Thân thế và sự nghiệp của Phan Thanh Giản

Nguyễn Thanh Liêm

Than the su nghiep Phan Thanh GianPhan Thanh Giản tên chữ là Tinh Bá, và Đạm Như, hiệu Lương Khê, biệt hiệu Mai Xuyên, sinh ngày 12 tháng 10, năm Bính Thìn, tức Tây Lịch 1796. Tổ tiên là người Trung Hoa, đến cuối đời Minh mới sang Việt Nam, trước ở làng Hội Trung, huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định, đến đời thân sinh cụ gia đình mới thiên cư vào Nam ở làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh về sau đổi ra làng Bảo Thạnh, tổng Bảo Trị, huyện Bảo An, phủ Hoằng Trị, tỉnh Vĩnh Long, và sau này làng Bảo Thạnh lại thuộc quận Ba Tri, tỉnh Kiến Hoà.

Thân sinh của cụ Phan là Phan Thanh Ngạn, hiệu Mai Dã, tục gọi là Xán, cất nhà ở gảnh Mù U, bãi Ngao, tức Ngao Châu, cưới vợ là bà Lâm Thị Búp, người làng Phú Ngãi, tổng Bảo Thuận. Phan Thanh Ngạn để vợ con ở gảnh Mù U, lên Vĩnh Long làm chức thơ lại cho triều Nguyễn. Năm 1798 ông lãnh vận lương cấp cho quan quân đánh với Tây Sơn ở Bình Định. Bà Lâm Thị Búp mất năm 1802, thọ 27 tuổi. Lúc này Phan Thanh Giản chỉ mới 7 tuổi. Cha có vợ khác là người Long Hồ. Nhưng mẹ ghẻ là người hiền đức, hết lòng lo lắng cho con chồng. Bà cho Phan Thanh Giản theo học với nhà sư Nguyễn Văn Noa ở chùa Phú Ngãi. Mỗi tháng bà phát cho Phan Thanh Giản 30 tô gạo và 30 con mấm.

Năm 1815 Phan Thanh Ngạn bị vu cáo, bị cách chức, và bị phạt tù một năm ở Vĩnh Long. Phan Thanh Giản thân hành lên tỉnh xin ở tù thế cho cha trước quan Hiệp Trấn Vĩnh Long nhưng không được. Thấy Phan Thanh Giản hiếu hạnh, lại thông minh dĩnh ngộ, quan Hiệp Trấn an ủi ông, khuyên ông cố gắng học hành và hết lòng giúp đở ông về tài chánh. Hằng ngày ông vào khám thăm cha, làm những việc cực nhọc của cha phải làm, và hết sức chuyên cần học tập. Sau khi cha mãn tù, nhờ sự khuyến khích giúp đở của quan Hiệp Trấn, Phan Thanh Giản tiếp tục ở lại Vĩnh Long, học với một đốc học họ Võ. Ông cũng được bà quả phụ Nguyễn Thị Ân, cám thương tình cảnh thiếu thốn của ông, giúp đở ông tiến bạc, quần áo.

Năm 1825 Phan Thanh Giản đậu Cử Nhân kỳ thi Hương tại Gia Định. Cũng trong năm này ông cưới bà Lê người Long Hồ làm vợ vì bà vợ trước đã mất. Năm 1826 ông ra Huế dự thi. Trước khi ra đi ông có bài thơ “Ký Nội” nhắn gởi bà vợ ở nhà lo cho cha đang già yếu bệnh hoạn. Bài thơ này được nhiều cho là một kiệt tác của ông.

Từ thuở vương mang mối chỉ hồng

Lòng này ghi tạc có non sông.

Đường mây cười tớ ham dong ruổi,

Trướng liễu thương ai chịu lạnh lùng.

Ơn nước nợ trai đành nỗi bận,

Cha già nhà khó cậy ai cùng.

Mấy lời dặn bảo cơn ly biệt,

Rằng nhớ rằng quên lòng hởi lòng.

Trong khoa thi này (Bính Tuất, 1826) có 200 sĩ tử, trong số này có 10 người đỗ Tiến Sĩ. Phan Thanh Giản đứng thứ ba trong 10 ông tiến sĩ khoa này. Đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Miền Nam có một vị tiến sĩ thời Nho học. Đậu xong, ông về quê lạy tạ ơn Hiếp Trấn Vĩnh Long, ông thầy họ Võ, bà Nguyễn Thị Ân, nhà sư nguyễn Văn Noa cùng thân bằng quyến thuộc, nhưng tuyệt nhiên không c ó cảnh vinh quy bái tổ, võng chàng đi trước, võng nàng theo sau.

Năm 1827 ông bắt đầu cuộc đời làm quan với chức Lang Trung bộ hình tại kinh đô Huế. Năm sau ông lãnh chức Tham hiệp tỉnh Quảng Bình. Năm này nhờ người mai mối, ông cưới bàTrần Thị Hoạch, một hiền phụ ở Quảng Trị. Cụ Phan đưa vợ về Kiến Hoà để lo phụng dưỡng cho thân phụ đã già yếụ. Bà Trần Thị Hoạch làm tròn câu “xuất giá tùng phu”, một mình về Kiến Hoà báo hiếu cho chồng. Bà cưới người hầu thiếp, tên Thịnh ở làng Bảo Thạnh, cho cụ Phan để có người hầu hạ cụ nhưng cụ nhất định từ chối.

Từ Quảng Bình ôngï được thuyên chuyển về Quảng Nam để dẹp loạn Cao Gồng ở Chiên Đàn. Thất trận ông bị giáng chức làm Tiền Quân hiệu lực, mỗi khi đáng giặc ông vác giáo đi trước. Khi yên giặc ôngï được gọi về Kinh phục chức Hàn Lâm kiểm thảo, sung nội các hành tẩu rồi làm phó sứ sang Trung Hoa. Được khen thưởng và được cắt cử làm Kinh Lược sứ ở Trấn Tây (Cao Miên), rồi trỡ về sung chức Bố Chánh Quảng Nam.

Năm 1836, Minh Mạng muốn ngự giá núi Ngũ Hành. Ông dâng sớ cản ngăn. Minh Mạng không nghe lời can. Khi Minh Mạng đến Quảng Nam, Phan Thanh Giản quì trước ngự giá cản vua. Minh Mạng đình chỉ việc tuần thú, nhưng sai người đến Quảng Nam xem xét tình hình. Bị nịnh thần gièm siểm, cụ bị giáng chức, làm người quét dọn bàn ghế tại tỉnh đường tỉnh Quảng Nam. Nhưng ít lâu sau, được vua hiểu rõ tình cảnh và lòng dạ, nên được tin dùng trỡ lại, và được bổ Đô Sát viện Ngự Sử, sung Cơ Mật Viện đại thần.

Năm Thiệu Trị nguyên niên, 1841, ông được thăng Tham Tri bộ hình, sung Cơ Mật Viện đại thần. Năm này ông được cử làm Chánh Chủ Khảo trường thi Hà Nội. Năm 1842 Thiệu Trị tuần du ra Bắc. Quân lính và hầu cận gần 17,500 người, chi phí lên đến 100 vạn quan. Hành cung xây 44 nơi. Năm 1847, ông được Thiệu Trị khen và thăng Hình Bộ Thượng Thơ sung Cơ Mật Viện đại thần. Thiệu Trị thăng hà năm này và Tự Đức lên thay. Ông được đổi qua Lại Bộ Thượng Thơ. Năm 1851, vua sai Nguyễn Tri Phương làm Kinh Lược chánh sứ, Phan Thanh Giản làm phó sứ vào Nam lập đồn điền, khai phá rừng bụi, lập làng ấp, đấp đồng luỷ ngăn ngừa giặc Miên. Mùa xuân 1852 trời có nhiều điều lạ. Vua lo sợ, xuống lời dụ hỏi các quan để vua thẩm xét và làm theo. Phan Thanh Giản và Nguyễn Tri Phương có sớ điều trần gồm 8 điểm trình lên vua. Tự Đức thưởng cho Phan Thanh Giản tấm kim khánh có khắc 4 chữ “Liêm, Bình, Cần, Cán”.

Năm 1859, Pháp chiếm Gia Định và sau đó, năm 1961, chiếm 3 tỉnh Miền Đông, và lâm le tấn công sang Vĩnh Long. Triều đình sai Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Nam thương thuyết để cứu vãn tình thế. Việt Nam đang ở vào thế yếu nên cuộc thương thuyết chỉ đưa đến việc ký kết hiệp ước ngày 5/6/1862 cắt 3 tỉnh Miền Đông giao cho Pháp để giảng hoà. Vua Tự Đức và các triều thần không hài lòng nên lại cử phái bộ sang Pháp chuộc lại các tỉnh bị mất. Phan Thanh Giản được giao trách nhiệm Chánh Sứ, với Phó Sứ Phạm Phú Thứ và Bồi Sứ Nguỵ Khắc Đản. Phái đoàn gồm 53 người trong đó có Petrus Truong Vĩnh Ký làm thông dịch viên, từ Đà Nẵng xuống tàu “Echo”hồi cuối tháng 6. Ngày 4/7 phái đoàn đáp tàu “Européen” đến Alexandrie đổi qua tàu “Labrador” sang Pháp. Sau hai tháng 7 ngày lênh đênh trên mặt bể, phái đoàn đến Pháp. Ngày 10/9/1863 sứ bộ lên Marseille, được hải quân Pháp ở đây chào mừng bằng 17 phát  đại bác. Các thuyền ở tại bến đều kéo cờ Việt Nam bên cạnh cờ Pháp theo đúng nghi thức. Phái bộ nghỉ tạm một đêm ở Marseille và hôm sau, 11/9, lên Paris triều yết Pháp hoàng Nã Phá Luân đệ Tam. Nhưng lúc này Pháp hoàng đang nghỉ mát, sứ thần phải chờ hơn một tháng mới được yết kiến. Phan Thanh Giản đệ trình văn thơ xin chuộc ba tỉnh Miền Đông của vua Tự Đức. Pháp hoàng trả lời phái đoàn là sẽ trả lời triều đình Huế sau khi có cuộc đình nghị ở Pháp. Mấy hôm sau Phan Thanh Giản cùng phái đoàn đi sang Y pha Nho, và đến cuối năm thì lên tàu “Japon” trỡ về Việt Nam. Cuộc thương thuyết không đi đến đâu cả vì chưa có hồi đáp của Pháp hoàng. Ngày 24/3/1864 sứ bộ về tới Sài Gòn sau một chuyến công du không kết quả. Phía Pháp lúc này cũng đang có khó khăn, Pháp hoàng còn rất phân vân mới sai trung tá Aubaret sang điều đình với triều đình Huế. Cuộc điều đình chưa xong thì Chasseloup Laubat , bộ trưởng Hải Quân Pháp, tâu lên Pháp hoàng không cho Việt Nam chuộc ba tỉnh Miền Đông, và buộc phải thi hành hoà ước Nhâm Tuất (1862). Năm 1865 việc cai trị ở 3 tỉnh Miền Đông khá ổn định, De la Grandière bắt đầu dòm ngó các tỉnh Miền Tây. Triều đình Huế đã thấy được ý đồ của Suý Phủ Sài Gòn nên năm 1866 lại sai Phan Thanh Giản vào làm kinh lược sứ để tìm cách chống giữ.

Trong nhiệm vụ mới, hết sức nặng nề, cụ Phan cố gắng tìm cơ hội giải hoà, tiết kiệm xương máu của dân chúng. Biết không đương đầu nỗi với súng ống tối tân của Pháp cụ Phan không còn cách nào để bảo vệ phần còn lại của Nam Kỳ hơn là yêu cầu đàm phán. Nhưng thực dân Pháp đã thấy rõ thế yếu của Việt Nam. Ngày 17/6/1867 Pháp đem đại quân trên tàu chiến đến trước thành Vĩnh Long đưa tối hậu thơ cho cụ Phan yêu cầu đàm phán ngay trên tàu của họ. Trong cuộc hội đàm họ đưa ra điều kiện buộc Việt Nam đầu hàng. Cụ Phan từ khước, xin đình lại để hỏi ý kiến triều đình. Nhưng ngay khi cuộc đàm phán chưa kết thúc thì quân Pháp đã đổ bộ kéo binh vào thành. Vĩnh Long thất thủ, và tiếp theo đóø An Giang và Hà Tiên cũng lần lượt rơi vào tay Pháp.

Thấy mình không làm tròn bổn phận giử thành, cụ Phan đã tự xử lấy mình. Cụ vào trong một chòi tranh bắt đầu tuyệt thực. Cụ xếp tất cả áo mão, trào phục, sắc phong, kèm theo tờ sớ tạ tội với triều đình. Sau 17 ngày tuyệt thực, cụ vẫn không chết. Lúc nữa đêm mùng 4 rạng mùng 5 tháng 7 năm Đinh Mão (1867), cụ uống á phiện với giấm thanh kết liễu đời mình. Lúc này cụ được  71 tuổi.

Linh cửu cụ được đem về làng Bảo Thạnh, huyện Kiến Hoà, mai táng. Các quan Nam và Pháp tời thăm ai cũng đều ngậm ngùi thương tiếc. Cụ Nguyễn Đình Chiểu có bài thơ khóc cụ Phan:

Non nước tan tành hệ bởi đâu

Dàu dàu mây trắng cõi Ngao Châu.

Ba triều công cán vài hàng sớ

Sáu tỉnh cang thường một gánh thâu

Trạm Bắc ngày chiều tin nhạn vắng,

Thành Nam đêm quạnh tiếng quyên sầu.

Minh sanh chín chữ lòng son tạc,

Trời đất từ đây mặc gió thu

Cùng lúc này triều đình chẳng những không đoái tưởng đến một công thần hết sức trung thành, hết lòng vì dân vì nước, không một lời chia buồn cùng gia quyến, còn có sắc bãi chức cụ để làm gương, cho đục tên cụ trong bia tiến sĩ ngoài Huế.

Thấy mình đã không tròn trách nhiệm đối với triều đình trong việc bảo toàn lãnh thổ, cụ chỉ muốn người đời sau biết đến cụ như một người dân thường không có học vị, quan chức, công nghiệp gì cả, vì thế cụ đã có di chúc cho con cháu chỉ ghi trên mộ bia một câu tầm thường như sau:

“NAM KỲ HẢI NHAI LÃO THƠ SANH

PHAN CÔNG CHI MỘ”

Đối với triều đình Huề và một số người Cộng sản chật hẹp, cụ Phan không có một sự nghiệp gì đáng kể. Tuy nhiên đối với người dân Miền Nam cũng như đối với những người trí thức nhân bản, khai phóng thì sự nghiệp của cụ Phan hết sức lớn lao, không những về văn chương mà cả về chính trị. Về văn chương, Phan Thanh Giản là một nhà thơ, một nhà văn, một học giả uyên bác, để lại nhiều tác phẩm giá trị. Toàn thể tác phẩm của cụ được ghi lại trong bộ sách “Lương Khê thi văn thảo” do chính cụ cùng các con sưu tầm, biên tập và khắc in. Bộ sách gồm hai phần: Phần Một là phần Thi Thảo gồm 18 quyển với gần 500 bài thơ Đường luật, ngũ ngôn, tư,ø vịnh, và Phần Hai là phần Văn Thảo gồm biểu, sớ, ký, sự, thuyết, luy, thư, luận, biện. . . tất cả 39 bài trong 3 quyển. Ngoài ra còn có Phần Phụ gồm Thi Thảo Bổ Di với 20 bài vịnh, và Văn Thảo Bổ Di với 4 bài. Về chính trị, nếu lấy chủ trương “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” làm triết lý căn bản, thì sự nghiệp của cụ Phan phải được đánh giá thật cao. Năm 1828, nhân có bão lụt ở Huế, cụ đã dâng sớ tâu xin “Thánh Thượng tự sửa mình làm điều nhân đức và giảm số cung nữ phi tần. . . như thế . . . bách tính sẽ được sung sướng.” Với tính cương trực, và với lòng thương dân cao độ, cụ đã nhiều lần can gián vua bớt những xa xí, phí tổn, bớt gánh nặng trút lên đầu dân nghèo. Có lần bị giáng chức, bị quở phạt, cụ cũng không nhụt chí. Trong một tờ sớ dâng vua Minh Mạng, cụ viết “Vua ngự htì ngàn xe, muôn ngựa, quan quân hầu hạ, nhứt thiết vì tiêu dùng của vua. Những việc sửa đắp đường sá, dọn dẹp cung điện, sáp củi đốt cho quan quân, cắt cỏ lót cho ngựa, voi, tất nhiên phải bắt dân phu với lính, như thế dân phải bỏ việc tư, lo việc công. Hạ thần là kẻ giữ đất chăn dân, đội đức vua, không làm được cho dân hạnh phúc thật là có tội”.

Trước sức mạnh của văn minh Tây phương, biết mình không cách gì chống cự được, cụ chủ trương hoà hoản, học hỏi, đổi mới thay vì chống trả bằng quân sự. Chủ trương của cụ đã tiết kiệm được biết bao nhiêu xương máu, tàn phá, sụp đỗ cho người dân lành. Nếu dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, thì con đường của cụ là con đường có giá trị nhất. Điều đó cho thấy tại sao người dân Nam luôn nhớ ơn, tôn sùng cụ.

Nguyễn Thanh Liêm