nếu có một số ít phụ nữ được đi học thì họ cũng không có cơ hội được học nhiều như nam giới.

Phần đông đều còn giữ được trinh tiết cho đến khi lấy chồng. Việc ái ân, chăn gối với người khác phái và sự thai nghén trước khi có chồng là một điều hết sức xấu hổ cho những cô con gái con nhà lành. Những cô gái lỡ bị chửa hoang, khi bụng to lên và bắt đầu trông thấy được là kể như không dám bước chân ra khỏi nhà. Vì không được đi học, không được đi làm, người phụ nữ thời đó có nhiều thì giờ lo cho gia đình, nhà cửa và chồng con. Chỉ có những người giàu có lắm thì mới có thuê mướn người làm hay có kẻ hầu người hạ, còn phần đông thì phải làm lụng cực nhọc với việc nấu nướng, lo bữa ăn cho chồng con, lau quét dọn dẹp nhà cửa, giặt ủi quần áo, may vá thêu thùa, quần quật suốt cả ngày từ sáng đến chiều tối. Họ làm việc không có lương bổng gì cả, chỉ để làm tròn bổn phận của người vợ đối với chồng và thiên chức của người mẹ đối với các con. Tuy nhiên xã hội thời đó chỉ xem họ như những công dân hạng nhì (second citizen) với địa vị thứ yếu so với địa vị chính yếu của người đàn ông.

Qua hai lần thức tỉnh với phong trào phụ nữ (feminism movement) nổi dậy đòi bình quyền cùng nam giới và quyền sống của phụ nữ vào các thập niên 1920-30 và sau đó là các thập niên 1960-70, địa vị và vai trò của người phụ nữ đã được thay đổi, cải thiện rất nhiều. Các thập niên 1920-30 tuy có đem lại quyền bầu cử và quyền làm việc cho phụ nữ nhưng những cải cách này chưa tiến xa bao nhiêu thì bị hậu quả tai hại của kinh tế khủng hoảng khiến cho nhiều phụ nữ phải từ bỏ việc làm để nhường chỗ cho nam giới lúc đó đang bị thất nghiệp nặng nề. Phải đợi đến khi có phong trào phụ nữ nổi lên lần thứ hai vào các thập niên 1960-70 mới thật sự có những thay đổi lớn lao trong vấn đề nam nữ bình quyền ở xã hội Mỹ. Những thay đổi đó bắt đầu từ thập niên 1960 và tiếp tục diễn ra cho đến những năm cuối của thế kỷ vừa rồi. Đạo luật về quyền công dân (Civil Rights Act) tự do và bình đẳng ra đời năm 1964 và cơ quan EEOC (Equal Employment Opportunity Commission) của chính phủ Liên Bang đã là những công cụ tiếp tay với phong trào phụ nữ đẩy mạnh những cải cách xã hội liên hệ tới địa vị người phụ nữ Mỹ. Vào năm 1970 chỉ có 5.4% phụ nữ tốt nghiệp ngành luật và 8.4% tốt nghiệp ngành y khoa. Đến năm 1993 có đến 42.5% phụ nữ tốt nghiệp ngành luật, và 37.7% tốt nghiệp y khoa. Vấn đề trinh tiết, quan niệm về tình yêu và hôn nhân cũng như vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội đều được đặt lại. Thuốc ngừa thai ra đời năm 1963 đã tiếp tay rất nhiều trong việc bành trướng tinh thần tự do nhục dục trong giới thanh thiếu niên. Nạn bị cưỡng dâm và quấy nhiễu tình dục (sexual harassment) giảm sút khá nhiều trong những năm gần đây, nhưng mặt khác tình trạng ly dị lại gia tăng nhanh chóng, hơn 100% từ 1960 đến 1994. Số phụ nữ không chồng mà có con đã gia tăng quá nhiều, hơn 400% trong các thập niên 1970-80. Tuổi thọ trung bình bây giờ cũng gia tăng đáng kể, khoảng 79 tuổi rưởi vào giữa thập niên 1990. Đến đầu thế kỷ XXI, người phụ nữ Mỹ gần như đã chiếm địa vị quan trọng không kém gì nam giới. Thống kê gần đây cho thấy ở địa vị lãnh đạo trong lãnh vực chính trị và thương mại/kinh tế người phụ nữ Mỹ đã có mặt với con số đáng kể (tuy vẫn còn kém đàn ông). Mặc dù số phụ nữ tốt nghiệp đại học có hơn 50% nhưng số người phụ nữ giữ vai trò lãnh đạo trong giáo dục và chính trị còn ít hơn đàn ông khá nhiều. Trong số 47 vị viện trưởng và phó viện trưởng viện đại học vùng Trung Tây nước Mỹ, chỉ có 10 vị là phụ nữ, và trong số 10 người đó chỉ có 3 người là viện trưởng mà thôi. Tại các quận hạt  Butler, Clermont, Hamilton, Warren, Boone, Kenton, Campbell và Dearborn của Tiểu Bang Michigan, số phụ nữ làm chánh sở học chánh (superintendent) chỉ được có 26%, và số phụ nữ làm hiệu trưởng thì được đến 40%. Ở địa hạt chính trị, tổng số phụ nữ dân biểu là 22.5% nhưng con số này chỉ có 19% ở Ohio, 18% ở Indiana, và chỉ có 11% ở Kentucky. Tổng số nữ dân biểu ở ba Tiểu Bang này là 33 người nhưng không có một người phụ nữ nào có trong Thượng Viện. Số phụ nữ làm thị trưởng ở ba nơi này chỉ chiếm được có 11%. Trong số 400 quản trị viên các công ty lớn ở vùng này, chỉ có 37 người là phụ nữ, và nếu hồi 1960 tính trung bình mỗi người phụ nữ chỉ lãnh dược 60% số tiền của một nam giới thì bây giờ con số đó tăng được đến 76% (tính cùng nghề, cùng chức vụ). Nhưng ở đã hạt dịch vụ bất vụ lợi thì phụ nữ chiếm vị thế quan trọng hơn. Hiện có đến hơn 52% phụ nữa giữ vai trò điều khiển trong các tổ chức bất vụ lợi trên nước Mỹ.

Những thay đổi lớn lao về địa vị và vai trò đó phải nói là nhờ ở sự tranh đấu dẻo dai và mạnh mẽ của một số phụ nữ trong phong trào phụ nữ ở thập niên 1960-70. Một người trong phong trào này đã hãnh diện nói:

 “Ở đây (trên nước Mỹ) chúng ta là những kẻ dẫn đường. Phong trào phụ nữ rất quan trọng đối với tất cả phụ nữ chứ không riêng cho phụ nữ Mỹ. Hầu hết phụ nữ, nhất là những người ở các nước thuộc thế giới thứ ba (third world) mà tôi đã gặp và làm việc chung trong các đại học đều muốn có được sự độc lập và tự do như phụ nữ Mỹ.”

Nhưng bên cạnh những thay đổi lớn lao đó, có điều dường như không bao giờ thay đổi trong cuộc sống của phần đông phụ nữ. Đó là vai trò của người mẹ đối với các con của mình. Đây có thể xem như là một thiên chức của phụ nữ ở khắp nơi trên thế giới từ bao nhiêu ngàn năm rồi. Một bà mẹ dù rất có nhiệt tình với phong trào phụ nữ, đã bày tỏ ý kiến chống đối lại phong trào này như sau: “Tôi có chân trong phong trào phụ nữ, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm của phong trào này trong vấn đề chống lại việc ở nhà nuôi con.” Bà nói thêm là khi con bà ra đời bà chỉ muốn ở nhà để nuôi nấng dạy dỗ và sống bên nó ít năm chớ không muốn đi làm và giao phó nó cho người khác giữ. Một số đông phụ nữ khác cũng có cùng quan điểm như thế.

Công cuộc nghiên cứu gần đây của Bộ Lao Động Mỹ cho thấy mối quan tâm nhiều nhất của phụ nữ ngày nay là làm thế nào giữ được quân bình giữa việc làm ở sở và những công việc phải làm ở nhà. Tội nhất là những bà mẹ phải sống cảnh một mình nuôi con. Họ phải đi làm từ sáng đến chiều, 8 tiếng mỗi ngày. Họ phải mất cả tiếng đồng hồ để đi tới sở và đi về nhà. Sáng sớm phải đưa con đi học, chiều phải đón con về. Họ phải sửa soạn thức ăn cho con, tắm rửa cho chúng, giúp chúng làm bài vở. Cuối tuần lo quét dọn nhà cửa, lau chùi nhà tắm, hút bụi, giặt đồ, đi chợ. Có khi còn phải đưa con đi chơi thể thao, hoặc học nhạc, hoặc làm văn nghệ ở trường. Từng ấy công việc làm cho họ bân rộn vô cùng. Có nhiều người chỉ ngủ được có 5 tiếng đồng hồ mỗi ngày hay ít hơn nhưng họ vẫn chịu đựng nỗi. Đó là vì con mà họ phải chịu như vậy. Họ phải chu toàn thiên chức làm mẹ của họ. Họ có thể bỏ chồng, có thể hận thù hay phản bội chồng nũa nhưng đối với con mình thì không thể bỏ, không thể hận thù hay phản bội được, dù nó có ngổ nghịch, bất hiếu, hay kỳ khôi đến đâu đi nũa. Ngày nay trên xứ Mỹ ta thấy có người sinh con ra rồi vứt đứa con mới sinh vào thùng rác, thậm chí có người còn tàn nhẫn cho con lên xe rồi nhận chìm xe dưới hồ, giết chết hết mấy đứa con thơ dại của mình, nhưng đó là trường hợp hãn hữu, một trong cả trăm triệu người. Hằng triệu người mẹ khác vẫn chịu đựng khổ nhọc làm tròn thiên chức của mình, không có gì lay chuyển được. Bà mẹ Mỹ thì như vậy, còn bà mẹ Việt Nam thì sao?

dong-sua-ca-dao-2Phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ vừa qua cũng trải qua nhiều thay đổi như phụ nữ Mỹ, có thể còn nhiều hơn nữa là khác. Đến gần cuối thập niên 1910-20 địa vị của người phụ nữ Việt Nam không có gì khả quan so với địa vị của họ vốn đã có từ bao nhiêu thế kỷ trước. Quyền lợi của họ trong xã hội xưa là con số không. Họ không có chút quyền gì cả, họ chỉ có bổn phận mà thôi, bổn phận đối với cha mẹ, bổn phận đối với chồng. Phận con gái là phải theo những lời “Gia Huấn” mà Nguyễn Trải đã viết ra từ thế kỷ XV:

“Phận con gái ở cùng cha mẹ,

Lòng phải chăm học khéo, học khôn.

Một mai xuất giá hồi môn,

Phận bồ liễu giá trong như ngọc.

Khéo là khéo bánh trong bánh lọc,

Lại ngoan nghề học vóc may mền.

Khôn là khôn lẽ phải đường tin,

Lại trọn đạo nâng khăn sửa túi.”

Và:

Phận con gái này lời giáo huấn,

Lắng tai ngfhe chuyện kể tam cương.

Dầu ái ân cùng chiếu cùng giưởng,

Đạo chồng sánh quân thần chi đạo.

Làm tôi con chí trung chí hiếu,

Làm dâu thời chí kính mới nên.”

Phạm Quỳnh, trong một bài viết về “Địa Vị Người Đàn Bà Trong Xã Hội Nước Ta” đã có nhận xét như sau về quyển “Gia Huấn Ca” của Nguyễn Trải: “Thật không khác gì những thể lệ của cảnh sát, từ đầu chí cuối chỉ những điều nghiêm cấm cả, như giam người đàn bà vào trong cái lưới luật lệ, không còn để cho một chút tự do nào cả.”

Phụ Nữ Thời Đàm, số tháng 1 năm 1932, trong bài “Phụ Nữ Với Bộ Dân Luật Mới Bắc Kỳ” nhận thấy rằng “trước mặt luật pháp thời xưa, quyền lợi của phụ nữ chỉ là số không”. Tình trạng của phụ nữ Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX có thể còn tệ hơn tình trạng của phụ nữ Mỹ cùng thời mặc dầu lúc này văn minh Tây phương đã bắt đầu xăm nhập vào xã hội mình. Phải đến năm 1918 mới có tờ “Nữ Giới Chung” ra đời ở Sài Gòn. Đây là tờ báo đầu tiên dành riêng cho những vấn đề của phụ nữ ở Việt Nam do bà Sương Nguyệt Anh làm chủ bút. Tờ báo xuất bản mỗi tuần vào ngày Thứ Sáu, số đầu ra ngày 1 tháng 2 năm 1918. Trong lời phi lộ có ghi là :“Ngay sau khi đến Sài Gòn và trong chương trình nhằm cải cách nâng cao mức sống xã hội của Annam, ông Albert Sarraud đã cho phép xuất bản một tờ tạp chí phụ nữ đầu tiên dùng để nâng cao mức sống của phụ nữ”. Albert Sarraud lúc này là Toàn Quyền Đông Dương. Bà chủ bút Sương Nguyệt Anh ghi rõ mục đích của tờ Nữ Giới Chung là nâng cao luân lý, dạy cho phụ nữ biết cách sống hằng ngày, chú trọng đến thương mại và tiểu công nghệ, tạo sự tiếp xúc giữa con người v v . . .Bà Sương Nguyệt Anh, con gái của cụ Đồ Chiểu, là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên làm báo, và là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên làm chủ bút một tờ báo cũng đầu tiên dành cho các vấn đề về phụ nữ ở Việt Nam. Nhưng tờ Nữ Giới Chung chỉ xuất bản được không đầy 6 tháng thì đình bản. Tuy chưa gây được tiếng vang lớn lao trong quần chúng nhưng tờ Nữ Giới Chung cũng đánh dấu sự thức tĩnh của một số người về vấn đề phụ nữ ở nước mình. Tiếc rằng sự thức tỉnh này còn rất lẻ loi chưa gây được một phong trào phụ nữ có đủ tầm vóc để thúc đẩy những cải thiện thật sự ngoài xã hội. Tiếng nói của Nữ Giới Chung im bặt đến hơn 10 năm mới có tiếng nói khác nổi lên. Phải đến năm 1929 một tờ tạp chí khác về phụ nữ mới lại xuất bản ở Miền Nam, đó là tờ Phụ Nữ Tân Văn. Chương trình 4 điểm của tờ này cũng đại để không khác gì mấy chương trình nâng cao đời sống người phụ nữ Việt Nam của Nữ Giới Chung hồi 11 năm về trước. Chi tiết bốn điểm được ghi ra như sau:

“Phải làm sao cho người đàn bà cũng có học vấn rộng rải, trí thức mở mang có thể hiểu biết phận sự mình là một bà nội tướng thì mới hữu ích được.”

“Phải làm sao cho người đàn bà biết trọng chức nghiệp để tự lập lấy thân, bỏ hẳn thói quen nhờ chồng, nhờ con.”

“Phải làm sao cho người đàn bà biết rằng trong nền luân lý và phong tục của ta có nhiều chỗ êm đềm cao thượng tức là hương hoả của cha ông để lại cho, hãy nên giữ gìn trân trọng.”

“Làm sao cho người đàn bà biết lịch sử để yêu nước, biết vệ sinh nuôi con.”

Từ đây báo chí về phụ nữ nổi lên khắp cả Ba Kỳ. Năm 1930 tờ Phụ Nữ Thời Đàm ra đời ở Hà Nội với chủ trương dung hòa mới cũ, với mục đích “mong ngăn ngừa bên nọ (bên thủ cựu) dìu dắt bên kia (bên tân tiến) để điều hòa hai cái xu hướng trái ngược ấy. . . sao cho những hành động của chị em sau này thích hợp với lẽ tiến hóa thiên nhiên mà mẹ hiền vợ thảo, nếp cũ nền xưa vẫn giữ được cái vẽ riêng của giá nhà Nam Việt”. Ở Huế, mãi đến năm 1932 mới có tờ Phụ Nữ Tân Tiến ra đời. Tuy ra đời muộn nhưng tờ báo chứa đựng nhiều tư tưởng rất tiến bộ. Đúng như cái tên đã nói, chủ trương của Phụ Nữ Tân Tiến là “chấn khởi phong hóa, truyền bá văn minh và bênh vực quyền cho chị em bị người ta đè nén. . . Còn riêng phần phụ nữ, ta lấy cái cơ quan ngôn luận ấy làm người hướng đạo cho ta hầu phá chốn khuê phòng để ra nơi đồng địa và bênh vực cho nhau những cái lợi quyền bị hạng mày râu chiếm đoạt.” Đến đây mới thấy rõ ràng đặt ra những vấn đề căn bản của phụ nữ như vấn đề phụ nữ bị đè nén, bị chèn ép, vấn đề quyền làm người của phụ nữ, vấn đề bình quyền với nam giới, và vấn đề giải thoát phụ nữ ra khỏi bốn bức tường chật hẹp của luân lý Tống Nho. Cũøng trong thời gian này xuất hiện nhiều tiểu thuyết luận đề và tiểu thuyết xã hội của Tự Lực Văn Đoàn hô hào đạp phá chế độ đại gia đình, giải thoát phụ nữ ra khỏi luân lý khắt khe ràng buộc bởi tứ đức tam tùng của Nho giáo. Phong trào phụ nữ ở Việt Nam đã thật sự bắt đầu.

Nó đã bắt đầu trước nhất ở trong Nam với bà Sương Nguyệt Anh, và một số các văn nhân học giả hồi cuối thập niên 1910 sang đầu thập niên 1920. Lúc này ở Miền Nam đang có phong trào cổ võ cải cách xã hội trong nhiều lãnh vực mà người ta gọi là cải lương, (nhưng về sau này danh từ cải lương lại chỉ được dùng để chỉ phong trào cải lương sân khấu mà thôi). Trên báo Nữ Giới Chung Mme Nguyễn Từ Thức bàn về cải lương nếp sống của phụ nữ. Nguyễn Chánh Sắt yêu cầu cải lương tập tục. Hồ Biểu Chánh đề cập đến cải lương giáo dục trong bài “Việt Nam Giáo Dục Luận” của ông. Trong bài “Thiết Nghiệp Yếu Luận” Nguyễn Chánh Sắt hô hào cải lương nông nghiệp. Trần Phát Văn nêu ý kiến cải lương cách đọc tiểu thuyết và Hồ Biểu Chánh đã bắt tay làm công việc cải lương tiểu thuyết bằng những sáng tác mới của ông. Tuy nhiên phong trào phụ nữ thật sự nổi lên là do các cựu nữ sinh Gia Long nhiều hơn. Vào thập niên 1920 đã có nhiều phụ nữ đi học Trung Học rồi. Những người này đã học được nếp sống văn minh của người Tây phương. Họ là những nữ sinh các trường trung học Collège de Mỹ Tho (tức trường Le Myre de Vilers và sau này là Nguyễn Đình Chiểu), Collège de Cần Thơ (tức trường Phan Thanh Giản), và Collège Des Jeunes Filles Indigènes (tức trường Gia Long sau này) và cả trường Petrus Ký nữa, nhưng quan trọng nhất đối với phong trào phụ nữ bấy giờ phải nói là từ các nữ sinh Gia Long.

Năm 1924, một cựu nữ sinh Collège des Jeunes Filles, cô Nguyễn Thị Kiêm, trong một hội nghị về Dư Luận Nam Giới đối với Phụ Nữ Tân Tiến đã cho thấy chủ nghĩa phụ nữ là “làm thế nào giải phóng phụ nữ ra khỏi những lễ giáo hủ bại, bênh vực quyền lợi cho phụ nữ, kiếm những cách sinh hoạt cho chị em để sự sống của mình được hoàn toàn hơn và nâng cao trình độ trí thức của mình.” Để tránh ngộ nhận là chương trình của chủ nghĩa phụ nữ sẽ đưa tới sự xung đột giữa hai phái nam và nữ, cô Kiêm giải thích thêm rằng “lo cho đàn bà có nghề nghiệp là để cho vợ giúp chồng mà nuôi con, em giúp anh để nuôi cha mẹ; lo cho đàn bà bỏ những thành kiến hủ bại, khỏi những lễ giáo gắt gao trái với sự sống, lo cho họ có học vấn là nâng cao phẩm giá đàn bà tức là phẩm giá người mẹ, người vợ, để cho họ biết rõ cái trách nhiệm của mình mà dạy dỗ con cho hợp thời, để hiểu chồng, giúp chồng trong xã hội.”

Song song với các buổi hội thảo, các bài vở đăng trên các báo chí, phụ nữ ở Miền Nam bắt đầu có những hoạt động rất đáng kể nhằm mục đích cải lương đời sống phụ nữ như đã nói trên. Vào tháng 8 năm 1933, hội Aùi Hữu các nữ sinh trường Collège des Jeunes Filles  được ra đời với bà Henry Cordier làm hội trưởng danh dự, bà Phan Văn Gia làm hội trưởng và cô Nguyễn Thị Kiêm làm Tổng Thơ Ký. . Đây là hội ái hữu nữ sinh đầu tiên ở Miền Nam, và đó chính là hội ái hữu của trường mang tên Gia Long sau này. Cũng trong năm 1933, vào tháng 11, Viện Nữ Lưu Văn Học Hội (L’Institut de Culture Feminine) ra đời ở Sài Gòn. Mục đích chính của Viện là (1) nâng cao trình độ văn hóa của nữ giới, (2) cứu giúp và giáo dục thành phần nghèo khổ và thất học, và (3) giao tiếp với phụ nữ trên thế giới.

Cô Nguyễn Thị Kiêm hoạt động rất hăng say trong phong trào phụ nữ. Cô từng đi diễn thuyết ở nhiều nơi về các vấn đề thăng tiến đời sống phụ nữ. Tháng 8 năm 1934 cô diễn thuyết tại nhà hát lớn Hà Nội với khoảng 500 người tham dự. Buổi diễn thuyết của cô được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt. Trong bài diễn thuyết cô có đề cập đến cuộc sống của một người đàn bà lý tưởng ở Việt Nam phải như thế nào? Hình ảnh lý tưởng đó được mô tả như sau:

 “Tân Nương (tên người đàn bà mới) có chồng và có 3 con. Năm giờ sáng nàng đã thức dậy để lo tập thể dục để giữ thân hình cho cân đối. Sau đó nàng đi tắm, làm đẹp một tí, thay quần áo… Xong rồi nàng bắt đầu bữa ăn sáng cho chồng và các con. Trong bữa ăn nàng chuyện trò vui vẻ với chồng con. Sau đó, nàng bàn với người làm về việc đi chợ mua những gì để làm những món ăn gì trong ngày mà chồng con nàng ưa thích. Khoảng 7 giờ rưởi sáng, sau khi chồng đã đi làm, và con đã đi học rồi thì nàng mới lo tắm rửa cho đứa con nhỏ nhứt. Sau khi tắm rửa thay đồ xong, đứa bé được người vú em đưa ra vườn chơi. Sau đó nàng đến nhà hộ sinh giảng dạy về vệ sinh cho những người đàn bà nghèo khổ thiếu thốn thường đến đây dể xin thuốc men. Nàng chỉ dẫn cho họ cách nuôi con, cách pha sữa cho con bú. Đến khoảng 9 giờ nàng đi dạy ở một trường tư thục. Khoảng 11 giờ hơn nàng về nhà, cắm lại mấy cành hoa trong phòng ăn và chơi với con. Sau bữa ăn trưa nàng đọc báo, nghỉ ngơi một tí. Buổi xế trưa nàng chăm sóc tủ quần áo và soạn bài cho ngày mai. Năm giờ chiều các con lớn ở trường về lo tắm rửa. Sau đó nàng dắt cả ba con di dạo chơi ngoài vườn. Trong khi đi dạo nàng cắt nghĩa cho con những điều nghe thấy ở dọc đường. Khi các con chơi đùa với nhau trong vườn, nàng nghĩ tới những dự án mà nàng có thể làm cho Viện Văn Hóa (Nữ Lưu). Khoảng 6 giờ 30 chiều, chồng nàng ở sân tennis về đây để cùng nàng và các con trở lại nhà. Buổi ăn chiều sẽ rất vui vẻ. Chồng nàng kể cho vợ con nghe những chuyện xảy ra trong sở. Chàng mong nàng có chút thì giờ đến nói chuyện về nghệ thuật ở Viện Nữ Lưu. Sau bữa ăn chiều nàng coi cho con học bài, làm bài ở trong trường. Nàng khuyến khích mấy người giúp việc đi học chữ ở các lớp đêm do Viện Văn Hóa Nữ Lưu mở. Sau đó nàng soạn chút bánh ngọt cho chồng. Nàng ghi những chi phí trong ngày vào sổ, ghi những việc phải làm vào sổ tay trước khi đi ngủ”.

Đại khái đó là công việc hằng ngày của một người phụ nữ mới, một phụ nữ lý tưởng trong xã hội Miền Nam vào thập niên 1930-40. Vào thập niên này đã có một số phụ nữ có học thức, có bằng cấp cao không thua gì nam giới. Tuy nhiên với khả năng học vấn đó người phụ nữ không tìm được việc làm dễ dàng như đàn ông, nhất là trong thời kỳ hậu kinh tế khủng hoảng thế giới. Báo Đàn Bà Mới hồi tháng 9 năm 1935 có nói đến tình trạng đặc biệt này : “Cách đây ít lâu mấy chị em Bắc Hà đã đậu bằng cấp thành chung và không được bổ dụng và kiếm không ra việc làm, rủ nhau đệ đơn xin ông Toàn Quyền cho phép được dự những kỳ thi tuyển thư ký vào các công sở khác. Oâng Toàn Quyền trả lời rằng ngài rất lấy làm tiếc không thể chuẩn lời yêu cầu của các cô được vì từ xưa đến nay chưa có đạo luật nào nói đến đàn bà làm thư ký trong các ngạch, ngoại trừ ngạch y tế và giáo dục.” Qua đoạn trích dẫn trên ta thấy phụ nữ Việt Nam trong thời kỳ này đã có những người đi làm trong các ngành giáo dục và y tế. Ngoài ra còn một số ít khác cũng đã tốt nghiệp ngành dược, ngành luật, và một ít ngành tự do khác. Đoạn văn sau đây của Nguyễn Văn Vĩnh trong tờ L’Annam Nouveau, số 500 tháng 1 năm 1934 cho thấy lúc này xã hội Việt Nam đã có nữ giáo viên, nữ giáo sư, nữ hộ sinh, nữ dược sĩ người Việt :

“Les femmes annamites n’ont certes à se plaindre momentanément d’aucune restriction quant à leur accès dans les diverses carrières administratives. Elles sont institutrices, professeurs, sage-femmes, pharmaciennes, et rien ne nous dit qu’elles ne peuvent pas être admises dans les administrations comme sécrétaires, interprètes ou dactylographes”. (Người phụ nữ Việt Nam chắc không phải than phiền về sự giới hạn đối với họ trong các ngành hành chánh. Họ là giáo viên, giáo sư, nữ hộ sinh, nữ dược sĩ, và không có gì nói rằng họ không được nhận vào trong các ngành hành chánh như thư ký, thông dịch viên hay đánh máy).

Thập niên 1940-49 là thập niên loạn ly, xáo trộn. Bao nhiêu biến chuyển lớn lao xảy ra, đưa đất nước vào vòng chiến chinh khói lửa. Nào Nhật đảo chánh Pháp, Việt Nam độc lập với chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Phong trào Thanh Niên Tiền Phong nổi lên. Nạn đói giết chết hàng triệu người ở Miền Bắc, Sài Gòn thường xuyên bị Mỹ dội bom, dân chúng di tản về quê, trường Petrus Ký dời đi nhiều chỗ. Rồi Nhật đầu hàng, quân Trung Hoa và Anh Aán vào giải giới Nhật. Pháp trở lại, Cộng Sản lên nắm chính quyền. Mặt trận Việt Minh được thành lập, rồi Miền Nam kháng chiến chống Pháp, v v . . .Việc học hành nhiều nơi bị gián đoạn. Phải đến cuối thập niên khi chánh phủ Bảo Đại được thiết lập lại rồi thì việc giáo dục ở Miền Nam mới bắt đầu phát triển mạnh. Sang thập niên 1950-59 nhiều trường trung học được mở ra. Số phụ nữ đi học trung học xấp xỉ gần bằng số học sinh nam giới. Những trường nữ trung học dành riêng cho nữ sinh càng được mở rộng thêm ra. Trường Gia Long, trường Trưng Vương, trường Lê Văn Duyệt thu nhận rất nhiều nữ sinh vùng Sài Gòn, Gia Định. Sang thập niên kế đó, 1960-69, nhiều trường trung học lớn khác cũng bắt đầu tách rời nam nữ như Lê Ngọc Hân – Nguyễn Đình Chiểu, Phan Thanh Giản – Đoàn Thị Điểm. Riêng trường trung học Trịnh Hoài Đức ở Bình Dương thì tuy chỉ có một ban giám đốc nhưng trên thực tế hai khu nam sinh và nữ sinh ở cách biệt nhau khá xa. Càng lên cao số nữ sinh, nhất là ở đại học số nữ sinh viên càng có vẽ đông hơn nam sinh viên, vì một phần không nhỏ nam thanh niên đã phải vào quân ngủ. Trường Văn Khoa, trường Luật, trường Dược, Đại Học Sư Phạm thu nhận rất nhiều nữ sinh viên. Ở những phân khoa hay viện đại học khác tuy ít phái nữ hơn phái nam nhưng nữ sinh viên vẫn có mặt như trường Quốc Gia Hành Chánh, hay đại học Nông Lâm Súc.

Vì chiến tranh đa số đàn ông phải phụng sự quê hương trong quân đội. Số phụ nữ đi làm trong các ngành dân sự mỗi ngày một đông hơn nam giới. Thời Việt Nam Cộng Hòa nữ giới đã phải cáng đáng nhiều công việc nặng nề chẳng kém gì nam giới. Họ là những người bạn đời chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm với chồng từ trong gia đình đến ngoài xã hội. Nhưng cũng như người phụ nữ Mỹ hay nhiều phụ nữ khác trên thế giới, họ không bao giờ quên thiên chức làm mẹ của mình. Thiên chức đó càng rõ ràng hơn ở một nước có nhiều chiến tranh loạn lạc mà người chồng thường phải xa vợ con lên đường đáp lời sông núi. Người chinh phụ thuở xưa phải thay chồng phụng dưỡng mẹ cha làm tròn chữ hiếu và phải nuôi dưỡng dạy dỗ con cái, đóng vai trò cả mẹ lẫn cha:

“Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,

Miệng hài nhi chờ bửa mớm cơm.

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,

Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.”

(Chinh Phụ Ngâm)

MeRuCon

Phụ nữ Việt Nam trong các thập niên gần đây cũng vậy. Khi chồng phải nhập ngũ tòng chinh, vợ ở nhà phải lo cho gia đình, nuôi nấng dạy dỗ con cái cho nên người. Sau 1975, đất nước lọt vào tay Cộng Sản, nhiều quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa phải đi tù cải tạo, lao động khổ sai, một số khác may mắn hơn, vượt biên ra xứ ngoài, nhiều người vợ ở lại nhà mua tảo bán tần nuôi chồng trong tù, và nuôi đàn con dại ở nhà, biết bao nhiêu gian lao, khốn khổ. Một số những người khác mạo hiểm đem con ra xứ người, trải bao gian nguy, làm lụng vất vả cho con ăn học thành tài. . . Cũng có những người ly dị với chồng bước thêm bước nữa. Cũng có những người góa chồng đi tái giálập lại cuộc đời mới. Cũng có người thù hận, bỏ chồng. Tuy nhiên đối với con, họ không ruồng bỏ, thù hận hay phản bội bao giờ, kể cả những trường hợp họ bị cưỡng bức, bị hãm hiếp, bị lường gạt lở mang thai. Khi họ đã sinh con ra là họ thương con, lo lắng săn sóc, nuôi dưỡng cho con lớn lên, cho con nên người, để chu toàn thiên chức của người làm mẹ. Thiên chức đó trời đã phú cho người phụ nữ, nó như một thứ bản năng gắn liền với cơ phận của người đàn bà. Đó là thứ bản năng sinh tồn, kéo dài sự sống của giống sinh vật ở trên trần gian. Nó cũng giống như bản năng của con tò vò, khi đẻ ra cái trứng là đi giết chết một con mồi, để xác con mồi bên cạnh cái trứng rồi xây ổ đất đấp kín lại, để khi cái trứng nở ra, con tò vò con có sẵn đồ ăn mà ăn để sinh sống, để kéo dài sự tồn tại của giống sinh vật tò vò. Riêng ở con người bản năng thiên phú đó đã được loài người thiêng liêng hóa nó biến thành một thứ gì vô cùng cao đẹp mà ta gọi là thiên chức của người làm mẹ. Từ thuở còn ăn lông ở lỗ đến chỗ tân tiến như ngày nay, từ địa vị số không hồi thế kỷ trước đến ngang hàng với nam giới về mọi mặt vào đầu thế kỷ này, ở đâu còn có người phụ nữ sinh con đẻ cái để vĩnh viễn hóa giống người thì ở đó thiên chức người làm mẹ vẫn còn.

Nguyễn Thanh Liêm