Thầy Nguyễn Hoàng Sang

Dương Tử

(Nguồn: Hội AH Trung học Trương Vĩnh Ký Paris, Nội san Thu – Đông tháng 11/94)

Thầy NGUYỄN HOÀNG SANG không còn nữa. Theo một bức thư của bạn NGÔ THANH NHÀN gửi cho tôi, thì Thầy đã mất ngày 3.12.1992. Khi tôi cầm bút viết những dòng chữ này để tưởng nhớ đến Thầy, thì bên quê nhà, cô Sáu và vợ chồng em NGUYỄN HOÀNG DŨNG đang cử hành lễ cúng giáp năm cho Thầy.

Thầy người ốm, cao vừa tầm, tóc hớt ngắn cuốn quăn, lưng hơi khòm, hiền hậu, vui tính, nên rất được học sinh và đồng nghiệp cảm mến. Riêng đối với tôi, Thầy vừa là một giáo sư khả kính khi tôi còn học tại trường Petrus Ký, là một đồng nghiệp khi tôi được bổ về dạy học chung với Thầy tại trường và là một người bạn vong niên sau biến cố 30.4.1975.

Thầy có những đặc điểm sau đây về nghề nghiệp cũng như về nếp sống riêng tư, xin được nhắc ra đây để cùng nhớ về người Thầy đã mất.

– Cùng với Thầy TRƯƠNG VĂN CAO – mà tôi đã tưởng niệm trong ĐẶC SAN XUÂN 1992 của HỘI ÁI HỮU PETRUS KÝ MIỀN NAM CALI – Thầy là một trong những giáo sư Anh văn đi tu nghiệp tại Hoa Kỳ sớm nhất mà tôi được biết. Vì biết được nếp sống của người Mỹ, không giống như nếp sống của người VIỆT NAM mình, nên Thầy không muốn rời bỏ quê hương trong và sau biến cố 1975 để sang đây sinh sống như phần đông những người khác. Thầy hiền lành, vui tính, nói năng nhỏ nhẹ, từ tốn. Ít khi Thầy nổi giận và quở phạt học sinh. Trong học bạ của chúng, Thầy thường phê tốt hay với lời lẽ nhẹ nhàng. Về điểm này có lần Thầy tâm sự với tôi:

– “Thây kệ, phê tốt cho chúng nó. Mình đã rầy trong lớp đủ rồi. Những đứa học giỏi tiếp tục học lên các lớp trên, mình phê tốt đã đành, nhưng còn những đứa kém, có thể thôi học, mình cũng nên nâng tay, nhất là về mặt conduite, để chúng đi xin việc làm. Sau này khi đã trưởng thành, có dịp nhìn lại học bạ, chúng cũng thấy vui, có cảm tình với thầy, với bạn, với trường, chứ không mang mặc cảm thua thiệt, rồi đâm ra oán trách, bất mãn không có lợi cho bản thân chúng, cho gia đình chúng và xã hội. Tôi nói vậy vous có đồng ý không?”

Tôi mỉm cười, dĩ nhiên hoàn toàn đồng ý với Thầy.

Thầy nhả nhặn khiêm tốn, dành nhiều cảm tình với tất cả mọi người. Mỗi khi có dịp, Thầy thường mời một số anh chị em đến nhà Thầy dùng cơm, đàm đạo, hoặc khi có cúng quải, giỗ chạp tại cơ sở nhà thuốc ÔNG TIÊN ở Phú Lâm, thì Thầy cũng mời anh chị em vào đó vui chơi vì trong đó có sân, có vườn rộng rãi, mát mẻ.

– “Thầy rất bảo thủ”. Tôi lập lại từ của cô dùng để nói về Thầy, với ý tốt là những gì Thầy đã sử dụng, là của Thầy, thì Thầy rất quí mến, muốn gìn giữ, không muốn thay đổi, bán chắc. Xin đơn cử hai thí dụ cụ thể. Thứ nhất là chiếc xe hơi Thầy dùng đi dạy học. Là người của trường Petrus Ký thời đó, không ai là không biết chiếc xe “cổ lỗ sĩ” ấy, một chiếc xe cũ kỹ, lâu đời, kiểu như xe của nghệ sĩ TRẦN VĂN TRẠCH, mà chúng tôi thì thường nói đùa là đã được sản xuất “khi vua BẢO ĐẠI còn tấm truồng”. Mặc dù có đủ khả năng thay đổi một chiếc xe khác, nhưng Thầy quí mến chiếc xe cũ và muốn giữ nó lại để dùng. Chiếc xe này, sau ngày 30.4.75 được kê lên ngay chính giữa một căn nhà phụ, bốn bánh được tháo gỡ vì không muốn cán bộ Công Sản hỏi mượn, trưng dụng hay tịch thu thì cũng thế. Ai mua cũng không bán. Tôi đến thăm, có than nhỏ với tôi, chứ không dám nói lớn sợ Thầy nghe:

– Thầy bảo thủ lắm! Chiếc xe như vậy mà bảo bán nhất định không bán. Để chật nhà chật cửa.

Tôi nể Thầy mà cũng thương  cô nên  không biết nói sao chỉ mỉm cười thông cảm với cái “bảo thủ” lẫn cô. Thứ hai là ngôi nhà của Thầy đang ở, gồm hai phần nằm hai bên đường rầy xe lửa, gần cổng số sáu, đường Trương Minh Giảng, phần phía bên phải quay ra đường Minh Mạng, phần phía bên trái quay ra đường Trần Hữu Trang. Tất cả là do công lao Thầy Cô làm việc, dạy học, cần kiệm mấy mươi năm gây dựng nên, có chỗ khang trang để ở vì gia đình Thầy con cháu đông, đúng như quan niệm của Á Đông ngày xưa: “Kẻ có hầu của, người có hầu con”. Còn Thầy may mắn được cả hai. Nhưng cái may mắn đó, công lao khó nhọc gây dựng của Thầy Cô, sau ngày 30.4.75 đã bị sụp đổ, đã bị cướp đoạt. Các con cháu Thầy lần lượt đi ra nước ngoài sinh sống, chỉ còn lại em NGUYỄN HOÀNG DŨNG, vợ và đứa cháu nội sống với Thầy Cô. Nhiều lần trong nhà thiếu hụt, cô khuyên Thầy nên bán bớt để lấy tiền chi dụng, và cũng để tránh sự dòm ngó của các cán bộ CS, “để tránh đi họa” như cô có linh cảm. Thầy cũng thấy trước như Cô, nhưng vì tính bảo thủ như đã nói ở trên, Thầy nhất định không bán phần nào cả “để sau này con cháu trở về có chỗ cho chúng nó ở”. Thầy vừa nói vừa lật úp hai bàn tay xuống để ám chỉ một sự thay đổi nào đó trong tương lai.

– Thầy rất thích chơi quần vợt và đánh khá giỏi. Trong trường có PHẠM HOÀI NAM, PHẠM NGỌC ĐẢNH, THỌ, chồng chị LOAN, và Thầy là dân hay, còn chúng tôi như NGUYỄN MINH DÂN, TRẦN QUANG NHÀN, TÔN THỌ GIAO, TRẦN THÀNH MINH, NGUYỄN THÀNH LỄ, TRẦN MINH NHỰT, VÕ VĂN TRƯNG, QUÁCH THANH TRUNG… đều chơi xoàng xoàng như nhau thôi. Thầy có lối đánh banh nhẹ nhàng, không dùng nhiều sức, xoáy ngay vào chỗ không người, when everyone is out, chúng tôi thường nói đùa là “bỏ nhà đi chơi!”. Trường có một sân tennis ngay chỗ khu để xe cho học sinh. Mỗi buổi chiều, sau giờ học hoặc những ngày thứ bảy, chúa nhật, anh em tụ tập lại đây, chơi với nhau, say mê quên cả giờ giấc, có khi ăn thua với nhau chỉ một chầu nhậu bên Bộng ở Nhà Bè. Thầy thường chỉ cho anh em mới cách cầm vợt, cách đánh sao cho đúng điệu bộ, đúng kỹ thuật, khôn ngoan. Nhìn Thầy múa vợt, lúc tiến lúc thoái, như một võ sĩ đang múa gươm, thấy cũng vui vui và học hỏi được nhiều. Trong môn thể thao này, một lần nữa, Thầy lại chứng tỏ tính bảo thủ của Thầy như đã nói ở trên: Thầy vẫn sử dụng chiếc vợt cũ của Thầy cho đến chết, mà không chịu đổi vợt mới, mặc dù các con Thầy gửi về nhiều lần, nhưng ai thích thì Thầy cho, còn Thầy thì vẫn dùng chiếc vợt “quen tay của Thầy”. Phần tôi, đi cải tạo về, vượt biên nhiều lần không kết quả, tiền mất, bị bắt bị ở tù trở lại, nên khi được thả ra, do bà xã chạy thuốc, tôi đâm ra lì, và sẵn có mấy đứa nhỏ vượt biên thoát được, gửi tiền về chút đỉnh le lói, tôi bèn đến rủ Thầy và em DŨNG đi đánh tennis, không sợ công an khu vực dòm ngó nữa, lâu lâu “biếu” cho anh ta một xấp vải ngoại là xong ngay. Thầy trò tôi thường chơi ở sân Câu Lạc Bộ Sài-Gòn mà CS gọi là Câu Lạc Bộ lao động, để chỉ cho những người có tiền trả tiền sân hay các cán bộ CS vào chơi, chứ dân lao động chính hiệu thì không có khả năng đó, chỉ việc lo chạy ăn chạy mặc cũng đã hụt hơi rồi, còn sức đâu mà chạy tùng tùng trên sân xi măng nữa. Chúng tôi cũng chơi ở các sân Phan Đình Phùng, sân Việt Nam Thương Tín ở đường Thoại Ngọc Hầu, sân An Đông ở hồ tắm An Đông, có khi lèn cả sân Bình Triệu, sân Thủ Đức hoặc Vũng Tàu!

Thầy cũng thích “văn nghệ văn gừng” nữa, từ của Thầy dùng. Một hôm có việc tôi đến thăm Thầy vào buổi cơm trưa, Thầy Cô nhất định giữ tôi lại dùng cơm, “có thứ gì ăn thứ nấy, không khách sáo”. Trên mâm cơm, chỉ có một khứa cá chiên, và một nắm rau vừa mới hái ngoài vườn và chỉ có tôi và Thầy thôi, Cô và các em ăn sau. Có lẽ gia đình nhường thức ăn cho tôi chăng, hay là do mỹ tục Á-Đông, vợ con lúc nào cũng kính nhường cho chồng, cho cha ăn trước, còn mình thì thủng thẳng ăn sau? Trong khi đang ăn, bất ngờ Thầy hỏi tôi:

– Vậy chớ vous có biết làm thơ không?

Tôi trả lời là thỉnh thoảng cũng có làm cho vui và hiện tôi còn giữ một tập thơ do tôi sáng tác trong những năm cải tạo trong tù, nhan đề: “Những ngày dài nhất” – the longest days. Thầy không hỏi tôi về tập thơ đó, nhưng lại bảo tôi:

– Vậy thì khi ăn cơm xong, phải có một bài thơ Đường luật với đề tài “bữa cơm thanh đạm”.

Báo hại tôi phải làm một lúc ba công việc: vừa ăn cơm, vừa trò chuyện cùng Thầy, vừa suy nghĩ bài thơ. Cũng may, ý tứ đến với tôi khá nhanh, nói theo từ ngữ của các thí sinh đó là “trúng tủ”, nên khi ăn chuối tráng miệng, tôi xin Thầy một tờ giấy trắng và một cây bút để ghi lại bài thơ sau đây:

BỮA CƠM THANH ĐẠM

Tầm thường cơm bữa giá nghìn vàng (1)

Ngẫm lại mà xem thật rõ ràng

Đắc thế mâm cao người chờ đến
Thất thời hạt muối chẳng ai ban (2)
Nắm rau mới hái, cơm vừa chín
Nước chấm vừa dầm, cá đã vàng
Bát cơm tình nghĩa thường thanh đạm
Bụng đói, người thân cũng thấy SANG! (3)

Dương Tử (1985)

(1) “Tầm thường nhất phạn báo thiên kim”, lấy tích Hàn Tín lúc còn hàn vi được cho một bát cơm (Bát cơm Phiếu Mẫu), sau báo đáp nghìn lạng vàng.

(2) Đây là kinh nghiệm sống của tôi: lúc còn tại chức, nay người này mời, mai người kia đón, khi Cercle Bleu, khi Cercle Rouge, bạn không đi được, cũng cho người mang thức ăn đến tận nhà. Chúng đi ở tù cải tạo về, thiên hạ xem mình như “củi hủi”, sợ bị lây bệnh, không dám gặp, không dám tiếp, đến nhà nó, nó dẫn mình đi cửa sau, nói chuyện qua loa dưới nhà bếp, rồi tống khứ mình đi, viện cớ là bận công việc!

(3) Chữ SANG ở đây là có ý dùng tên Thầy.

Một lần khác, Thầy trò cùng một vài người bạn nữa trong đó có TRẦN QUANG NHÀN, đi đánh tennis ở Bình Triệu về, thì gặp mưa. Thầy đưa cả bọn ghé vào một cái quán lá bên đường để trú mưa và giải khát. Quán tuy nhỏ nhưng lại có một vườn lan ở phía sau, lan trổ bông đem bày bán, mùi hương thoang thoảng. Gọi vài ly cà phê nóng và mấy điếu thuốc thơm, loại có cán (từ của CS), ngồi nhâm nhi trò chuyện với nhau chờ mưa tạnh, tưởng không còn gì thú vị mãi hơn nữa. Nhưng Thầy lại không cho tôi được hưởng thú vui trọn vẹn, mà lại bắt tôi phải làm thơ vịnh cảnh trú mưa hôm đó, hẹn khi mưa tạnh phải có thơ cho Thầy. Sẵn bao thuốc không trên bàn, tôi bèn mượn cây bút chép ra bài thơ sau đây để tặng Thầy. Thầy còn giữ mãi về sau này mặc dù bao thuốc đã ngả màu vàng:

QUÁN CÀ PHÊ VÀ VƯỜN LAN

Cám ơn Bác dẫn viếng vườn lan (1)
Trong một chiều mưa, trú giữa đàng.
Quán cóc không to, chừng mát mẻ
Vườn lan chẳng rộng, vẻ khang trang.
Cà phê, thuốc lá, vui lòng khách
Gold Fish, Valda, rõ mặt hàng (2)
Thanh lịch phải đâu là cao ốc
Vách lá, chòi tranh cũng thấy SANG. (3)

Dương Tử (1986)

(1) Những lúc thân mật, tôi bắt chước những bạn khác gọi Thầy bằng Bác. Cũng có ý đùa bọn cán bộ CS về việc họ gọi lãnh tụ của họ bằng Bác.

(2) Gold Fish, Valda Masperoe là tên hai giống lan quí, dịch ra tên Việt là Hoàng Ngư và Long Châu, được bày bán ở quầy hàng.

(3) SANG ở đây cũng là tên Thầy.

Lại một lần khác nữa, hai thầy trò đi chơi về tối, đạp xe mỏi mệt, bèn ghé qua một trong dãy quán bên lề đường Nguyễn Minh Chiếu ở Phú Nhuận để nghỉ chân và uống nước giải khát. Đường phố đã lên đèn, tiếng kèn, tiếng trống tiếng nhạc từ các quán vang lên xập xình, rộn rã. Thầy bèn ra đề “Quán Cóc”, nhưng khó hơn các lần trước là mỗi câu phải bắt đầu bằng một tiếng trống “TUM TẠC TẠC TUM”. Thế thì khó thật, vả lại trong bài thơ Đường luật có đến tám câu, mà chỉ có hai chữ TẠC TUM thì làm sao thay đổi đây. Do đó, tôi xin Thầy cho tôi được quyền bỏ các dấu trên hai chữ tum tạc, như tạc tác tum tùm tủm tụm. Thầy bằng lòng. Hai ly cà phê đã gần cạn, tôi còn đang trầm ngâm, thì bỗng nơi bàn kế trong góc quán, một thực khách xem chừng đã say và ghen tương sao đó trong việc giành giật các cô chiêu đãi đã ném bình tương ớt xuống sàn gạch bể nát. Một ý nghĩ loé lên. Thế là bài thơ cuối cùng mà tôi phải làm “theo đơn đặt hàng” của Thầy – cũng như thợ viết CS sáng tác theo đơn đặt hàng của Đảng – đã thành hình trong đầu tôi, chỉ còn sửa lại đôi chút và chép ra trên giấy trắng mực đen mà thôi.

QUÁN CÓC

Tùm lum quán cóc rải bên đường (1)
Tạc tạc tiếng đàn lắm vẩn vương.
Tủm tỉm cô hàng đong chén rượu
Tác tan anh xỉn đổ ghè tương (2)
Tụm bảy tụm ba bên phố vắng
Tạc thù tạc chén giữa đêm sương
Tum tạc, tạc tum cho hết kiếp
Tác oai, tác phúc cũng vô thường. (3)

Dương Tử (1987)

(1) Các từ đầu câu là những từ bắt buộc.

(2) Nghĩa đen và nghĩa bóng.

(3) “Vô thường” chữ của nhà Phật. Tôi dùng chữ này khi thấy thái độ hung hăng của anh bạn nhậu mà liền nghĩ đến những kẻ đắc thời, hung hăng tác oai tác phúc, khạc ra lửa mửa ra khói, rốt cuộc rồi cũng nhắm mắt xuôi tay, nằm trong bốn tấm ván dài hai tấm ván ngắn, đúng theo luật Vô Thường của nhà Phật: “Cái gì đã sinh ra cũng luôn luôn bị sự tiêu diệt hăm dọa. Bất cứ chiếc bình nào ra khỏi bàn tay người thợ làm đồ gốm rốt cuộc rồi cũng bị tan vỡ! Đời sống của chúng sinh cũng thế. Đó là định luật VÔ THƯỜNG” (Lời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni).

Thầy có tinh thần bất khuất của kẻ sĩ: không tìm cách ra nước ngoài mà cũng không hợp tác với Cộng Sản. Sau biến cố 30.4.75, Thầy tiếp tục dạy học cho đến tuổi về hưu. Bọn cán bộ CS cũng biết rõ Thầy không ưa gì bọn chúng và các con Thầy lần lượt đi ra nước ngoài, nên ra sức rình rập, canh chừng, tìm cách hãm hại Thầy, nhưng Thầy không sợ, vẫn tiếp tục giao thiệp với các bạn bè cũ, những phần tử mà CS cho là phản động, ngụy quân, ngụy quyền, hoặc tù cải tạo được tha về, đúng câu “Uy vũ bất năng khuất”, không vì đe dọa, sợ sệt mà thay lòng đổi dạ như những kẻ tầm thường. Thấy Thầy có tài sản, đất đai, nhà cửa, chúng tìm cách chiếm đoạt. Đầu tiên, chúng cho một cán bộ từ Bắc mới thuyên chuyển vào Nam đến xin Thầy cho tạm trú trong khi chờ Quận cấp nhà. Vì là tạm trú một thời gian ngắn như lời tên cán bộ Quận dẫn đến giới thiệu, nên Thầy không thể từ chối được và đành phải cho tên cán bộ nọ và gia đình hắn tạm ở tại căn nhà kho, bên hông ngôi nhà chính. Một khi vào ở được rồi, tên cán bộ nọ hẹn lần hẹn lựa, nay dọn đi, mai dọn đi, nhưng vẫn ở lì mãi trong căn nhà kho. “Di họa” mà có lần Cô đã đề cập đến, bắt đầu manh nha. Sau cùng, với sự yểm trợ của cán bộ Quận, hắn tuyên bố chiếm đoạt hẳn căn nhà kho và thách thức gia đình Thầy đi thưa đi, rồi ngang nhiên xây vách tường ngăn hẳn căn nhà kho với ngôi nhà chính của Thầy. Hắn công khai tuyên bố là chỉ cần bỏ ra vài cây vàng lo lót cho các cán bộ Quận, thì không ai làm gì được hắn cả. Mà quả thật như thế: tội nghiệp Thầy, nóng ruột vì mất của, Thầy chạy đôn chạy đáo, thưa gửi tủm lum, hết Quận đến Thành phố, nhưng huyện bênh huyện, phủ bênh phủ, rốt cuộc vì thấp cổ bé miệng, Thầy không còn biết kêu ca vào đâu và uất ức nhìn những kẻ ngang nhiên chiếm đoạt tài sản do công lao bao nhiêu năm khó nhọc gây dựng của Thầy Cô. Thật đúng là:

Con ơi nhớ lấy lời này

Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

Nhưng chưa hết đâu. Do sự chỉ dẫn của tên cán bộ lưu manh côn đồ này, cán bộ Quận Phú Nhuận lấy cớ là nhà Thầy lúc trước cho Mỹ thuê, ồ ạt đến chiếm toàn bộ phần nhà của Thầy ở bên phải đường rầy nhìn ra đường Minh Mạng để làm trụ sở Thanh niên. Thầy thưa ra đến tận Hà-Nội, chúng mới chịu trả. Nhưng trả rồi lại chiếm lại: sách lược cố hữu của Cộng Sản là lùi một bước để rồi tiến hai ba bước và lần này cho đến chết, Thầy không còn đòi lại nhà được nữa! Chiếu theo luật rừng, mỗi người chỉ được ở trong mấy mét vuông thôi!

Thầy buồn rầu, uất ức, cạo trọc đầu, đi chân đất, hốc hác trông thấy. Những lúc tôi đến thăm, Thầy trò trải chiếu nằm dưới gạch, thảo đơn thưa gửi, tìm phương cách đối phó, nhưng rốt cuộc cũng đành bó tay. Riêng tôi cũng rất buồn vì không giúp gì được cho Thầy. Chính mình còn lo cho mình chưa xong: lớp nào vượt biên, mất mát tù đầy, lớp nào lo nộp hồ sơ xin đoàn tụ theo diện ODP, lớp nào xin tị nạn theo diện HO, lớp nào lo con cái, nhà cửa, tiền bạc để lo cho Phòng Dịch Vụ, giấy tờ để nộp cho Sở Nhà Đất, lu bù muốn điên cái đầu. Trước khi đi, tôi có đến chào Ngoại, mẹ của Cô, chào tạm biệt Thầy Cô, vợ chồng Dũng và bé gái con Dũng. Thầy chúc tôi và gia đình ra đi được bình an, thành công trong việc gây dựng cuộc sống mới và “sớm trở về để xây dựng lại quê hương”, Thầy nói chậm rãi và nhấn mạnh ở mấy chữ sau cùng, ngụ ý mong cho một sự thay đổi nào đó ở một tương lai rất gần…

Tôi và gia đình sang Mỹ cuối năm 1990, năm sau 1991 thì gặp lại Paul, một bạn thân của Dũng, cũng là một học sinh của trường Petrus Ký, người cùng xứ Biên Hòa với tôi. Thầy trò gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng trên sân quần vợt của chung cư Cinnamon Creek. Tôi hỏi thăm Paul rất nhiều về Thầy Cô và Dũng, cũng như bé gái con của Dũng, chuyện nhà cửa, chuyện xã hội…, đủ thứ chuyện trên đời. Và rồi đầu năm 1993 thì được tin Thầy mất, vĩnh biệt cõi đời ô trọc, đầy rẫy những trò gian trá, xảo quyệt, tranh danh đoạt lợi, không mảy mai thích hợp với tính thật thà, đôn hậu của Thầy, lại càng hoàn toàn không thích hợp với nghề dạy học thanh bạch, cao quý của Thầy, để đi về cõi vĩnh cửu vô ưu. Chỉ tội cho những người còn lại là Cô, các anh chị con của Thầy, vợ chồng Dũng, các cháu, bạn bè thân thiết và đám học sinh đông đảo của Thầy ngày ngày thương nhớ không nguôi.

VĨNH BIỆT THẦY

Vĩnh biệt Bác ơi, vĩnh biệt đời
Tiếc thương, thương tiếc cũng đành thôi!
Ngục tù Cộng Sản thênh thang mở
Miền đất tự do khép lại rồi!
Tham nhũng lan tràn, người độc ác
Đói nghèo khắp xứ, kẻ chơi vơi.
Mùng ba tháng chạp ngày Bác mất
Thắp nhang khấn Bác dạ bồi hồi!

Dương Tử (1993)

Nguyện hương vong Thầy linh thiêng, hộ trì cho đất nước sớm sạch bóng những tên ngu dốt, mù quáng theo chủ thuyết ngoại lai, tham ô, độc ác, để các con cháu Thầy sớm trở về đoàn tụ dưới mái nhà thân yêu mà Thầy Cô đã dày công gây dựng và quyết tâm bảo vệ cho đến hơi thở cuối cùng, và cũng để những người Việt Nam tị nạn tản mát khắp nơi trên thế giới sớm được trở về xây dựng lại quê hương.

Cali, ngày 3.12.1993

DƯƠNG TỬ (USA)

Thầy Nguyễn Hoàng Sang