Nhung ngay sau cung cua cuoc noi chien Tay Son Nguyen Anh – Nguyen Duy Chinh

Cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn Ánh kéo dài khá lâu nhưng thời gian 15 năm sau cùng có những biến chuyển đặc biệt. Hai vương triều trong tiến trình tranh đấu đã đi theo hai hướng khác nhau và chiến thắng sau cùng đã về tay chúa Nguyễn. Người ta có thể đánh giá dưới nhiều khía cạnh khác nhau nhưng đặt trên những cơ sở tương đối chắc chắn, con đường canh tân của Nguyễn Ánh có nhiều điểm tích cực đáng ghi nhận.

Thứ nhất, chúa Nguyễn tuy phải đối phó với hai vương triều, Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nhưng không cùng một lúc mà theo tiến trình, diệt triều đình Thái Ðức trước rồi sau đó mới trực diện đối phó với hậu duệ của vương triều Quang Trung, khi đó là Cảnh Thịnh, con của Nguyễn Huệ. Sự chia cắt lực lượng đối phương là một lợi thế lớn cho Nguyễn Ánh vì sau mỗi trận đánh, ông lại được bổ sung thêm một số binh sĩ và khí giới nghĩa là mạnh lên chứ không phải yếu đi.

Thứ hai, trong khi đối phương tuy có ưu thế về địa lợi và cai trị một số lượng dân chúng đông đảo gấp bội, chúa Nguyễn lại tiếp thu được nhiều tiến bộ kỹ thuật mới của Âu Châu qua trung gian một số giáo sĩ và lính đánh thuê. Ông cũng nhanh chóng áp dụng những hiểu biết mới về khoa học tổ chức để biến một khu hoang địa thành một quốc gia làm hậu phương cho những chiến dịch liên tục từ năm này sang năm khác.

Thứ ba, chúa Nguyễn đã nhìn được sự quan trọng của võ khí chiến lược cuối thế kỷ XVIII. Ðó là lực lượng hải quân tổ chức và xây dựng theo kiểu Tây phương nên chiếm được ưu thế về di động, đưa đối phương hoàn toàn vào thế thủ để ông hoàn toàn chủ động trong việc chọn thời gian và địa điểm tấn công.

Trong khoảng thời gian gần 15 năm, hải quân của chúa Nguyễn đã làm chủ biển cả. Trong khi đó, lực lượng mặt biển của Tây Sơn lại vẫn chỉ là những chiến thuyền cận duyên, thảng hoặc có một số thuyền lớn vốn là của hải phỉ thì vẫn là một phương tiện chuyên chở là chính, chưa hình thành kỹ thuật điều động thao tác để thành một đội hình tấn công. Họ tiếp tục chiến đấu theo mô hình hải tặc từ Nhật Bản xuống Nam Dương vốn dĩ hoạt động lâu nay trên biển cả, có một lịch sử lâu dài nhưng không trung thành với một thế lực nhất định nào.

Về chiến sự, những trận đánh giữa Tây Sơn và chúa Nguyễn đã được ghi nhận rất nhiều trong sử triều Nguyễn, qua các bộ sử lớn như Ðại Nam thực lục, Ðại Nam Chính Biên Liệt Truyện … thêm cả những tường thuật rất chi tiết và linh động của các sĩ quan, giáo sĩ đã tham dự và chứng kiến. Do đó, chúng tôi sẽ chỉ nhắc đến những chi tiết chính, chủ yếu là mốc thời gian để đào sâu vào ba khía cạnh quan trọng nhưng chưa mấy ai khai thác:

1. Sự ưu thắng về tổ chức hành chánh và quân sự trong đó hải quân là một thế mạnh của chúa Nguyễn

2. Nỗ lực vận động để phân hoá đối phương và kết hợp với những đồng minh trong giới cựu thần nhà Lê ở miền Bắc

3. Vận động ngoại giao với nhà Thanh để triệt đường thoái lui sau cùng của địch

Khi phải bỏ Phú Xuân chạy ra Bắc, vua Bảo Hưng (tức Nguyễn Quang Toản, con trưởng, kế vị vua Quang Trung) cũng lại đi theo một truyền thống cố hữu của những triều đại thất thế. Ðó là tìm cách sang Tàu cầu cứu để mong được sự giúp đỡ của “thiên triều”.

Phản ứng và thái độ ứng xử của nhà Thanh về tình hình Việt Nam lúc đó sử nước ta ít nhắc đến một phần vì triều Nguyễn cố ý muốn bỏ qua những liên hệ với bên ngoài, dù đó là Xiêm La, Chân Lạp, Ai Lao, Pháp hay Trung Hoa. Việc nêu cao tính chất chính thống luôn luôn nêu cao danh nghĩa “thảo tặc” (đánh dẹp giặc) hơn là tranh bá đồ vương, tuy bản chất vẫn chỉ là một cuộc nội chiến để giành lấy ngai vàng vào tay mình. Chính vì thế, trong cuộc tương tranh trong cùng một nước người ta thường ít nhắc đến “ngoại viện”, vì dựa vào ngoại bang vốn dĩ luôn luôn bị đánh giá thấp tuy trong thế mất còn, việc nương nhờ bên ngoài là điều khó tránh khỏi.

Cứ như sách vở còn để lại, không phải chỉ một bên muốn dựa vào Trung Hoa mà có lúc cả triều đình Thăng Long [Bảo Hưng] lẫn triều đình Thuận Hoá [Gia Long] cùng tìm cách mua chuộc, vận động nhà Thanh để họ đứng về phía mình.

Về phía Nguyễn Quang Toản, ông là người kế nhiệm chính thức được công nhận, trong nhiều năm vẫn giữ vai trò chức cống đầy đủ, không xao nhãng vai trò phiên thuộc. Ngược lại, Nguyễn Phúc Ánh tuy đang thắng thế trên mặt quân sự nhưng khởi binh từ Gia Ðịnh, vốn dĩ không được dự vào hạng “phiên phong” của nhà Thanh. Cũng như Chân Lạp, có lẽ Trung Hoa chỉ coi đất Ðồng Nai như một vùng đất ngoài “vương hoá” và thường đồng hoá với một khu vực trong vòng ảnh hưởng của Xiêm La, nơi dung chứa cho những kẻ thảo khấu chạy từ vùng biển Hoa Nam xuống nương náu mà họ gọi là Nông Nại.

Vì thế, khi sai người sang cầu phong, vua Gia Long không phải chỉ chứng minh việc mình làm chủ đất nước mà còn phải vận động để nhà Thanh công nhận mình, tước bỏ sự chính thống của triều đình Tây Sơn.

Trong Hoàng Việt Hưng Long Chí, Ngô Giáp Đậu có chép một đoạn đáng lưu ý:

Lại nói bản triều khi mới trấn thủ Thuận, Quảng thì vẫn còn thần phục nhà Lê. Ðến đời Minh Vương, vương sai bọn Hoàng Thì, Hưng Triệt sang Quảng Ðông cầu phong. Vua Khang Hi xuống chiếu bàn luận việc đó, quần thần bàn rằng nước Quảng Nam hùng cứ một phương, thôn tính cả hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp, về sau hẳn lớn mạnh. Có điều nhà Lê của nước An Nam vẫn còn, chưa thể phong riêng được, việc đó vì thế lại dìm đi.

Khi trước sang Thanh cầu phong thì chưa xưng quốc hiệu, nhưng tiếng tăm đất Ðồng Nai [Nông Nại] thì người Trung Quốc biết từ lâu.

Khi vua thu phục được đất Gia Ðịnh, muốn thông hiếu với Ðại Thanh để ly gián họ với Tây Sơn, mới  sai Phan Chánh Trung đem quốc thư, phương vật, đáp thuyền buôn đưa lên tổng đốc Lưỡng Quảng. Thuyền đến Hổ Môn thì bị gió bão đánh chìm. Lại sai Ngô Nhân Tĩnh đi Quảng Ðông, dò hỏi tin tức vua Lê để hiệp lực cùng xin viện binh, đến nơi mới hay vua Chiêu Thống đã chết ở Yên Kinh rồi. Vì thế Nhân Tĩnh phải quay về.

Sau khi chiến thắng ở Qui Nhơn, cai đội Nguyễn Hựu Ðịnh đi thuyền ra ngoài biển, bị gió thổi vào hải phận Quảng Ðông, Thanh đế ra lệnh cấp lương thực, quần áo rồi cho về.

Ðến khi vua lấy lại được kinh đô Phú Xuân, cùng đình thần bàn tính đem việc trong nước viết thư nhờ thương nhân người Thanh là Triệu Ðại Sĩ [thực ra là Ðại Nhậm nhưng vì kiêng huý vua Tự Ðức nên bớt đi một nét] gửi cho tổng đốc Lưỡng Quảng, Sĩ quay trở về tâu chuyện nước Thanh, vua dụ quần thần:

–          Nước ta tuy đã có từ lâu, nhưng mệnh trời còn mới [ý nói mới trung hưng]. Việc phục thù đại nghĩa, người Thanh chắc chưa tỏ tường. Trước đây quân ta bị bão gặp nạn, người Thanh chu cấp hậu hĩ rồi cho về, chưa có dịp nào báo đáp. Nay bắt được ấn của nguỵ cùng với sắc phong của nhà Thanh, lại bắt được hải phỉ, là giặc cướp của người Thanh bỏ trốn. Vậy thì trước hết sai sứ đem trả lại, rồi đem chuyện bắc phạt báo cho họ biết. Ðợi đến khi đại định, lúc ấy sẽ tính chuyện bang giao như xưa.

Mới lấy Trịnh Hoài Ðức làm thượng thư bộ Hộ, làm chánh sứ, binh bộ tham tri Ngô Nhân Tĩnh, hình bộ tham tri Hoàng Ngọc Uẩn làm phó sứ, đem quốc thư và phẩm vật cùng với sách ấn nhà Thanh phong cho nguỵ Tây Sơn và bọn hải phỉ Tề Nguy [thuyền dùng ba cột buồm bằng nhau nên gọi là tề nguy – ghi chú của người viết] là Mạc Quan Phù, Lương Văn Canh, Phàn Văn Tài đi hai thuyền Bạch Yến, Huyền Hạc theo cửa ải Hổ Môn ở Quảng Ðông đệ lên tổng đốc Giác La Cát Khánh chuyển đạt.[1]

Tuy việc bang giao giữa triều đình vua Gia Long với Thanh triều để được phong vương thay thế Nguyễn Quang Toản chỉ là thủ tục nhưng cũng có nhiều điểm chúng ta cần nhắc đến.

Trong khoảng thời gian tương đối ngắn 1792-1802 (mười năm) việc giao thiệp giữa Trung Hoa và Việt Nam (cả Ðàng Trong lẫn Ðàng Ngoài) đều có những thay đổi quan trọng.

  1. Thanh triều

Tính đến năm 1792, vua Càn Long đã ở trên ngôi 57 năm, hơn một nửa thế kỷ tương đối thịnh trị. Như bất cứ một ông vua nào trị vì quá lâu, triều đại của ông cũng mắc phải những chứng bệnh chủ quan nghĩ rằng không ai có đủ tài năng để thay thế mình. Ông chỉ chịu nhường ngôi cho con khi đã làm vua đúng 60 năm [để kém ông nội ông là vua Khanh Hi một chút cho khỏi bất kính] nhưng tuy đã lên làm thái thượng hoàng, ông vẫn quyết định mọi việc quan trọng trong triều ngoài ngõ. Trong năm năm đầu của đế vị, vua Gia Khánh chỉ ngồi làm vì.

Dù không công khai nói ra nhưng vua Gia Khánh rất bất mãn. Lên ngôi ở tuổi đã khá lớn nên khi vua cha vừa băng hà và quyền bính thực sự vào tay mình, vua Nhân Tông liền tiến hành ngay một cuộc thanh trừng nội bộ mà đối tượng đầu tiên là Hoà Thân, một cận thần được vua Cao Tông rất sủng ái. Những người ở trong phe cánh của Hoà Thân cũng bị biếm cách.[2] Hai người có liên hệ trực tiếp đến vấn đề An Nam mà chúng ta đã biết là Tôn Sĩ Nghị và Phúc Khang An tuy đã qua đời nhưng con cháu cũng bị giáng chức, không được thế tập theo đúng qui định.[3]

Một điểm quan trọng khác là thời kỳ thịnh trị của nhà Thanh đã qua, vua Gia Khánh đã phải nghĩ đến những kế hoạch tiết giảm chi phí, không dám tiêu pha rộng rãi vào những yến tiệc, tuần du như thời Càn Long.

Ngoài những khó chịu với chính sách ưu đãi nhà Tây Sơn của vua cha mà ông cho rằng có những mưu toan vị lợi của nhóm Hoà Thân, vua Gia Khánh cũng ngấm ngầm tiến hành một đường lối cách biệt dần với phiên thuộc, chọn một thái độ đứng xa xa để quan sát thay vì để ý từng ly từng tí như cha ông[4].

Cũng vì thế, vua Gia Khánh gần như không biết tới những tranh chấp càng lúc càng khốc liệt ở An Nam đến nỗi khi nghe tin Nguyễn Quang Toản bị Nguyễn Chủng [tên khác của Nguyễn Ánh] bắt, nhà Thanh lại tưởng Nguyễn Chủng là một viên quan Tây Sơn phản chủ.

Ðoán ý vua Nhân Tông, quan lại nhà Thanh “lạc tỉnh hạ thạch” [ném đá xuống người dưới giếng] đồng tình với lời vu cáo của triều đình Nguyễn [Gia Miêu], gây thêm những khó khăn cho một chính quyền đang hồi thất thế.

Sau khi chấm dứt ưu đãi với Tây Sơn, nhà Thanh quay trở lại đối xử bình thường với An Nam (nay là Việt Nam) như thời Lê và ngoại giao giữa hai bên tuy không lạnh nhạt nhưng cũng không nồng thắm. Chỉ đến cuối thế kỷ XIX khi Việt Nam và Trung Hoa cùng bị các nước Tây phương xâm chiếm, Thanh triều và nhà Nguyễn mới liên hệ mật thiết trở lại nhưng cũng nhân dịp can thiệp để ký hoà ước Thiên Tân mà lấn chiếm một số đất dọc theo biên giới cực bắc của Việt Nam.

Chính sách bất can thiệp của nhà Thanh đối với Việt Nam đầu thế kỷ XIX ngoài lý do chính trị cũng còn do những nguyên nhân kinh tế. Cuối đời Khang Hi, dân số Trung Hoa chỉ trên dưới 200 triệu nhưng cuối đời Càn Long con số chính thức là 313 triệu người, hơn gấp rưỡi trong khoảng 60 năm. Tỉ lệ gia tăng trong suốt thời gian vua Càn Long trị vì trung bình từ 7.7 đến 8.7% mỗi năm.[5]

  1. Tây Sơn

Nếu tính theo những biến chuyển triều đại, tuy nhà Thanh thất bại trong chiến dịch An Nam với danh nghĩa “hưng diệt kế tuyệt” [dựng lại một triều đại đã bị tiêu diệt và nối lại dòng chính thống đã bị đứt] nhưng đã vớt vát bằng cách thổi phồng một thắng lợi ngoại giao là việc An Nam chịu giảng hoà và vua Quang Trung xin cầu phong. Tiếp theo đó là hai chuyến công du lịch sử của Nguyễn Quang Hiển sang Bắc Kinh nhận sắc ấn và phái bộ hùng hậu của vua Quang Trung sang tham dự lễ bát tuần khánh thọ.[6]

Chuyến đi lịch sử đó đánh dấu một cao điểm của tương quan Thanh – Việt mà triều đình Tây Sơn trở thành một phiên thuộc hàng đầu ở phương Nam. Trên danh nghĩa, An Nam cũng chỉ được xếp ngang hàng với những tiểu quốc khác như Lưu Cầu, Tiêm La, Miến Ðiện, Nam Chưởng … nhưng trên thực tế vai trò của Nguyễn Huệ khá đặc biệt, ít nhất trong biệt nhãn của vua Càn Long. Cho đến lúc đó, An Nam chỉ đứng sau Triều Tiên là quốc gia được ban ấn bằng vàng, núm hình rùa còn nước ta được ban ấn bằng bạc mạ vàng núm hình lạc đà nằm. Chênh lệch khó nhận ra là An Nam cống kỳ hai năm một lần, bốn năm gộp hai lần cống vật đem sang.

Trong chuyến viếng thăm, khi ngồi ăn yến ở điện Thái Hoà cùng với vương công đại thần và các sứ bộ, Nguyễn Huệ được xếp dưới thân vương nhưng trên quận vương [thân vương chi hạ, quận vương chi thượng (親王之下,郡王之上)]. Theo điển lệ, thân vương là tước cao quí nhất chỉ phong cho người trong hoàng tộc có liên hệ cốt nhục trực tiếp như anh em [ruột], con cháu [ruột] nhà vua còn quận vương là tước phong cho người đứng đầu một nước thường là người trong họ nhà vua đi trấn nhậm.[7]

Chi tiết này được nhắc đến trong tài liệu của nhà Thanh nhưng ít ai để ý, tưởng chừng chỉ như một sắp xếp tự nhiên cho một phiên vương sang chầu. Thực tế, ngay từ đầu, việc sắp chỗ này đã là một đặc cách mà vua Càn Long nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong những văn kiện ngoại giao. Những chi tiết và ưu đãi về lễ nghi đều được quan lại nhà Thanh kèm theo giải thích rõ ràng để triều đình Tây Sơn đánh giá được đúng mức tầm quan trọng của nó.

Trong bữa tiệc, Nguyễn Huệ đã được xếp ở phía hoàng tộc và phiên vương (theo truyền thống là các vương người Mông Cổ), ngay sau các anh em và con ruột vua Càn Long – hàm nghĩa là không coi ông như người ngoài nữa. Các bầy tôi đi cùng được dự yến thì ở phía sau chứ không cùng bên với sứ thần các nước khác. Với vị thế đó, ông được xếp cao hơn các vương tước ngoại phiên nhưng dưới các vương tước trong hoàng gia.

Việc xếp chỗ đó còn ở một nguồn gốc khác. Trong những thư từ qua lại trên đường đến Yên Kinh, không ít lần vua Quang Trung tự ví vua Cao Tông đối với mình chẳng khác gì bậc thầy, chẳng khác gì bậc cha. Ðể đáp lại, vua Thanh cũng nhiều lần nhắc đến tình cảm đó và nhấn mạnh rằng “nếu ngươi coi ta như thầy như cha, lẽ nào ta chẳng coi ngươi như con”. Ðó cũng là lý do tại sao Nguyễn Huệ được ban thưởng những phục sức rất khác thường mà màu sắc và thể loại chỉ bậc hoàng tử mới được mặc. Ông cũng được ban thưởng một vạn lượng bạc, vốn là quà dành riêng cho các con ruột ông nhân kỳ khánh thọ 80 tuổi này.[8]

Cũng vì ưu đãi đặc biệt đó, ông cũng mạnh dạn đưa ra một số đề nghị và yêu cầu để thắt chặt bang giao giữa hai nước, chẳng hạn khai thông các cấm ải trên bộ và ưu đãi mậu dịch trên biển. Quan trọng nhất, ông đã toan tính việc chính thức cầu hôn một công chúa nhà Thanh [có lẽ ông không biết rằng khi ông làm việc này thì các con ruột vua Càn Long đều đã lấy chồng cả rồi] có lẽ để công bố với những kẻ chống đối về vai trò của mình [và có thể để xác định người sang Bắc Kinh chính là ông, đánh tan những tin đồn bất lợi về việc một vua Quang Trung giả mà ông phải trần tình trong bức thư tạ ơn khi về đến Nghệ An].

Ðể đáp lại sự ưu hậu đó, Nguyễn Huệ đã nhận công việc đoàn ngũ hoá thành phần hải phỉ vốn là một đe đoạ triền miên của miền Nam Trung Hoa và thu nạp họ như những đơn vị hải quân để dùng vào việc tuần phòng cũng như đánh với Nguyễn Ánh. Có thể nói, ông đã đóng một vai trò rất hữu hiệu trong vai trò “phên dậu” [phiên (藩) vốn nghĩa là hàng rào] nhưng lại khai thác rất khéo vị trí đó để vừa kiếm được một đồng minh mạnh hậu thuẫn sau lưng, lại có thế để uy hiếp những tiểu quốc khác.

Năm Nhâm Tí (1792), vua Quang Trung Nguyễn Huệ từ trần trong khi ông đang ở trên đỉnh cao về uy tín đối với lân bang và được Thanh triều ưu đãi.[9]

Trong lịch sử bang giao với Trung Hoa, trong vai phiên thuộc, triều đình An Nam theo lệ ba năm sang cống một lần nhưng sáu năm thì sai sứ nhập triều đem gộp hai lần cống phẩm làm một cho đỡ phiền phức.

Theo tài liệu còn để lại, năm Gia Khánh nguyên niên [Bính Thìn 1796] cống phẩm triều đình Cảnh Thịnh đem sang có lò hương bằng vàng, bình hoa bằng vàng 4 chiếc tổng cộng nặng 209 lượng, vàng vụn 21 đĩnh, chậu bạc 12 cái, tổng cộng nặng 691 lượng, bạc vụn 69 đĩnh, trầm hương 960 lượng, tốc hương 2,368 lượng. Cứ tính theo giá mua thì tổng cộng cống phẩm nước ta phải đem sang Trung Hoa giá trị chừng 2,150 lượng và triều Thanh nhận rồi thưởng lại cho quốc vương một số tặng phẩm giá trị 2,270 lượng, cho các sứ thần một số tặng phẩm ước chừng 890 lượng.[10]

Nguyên từ năm Càn Long 57 [Nhâm Tí 1792], vua Quang Trung dâng biểu xin thay đổi không theo lệ cũ về số năm và phương vật, nhà Thanh sau khi đình nghị đã định lại cho An Nam 2 năm cống một lần, hai lần gộp một, 4 năm sai sứ nhập triều nên cống phẩm so với cũ có bớt hơn trước.[11]

Ðối với nhà Thanh, phiên thuộc càng quan trọng thì việc triều cống càng khít khao, coi như một đặc ân vì đồ ban thưởng trả lại thường nhiều hơn[12]. Chính sách đó được đặt tên là “hậu vãng bạc lai” (厚往薄來) để chứng tỏ thái độ kẻ cả của thiên triều. Bên cạnh việc đem phương vật, các tiểu quốc cũng còn nhân cơ hội mua bán hàng hoá [đươc miễn thuế xuất nhập] tại biên giới khi qua lại và tại kinh đô trong thời gian tạm trú.[13]

Chính vì thế việc xin được triều cống nhặt hơn không những muốn chứng tỏ sự quan hệ gần gũi hơn mà cũng là dịp để gia tăng một số hoạt động mậu dịch giữa hai quốc gia. Những liên hệ mật thiết đó kéo dài sau khi vua Quang Trung qua đời nhưng chỉ khi vua Càn Long còn sống [vua Càn Long nhường ngôi cho con lên làm thái thượng hoàng từ năm 1795 đến 1799]. Ngay khi vua Cao Tông từ trần, bang giao Thanh – Việt đã đi đến những bước ngoặt quan trọng, ảnh hưởng lớn đến tình hình nước ta đang hồi quyết liệt, mất còn giữa chúa Nguyễn Ánh và Nguyễn Quang Toản.

Sau khi lấy lại Phú Xuân, vua Gia Long đã dừng chân để nghe ngóng tình hình và trước khi tiến hành cuộc Bắc Phạt, ông đã tìm đủ mọi cách để tìm hiểu ý định của Thanh triều xem mức độ yểm trợ của họ với triều đình Nguyễn Quang Toản đến đâu. Khi bỏ chạy khỏi Phú Xuân, vua Cảnh Thịnh đã rơi vào một tình trạng thất thế đến mức không thể khôi phục được.

Trước đó, triều đình Tây Sơn đã dốc gần như toàn lực vào việc chiếm giữ Qui Nhơn, vừa là đất tổ của anh em Nguyễn Nhạc – Nguyễn Huệ, vừa là tuyến địa đầu. Cứ theo sử nhà Nguyễn thì:

… Trước là Tư đồ giặc Võ Văn Dũng dùng hai chiếc thuyền đại hiệu Ðịnh quốc và hơn trăm chiếc thuyền chiến chặn đóng ngang cửa biển, lại dựng hai bảo ở bãi Nhạn Châu bên tả và ở núi Tam Toà bên hữu cửa biển, đặt nhiều súng lớn, dựa thế cao chẹn chỗ hiểm để chống quân ta. Ðến đây các quân làm xong chiến cụ hoả công, vua mật định đêm hôm 16 cất quân đánh úp.

Trong thời gian đó, các phe phái Lê – Trịnh ở miền Bắc cũng nổi lên đánh nhà Tây Sơn và vẫn lạc quan nghĩ rằng nếu sau khi triều đình Bảo Hưng [Nguyễn Quang Toản đổi niên hiệu từ Cảnh Thịnh ra Bảo Hưng khi chạy ra Bắc] bị tiêu diệt thì sẽ lại chia ra hai miền Ðàng Trong – Ðàng Ngoài như cũ. Sử nước ta trước đây không đề cập đến ảnh hưởng của Thanh triều, một phần vì thiếu tài liệu, phần khác triều Nguyễn không muốn tiết lộ những can thiệp của nước ngoài vào cuộc chiến như họ đã khéo léo che dấu những liên quan với Xiêm La, với Pháp.

Khi chúa Nguyễn đem đại binh đánh vào Phú Xuân, kinh đô bấy giờ gần như bỏ ngỏ, vua Cảnh Thịnh đã không chuẩn bị nên thua chạy trong một tình thế rất bi đát.

Ngày Canh Ngọ [mồng 1] tháng Năm năm Nhâm Tuất [1802], sau khi lấy được Phú Xuân, chúa Nguyễn lập đàn ở đồng An Ninh, tế cáo trời đất để đặt niên hiệu là Gia Long[14] [thay cho niên hiệu Cảnh Hưng của nhà Lê trước đây vẫn dùng], xuống chiếu để công bố cho toàn dân về một niên hiệu mới, dứt khoát không còn là bầy tôi nhà Lê như những đời chúa trước.

Vua Gia Long

Việt Nam Ngoại Giao Sử (1970) tr. 22

Tờ chiếu bố cáo như sau:

Chiếu rằng:

Ta nghe kinh Xuân Thu thì việc đại nhất thống cốt phải làm sáng cái nghĩa khởi đầu. Kể từ khi tiên vương đời trước dựng nền ở cõi nam, thần truyền thánh nối đã hai trăm năm nay. Mới đây Tây Sơn nổi loạn, họ Lê cáo chung, mấy mươi năm qua đất nước không còn giềng mối.

Ta bôn ba một phương, luôn luôn lo nghĩ chuyện xã tắc sinh linh. Nằm gai nếm mật mong sao gom về một mối cho ninh tĩnh. Đầu năm Canh Tí, ở thành Gia Định tướng sĩ suy tôn ta lên tước vương để buộc lòng người. Có điều kinh đô cũ chưa lấy lại được nên vẫn còn giữ niên hiệu xưa.

Nay nhờ ơn hoàng thiên giúp đỡ, liệt thánh che chở nên đã khôi phục được cương vực cũ, vật cũ nay trở về. Ở triều đình văn võ bách quan dâng chương khuyên ta lên ngôi và đổi niên hiệu.

Ta nghĩ giặc chưa trừ hết, cõi bờ chưa thống nhất, không thể vội lên ngôi. Có điều dùng niên hiệu cũ để ban bố việc canh tân, ấy không làm sáng pháp độ. Nay thuận theo lời thỉnh cầu đổi niên hiệu, định ngày mồng một tháng Năm năm nay tế cáo trời đất, hôm sau tế cáo liệt thánh, lấy niên hiệu là Gia Long để nhất thống kỷ cương, mới điều thị thính [15] [NDC]

Việc đổi niên hiệu đặt Nguyễn Phúc Ánh vào một vị thế mới mang tính chính thức hơn [mặc dù xưa nay ông vẫn tự xưng mình là An Nam quốc vương với các nước khác]. Đối với Thanh triều, việc liên lạc không phải chỉ có tính giai đoạn mà chuyển sang mục tiêu được công nhận trong trật tự thiên hạ mà Trung Hoa là tâm điểm. Trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, hai miền nam bắc có hai triều đình: Gia Long (chưa được nhà Thanh công nhận) và Bảo Hưng (được nhà Thanh công nhận).

Trên cơ bản chúa Nguyễn đã khôi phục hầu như toàn bộ lãnh thổ mà ông cha đã cai trị trong những đời chúa trước nên vấn đề phải tính toán là nên ngừng lại ở đó để tồn tại như hai tiểu quốc riêng biệt hay tiếp tục tiến ra Thăng Long. Tiến quân ra bắc cũng còn đối diện với việc xử trí di sản của nhà Lê vốn lâu nay vẫn được dùng như một tấm bình phong thu phục lòng người.

Vua cùng quần thần bàn nghị việc dùng binh, nói rằng:

Bắc Hà là nước cũ của họ Lê, từ khi liệt thánh của ta xây dựng cơ nghiệp ở phía nam hơn hai trăm năm qua vẫn dùng chính sóc nhà Lê. Bỗng nhiên giặc Tây tiếm thiết, ta quyết ý dùng binh vốn cũng chỉ mong phục thù mà thôi. Nay cương thổ cũ đã lấy lại rồi mà bọn đầu sỏ giặc thì đã chạy ra bắc, nếu như cất quân bắc phạt, bắt được kẻ có tội rồi thì phải đối xử với họ Lê ra sao?

Bọn Đặng Đức Siêu, Trần Văn Trạc cùng tâu rằng:

Từ khi chúa nhà Lê chạy sang nước Thanh, một đi không trở lại, đất Bắc Hà đã thuộc về Tây tặc rồi. Huống chi từ khi vương sư lấy lại được kinh đô cũ đến nay, thần dân nhà Lê không thấy một người nào ứng nghĩa để đứng lên đánh giặc, nhà Lê không thể hưng trở lại cũng đủ thấy rồi. Nay ta diệt Tây tặc, lấy được đất của chúng, ấy là lấy từ tay giặc Tây chứ không phải lấy của họ Lê. Để khi bình được giặc rồi sẽ xử trí.

Có điều việc đánh dẹp quí ở việc chính danh, quân đưa đi thuận mệnh, trước phải đổi mới. Nay quân ta bắc phạt mà vẫn còn dùng niên hiệu nhà Lê thì e rằng người bắc lại tưởng rằng ta lấy danh nghĩa phù Lê, chi bằng chính vị đổi niên hiệu, giương cao đại nghĩa cho thiên hạ biết thì khi được nước là chính đáng, không ai có thể nói gì được.[16] [NDC]

Những bàn cãi này tưởng như triều đình chúa Nguyễn hoàn toàn có thể tự quyết định về vận mệnh Đàng Ngoài nếu chúng ta không tìm ra một chi tiết quan trọng. Chính trong giai đoạn dùng dằng chưa quyết vì nếu như nhà Thanh đi lại đường lối mà trước đây vua Càn Long nêu cao, chủ trương “hưng diệt kế tuyệt” nhân danh nước tông chủ đem quân qua An Nam để bảo vệ một phiên thuộc thì mọi việc sẽ chuyển sang một lối đi mới.

Vả lại, chủ trương lâu nay của Nguyễn Phúc Ánh không phải là “thống nhất đất nước” mà mục tiêu tiên khởi của ông là khôi phục lại vùng đất của cha ông – tức cơ đồ mà những đời chúa Nguyễn trước đây đã gây dựng, tức lãnh thổ từ Linh Giang trở vào nam. Chúa Nguyễn – nay là vua Gia Long – nghe ngóng xem động tĩnh trước khi có quyết định và ông có lẽ cũng sẵn lòng quay lại thời kỳ Nam Bắc phân tranh, có điều nay là hai nước riêng biệt, tư thế bình đẳng chứ không còn là một phụ chính của nhà Lê như các đời trước. Chính cái tên Gia Long mà ông đặt làm niên hiệu cũng hàm ý Gia Định – Long Hồ là những nơi ông khởi nghiệp chứ không phải Thăng Long vì khi ông lên ngôi thì miền bắc vẫn còn trong tay Nguyễn Quang Toản. Những giải thích sau này nhằm hợp thức hóa những việc đã xảy ra chứ không phải là chủ trương lúc đầu.

Khởi điểm từ vị thế ngang hàng, vua Gia Long sẽ có thể xúc tiến việc nhà Thanh công nhận như một nước riêng biệt ở phía nam, tách rời khỏi miền bắc vốn dĩ là chủ trương của nhiều đời chúa Nguyễn và của chính anh em Nguyễn Nhạc.

Trong tình hình tranh tối tranh sáng đó, nhà Thanh đã ném tảng đá xuống cái giếng mà anh em Tây Sơn đang ẩn náu như sinh lộ sau cùng. Đó là trông chờ nhà Thanh cứu viện. Cũng nên biết thêm thay vì cho anh em Nguyễn Quang Toản sang Quảng Tây nương náu (như trước đây đã an tháp Lê Duy Kỳ), tổng đốc Lưỡng Quảng Cát Khánh (có lẽ theo mật lệnh của vua Gia Khánh) đã thúc đẩy Nguyễn Phúc Ánh đem quân ra lấy đất bắc và cũng có thể họ đã xúi giục những di mục vùng biên giới ngăn chặn vua Bảo Hưng (Tây Sơn) chạy sang Quảng Tây. Trong bản tâu ngày mồng 1 tháng Chín, Gia Khánh 7 (Nhâm Tuất, 1802) tổng đốc Cát Khánh có viết:

Tấu thư của Cát Khánh

Nguồn: Cố Cung Bác Vật Viện (Đài Bắc)

該國長實深感激並說安南係天朝所封不敢發兵攻打。趙大任回說阮光纘窩留洋盜,擾累良民,係屬有罪之人,即進兵攻取安南,天朝斷不見罪等語。[硃批:此人竟有見解]

… Thần ngại rằng trên biển gió bão không yên, hoặc bị An Nam biết được tung tích sẽ nổi hiềm nghi nên đã ra lệnh cho Triệu Đại Nhậm đến Nông Nại nói với họ rằng việc cứu giúp kẻ phiên bị nạn là thường lệ của thiên triều, lòng thành cảm tạ của nước ngươi đã được báo cáo lên đầy đủ.

Viên quốc trưởng đó rất là cảm kích nói là An Nam là nước được phong của thiên triều nên không dám phát binh tấn công. Triệu Đại Nhậm trả lời là Nguyễn Quang Toản chứa chấp dương đạo [Châu phê: Người này quả có kiến giải] , quấy nhiễu dân lành ấy là kẻ có tội, vậy hãy lập tức tiến binh đánh chiếm An Nam, thiên triều sẽ không coi là có tội. Như thế Nông Nại mới dám đánh chiếm. Nay Nông Nại đã lấy được toàn cõi An Nam lại đem dương đạo trói đưa tới, lại điều động binh thuyền đến Giang Bình nghiêm nã một dải nên hải cương sẽ chẳng bao lâu yên tĩnh. Giám sinh Triệu Đại Nhậm quả đã ra sức lập công nếu như có chỗ tăng thêm khen ngợi cho y cũng đều do thiên ân của hoàng thượng.[17]

Đây chính là phát súng lệnh chấp thuận cho vua Gia Long hành quân bắc tiến.

Tháng Năm năm Nhâm Tuất (1802), triều đình Phú Xuân truyền hịch cho quan dân Bắc Hà trong đó có 6 điều đặc biệt như sau:

Những tiền thuế, thóc lúa còn thiếu từ tháng Chạp năm Tân Dậu trở về trước đều được tha,

Lệnh xá đến đâu thì tiền và thóc còn thiếu đều được tha,

Những tù nhân đang bị giam, bất kể đã xử án hay chưa đều được tha cả, chỉ riêng những kẻ mang tội giết người, đầu đảng ăn cướp thì không tha,

Các chính hộ, khách hộ và biệt nạp thuộc các sắc quân có tiền thuế sai dư từ năm Quí Hợi về sau thì giảm cho hai phần mười,

Các thuế lặt vặt đánh vào thóc đồn điền (người đi khai khẩn đất hoang), sáp ong, vải thâm, vải trắng … cũng được giảm hai phần mười[18] [NDC]

Ngoài việc chứng tỏ sự chính đáng của bậc quân vương, tờ hịch này còn là một hình thức thu phục nhân tâm, nêu cao chính lệnh, không những làm dao động một triều đình đang lâm vào thế cùng đồ mà cũng khơi lên niềm hi vọng cho người dân đang mong chờ được quay về uy nghi nước cũ. Vua Gia Long cũng thả về những quân lính Tây Sơn bị bắt đồng thời công bố cho dân Bắc Hà việc đem quân ra bắc:

Nghĩa của Xuân Thu không gì lớn bằng phục thù. Quân của bậc vương giả, trước hết phải trừ loạn, Từ khi Tây Sơn nổi dậy, từ các xứ Thuận Quảng trở về bắc dân chúng phải chịu khốn khổ đã lâu.

Trẫm nay dốc sức phục thù, chỉ cốt một lòng cứu dân phạt tội. Trước đã ra quân lệnh nghiêm minh, không cho phạm vào một mảy, sợ rằng có kẻ giả danh trộm chữ, ức hiếp dân lành, lộng hành không khuôn phép nên đặc biệt dụ này.

Các ngươi hãy trao đổi với nhau rằng ai tuân theo sẽ được hậu thưởng, ai vi phạm sẽ bị tru lục.

Hào mục nào đánh phá đồn giặc, bắt được đảng giặc sẽ tuỳ theo công trạng mà thưởng, kẻ nào có lòng quay về, đến nơi quân doanh ứng nghĩa thì sẽ tuỳ theo tài năng mà thu dụng,

Người dân ai bắt được giặc Nguyễn Quang Toản sẽ được phong cho quan tước nhất phẩm, cấp cho 100 mẫu ruộng, thuộc binh 100 người, ai bắt được các em của Quang Toản thì phong cho quan tước nhị phẩm, cấp cho 50 mẫu ruộng, thuộc binh 50 người, ai bắt được quận công, cừ soái (tướng đứng đầu) của giặc thì phong cho quan tước tam phẩm, cấp cho 30 mẫu ruộng, thuộc binh 30 người. Nếu ai chém được giặc thì cũng được thưởng như thế. Nếu dung chứa và đẫn chạy trốn nếu biết ra thì theo quân luật trị tội.

Người Thuận Quảng cũng là con đỏ của triều đình bị giặc Tây ép bức xua ra miền bắc làm lính thú nếu trốn tránh ở xứ nào thì nơi đó phải giữ lại nuôi nấng, đưa đến nạp trước quân sẽ được xem xét tưởng thưởng. Còn như nếu vẫn trả thù thảm cảnh việc giặc đã chém giết năm Bính Ngọ ở Phú Xuân mà tự ý sát thương hay đem giấu đi không giao nạp thì đều bị trị tội nặng,

Ai có thể lấy được và giữ gìn tiền bạc, lương thực, sổ sách thì sau khi việc xong hiền nạp lên sẽ được trọng thưởng. Còn như tự tiện cướp đốt sẽ trị tội theo quân pháp.

Kẻ vô lại, côn đồ mặc giả làm lính tự tiện vào nhà dân cướp bóc thì dân chúng sở tại bắt giải lên, nếu sức không đủ thì lập tức đến nơi quân tố cáo để bắt giữ trị tội,

Đại binh đến địa phương nào mà hào mục biết được tình hình hư thực của địch đến tố cáo sẽ được tưởng thưởng. Còn nếu như không tố cáo sự thực hay dấu giếm đảng giặc thì sẽ theo quân pháp trị tội.[19] [NDC]

Ngoài ra vua Gia Long cũng dụ cho quân tướng như sau:

Đạo dùng binh cốt nhất là bình định yên ổn. Trước đây đã ban bố quân chính, nghiêm cấm, răn dạy. Nay trẫm đích thân đốc thúc tướng sĩ thẳng tiến ra Bắc Hà tiễu trừ giặc Tây nên phải minh định hiệu lệnh để cho quân đi được nghiêm chỉnh. Tướng sĩ các ngươi hãy nhất thiết tuân theo.

Quan quân ai có khả năng bắt hay chém được Nguyễn Quang Toản cùng các đầu sỏ thì như hịch trước đã ban ra mà thưởng cho như thế.

Quân giặc đầu hàng hay bắt sống thì trước hết phải tra hỏi tình hình hư thực của giặc rồi giải đến hành tại đợi chỉ, không được tự tiện đưa vào quân của mình để khỏi xẩy ra sơ sẩy.

Đại binh đi đến dùng lửa làm hiệu, thì phải ở nơi rừng rú rộng rãi mà đốt lửa. Nếu như đốt nhầm nhà của dân chúng thì sẽ bị trị theo quân luật.

Kho đụn giấy tờ không được đốt hay cướp, nếu có thu được văn thư của giặc trong đó có những việc quan yếu thì lập tức đưa lên thống tướng trình lên xem để mà thưởng cấp.

Đại binh tiến quân cốt ở thần tốc, nếu ai bị bệnh không đi được thì để lại cho dân chúng ở trên đường đưa đi, còn lại không được quấy nhiễu.

Đại binh dừng lại đóng quân phải theo thứ tự không được thiện tiện vào trong nhà dân. Đạo quân nào vận chuyển lương thực chưa đủ thì lấy lương thực của dân chúng mà phát nhưng phải để lại dấu vết để sau theo đó mà khấu trừ.

Hào mục ở địa phương nếu đến thành tâm xin được điều động thì đều do thống tướng tâu lên, tuỳ theo việc mà sai khiến, không được tự tiện cấp văn bằng chiêu mộ binh lương gây ra phiền nhiễu. Chỉ có dân trong làng nếu xin được chiêu an, xem xét thấy quả thực như thế thì cấp bằng để khỏi rối loạn.

Chư quân đến địa phương nào không được cướp bóc tài sản, gian dâm phụ nữ, kẻ nào phạm vào sẽ bị trị tội nặng.[20] [NDC]

Sau khi bố trí mọi cánh quân thuỷ bộ, lương thực, công binh, ngày 18 tháng Năm, vua Gia Long kính cáo tổ tiên và đặt quốc thúc quận công Tôn Thất Thăng lưu thủ kinh đô, có đô thống chế dinh Túc Trực Nguyễn Văn Khiêm và tả tham tri bộ Hình Nguyễn Đăng Hựu phụ tá.

Ngày 21 tháng Năm, đại quân từ Phú Xuân khởi hành.

Ngày 26 tháng Năm, vua Gia Long đến Đồng Hới (Động Hải).

Ngày 27 tháng Năm, đến hành cung Thanh Hà.

Ngày mồng 1 tháng Sáu, quân Phú Xuân đến Hà Trung, quân thuỷ đánh vào cửa biển Hội Thống trong khi quân bộ tiến đánh Nghệ An.

Ngày mồng 4, vua Gia Long đến Nghệ An.

Ngày 11 tháng Sáu, vua Gia Long từ Nghệ An đi lên Thanh Hoa.

Ngày 14 tháng Sáu, Nguyễn Đức Xuyên đem lính và voi thuộc nội dinh đến Thanh Hoa.

SỰ ỨNG NGHĨA CỦA MIỀN BẮC

Sử triều Nguyễn không đề cập đến tình hình miền bắc trong những năm tháng cuối cùng của nhà Tây Sơn và hầu như chỉ nhắc đến những lực lượng địa phương như thành phần hưởng ứng, chạy theo chúa Nguyễn khi thấy họ đang thắng thế.

Tuy nhiên, khi xem lại toàn thể miền bắc thời đó, lực lượng thân Lê, nhất là các phiên thần ở khu vực thượng du, đóng góp không nhỏ vào việc cầm chân và chia xẻ lực lượng, tạo lợi thế cho vua Gia Long tiến quân, nhất là trước nay chúa Nguyễn vẫn tự cho mình là một thần tử phục tòng vua Lê, trên giấy tờ vẫn dùng niên hiệu Cảnh Hưng như một xác quyết về lập trường.

Cứ như những nguồn tin mà quan lại nhà Thanh thu thập hồi cuối năm Tân Dậu (1801) thì một lực lượng phiên thần nhà Lê là Nông Phúc Liên [農福連] ở châu Bảo Lạc đã nổi lên, chia làm ba đạo đánh xuống Thăng Long.[21] Theo cách miêu tả của họ, nhà Thanh xem như đây là một cuộc tranh hùng của ba thế lực, Tân Nguyễn (Tây Sơn), Cựu Nguyễn (Gia Định) và Cựu Lê (Bảo Lạc) chứ không phải chỉ hai thế lực như sử nước ta miêu tả. Tình hình các nơi khác cũng bất an, có điều không được ghi chép đầy đủ nên không biết lực lượng thế nào. Theo sử triều Nguyễn, nhóm thân Lê chỉ là những thành phần “ứng nghĩa” nổi lên tiếp tay với quân Đàng Trong, nhưng thực tế đó không phải là mục tiêu của họ.

Tuy Tây Sơn đã cai trị trong hơn 10 năm, lòng hoài Lê vẫn còn nhiều và đây là dịp tái lập một triều đình của miền bắc, hi vọng rằng vua Gia Long – vốn là con cháu chúa Nguyễn khi xưa – sẽ giúp họ thực hiện giấc mộng “phục quốc” âm ỷ trong nhiều năm qua.

Quốc Sử Di Biên còn chép một số lực lượng thân Lê nổi lên trong những ngày cuối cùng của Tây Sơn. Ở vùng biển Lôi Châu (Nam Sách, Hải Dương), hiệu sinh tên Thái (không có họ) người Gia Định (Bắc Ninh) khởi binh, lấy được 7 chiếc thuyền của quan quân (Tây Sơn), phá đồn Phả Lại, sau quân trấn Kinh Bắc ập đến. Thái thua chạy, trốn vào Phao Sơn (拋山).[22]

Ngày Bính Dần (25 tháng Hai), ở làm Tây Đam (西儋) – nay là làng Đăm, huyện Hoài Đức – có người hào trưởng tên Trương Chí (張志), khởi binh ở Bắc Kinh (tức Thăng Long, kinh đô phía bắc thời Tây Sơn).

Chí ước hẹn với quần hùng hẹn đánh Bắc Kinh, bí mật sai người yết hịch nơi cửa nam và dụ cho dân thường trong phường hãy về quê tránh loạn. Ngày 25 tháng đó, Chí ra lệnh cho 50 tráng sĩ mặc quần áo nhà buôn, chia ra trú ngụ nơi các chợ ở trong kinh thành. Đến nửa đêm, họ phóng hoả đốt bên ngoài thành tử cửa nam cho đến Quốc Tử Giám, đến hơn một nghìn căn nhà rồi xông vào phá dinh quan tư mã Dụng, giết người canh cửa. Đề lĩnh Thái cho quân lùng bắt, đóng chặt các cửa ô, theo sát bắt được Trương Chí đem chém đầu và tịch thu gia sản.[23] [NDC]

Ngày Đinh Sửu, (mồng 7 tháng Ba), tiến sĩ đời nhà Lê là Nguyễn Trọng Tống (阮仲綜) đánh với quân Tây Sơn ở Phao Sơn bị thua. Tống đã khởi binh từ năm Canh Thân (1800), dùng hai giám sinh ở Điền Trì (滇池) và Kiệt Đặc (傑特) [hai xã thuộc Chí Linh, Hải Dương] làm mưu sĩ, con của Trần Quang Châu là bọn Trần Huy Dao (陳輝瑶) cũng đi theo.

Lúc đó, Tống đóng quân ở Sùng Nghiêm (崇嚴), châu Cảm Lãm (橄欖) [24] dựng ba cái vọng gác ở Lạc Sơn (落山)[25]. Ngày mồng 9 tháng Ba năm Nhâm Tuất (1802), quân Tây Sơn ở trấn Hải Dương đến đánh, lại viết thư hợp với quân ở trấn Kinh Bắc cùng tiến lên, hai bên giao chiến ở trên sông Triền Dương (廛陽) và Phả Lại (普瀨). Hai viên phân suất ở hai huyện Quế Dương, Gia Định đều trúng đạn tử trận.

Khi quân của Nguyễn Trọng Tống đi áp tải lương thực từ huyện Chí Linh thì bị quân Tây Sơn ở các đồn Lâu Khê (樓溪), Nghinh Môn (迎門), Tiền Lâm (前臨) bắt ở núi Nam Tào (南曹) nên biết rõ quân Tống mạnh yếu thế nào. Ngày 14, quân Tây Sơn ở tỉnh Đông (tức Hải Dương) phục kích ở thượng lưu sông Nam Giản (南澗), rồi khiêu chiến ở hạ lưu. Quân của Tống vốn không có khuôn phép nên bị quân Tây Sơn đánh bại, quân của trấn Kinh Bắc do đô đốc Mạnh đuổi bắn, đến Bình Tân (平津) thì quân của Tống thua to, quân trấn Tây Sơn đốt cả ba tổng, lấy hết tài sản đem về.[26]

Trong khi tình hình mỗi lúc một thêm cấp bách, từ khi chạy về Bắc Hà, triều đình Tây Sơn hầu như bị bó chân bó tay không thể phản công. Theo mục Giao Lễ (郊禮) của Phạm Đình Hổ (范廷琥) trong Vũ Trung Tuỳ Bút (雨中隨筆) thì:

Mùa hạ năm Tân Dậu (1801), thiếu vương nhà Tây Sơn bỏ thành Phú Xuân chạy lên phương bắc, nâng Bắc thành lên làm Bắc Kinh, đắp gò tròn ở bên ngoài cửa Liễu Thị,[27] xây đầm vuông ở Tây Hồ, đến hai tiết đông chí, hạ chí thì chia ra để tế trời, tế đất. Còn Chiêu Sự Điện ở ngoại ô phía nam thì mô phỏng theo Đại Quang Minh Điện ở triều đình trung ương (tức Phú Xuân) để làm nơi cầu đảo, cáo yết, đến khi cáo tạ để đổi niên hiệu, cúi đầu xuống thì mũ rơi ra, người ta mới đoán rằng ấy là điềm sắp mất vậy.[28] [NDC]

Bản đồ Thăng Long đời Lê

Nguồn: Tạp Chí Tri Tân, Năm thứ Nhất số 10 (8-8-1941) tr. 5[29]

Theo như thế, chúng ta biết được triều đình Bảo Hưng làm lễ tế trời vào ngày Đông Chí năm Tân Hợi (tức ngày 17 tháng Một AL hay 22-12-1801) tại Viên Khâu ngoài cửa Liễu Thị và tế đất vào ngày Hạ Chí năm Nhâm Tí (tức ngày 23 tháng Năm AL hay 22-6-1802) ở Phương Trạch tại Tây Hồ. Phan Huy Ích trong Dụ Am ngâm tập (q. V, Dật Thi Lược Toản tr. 398-399) cũng chép về việc này như sau:

Giữa mùa hạ (tháng Năm), theo vua đến Phương Trạch đàn, ghi lại.

Mùa đông năm ngoái nhận lệnh xây  đàn Viên Khâu ở Nam Đồng, Đống Đa. Tiết Đông Chí nhà vua làm lễ tế trời. Lại nhận lệnh đi tìm đất tốt ở Tây Hồ để xây đàn Phương Trạch. Tiết Hạ Chí nhà vua tế đất. Khi ấy vua nước Nam Chưởng là Ôn Mãnh đến triều đình nên được đặc biệt ban cho quan phục đi theo hầu vua. [30]. [NDC]

Theo văn hoá cổ thì hình tròn và nổi lên tượng trưng cho trời, vuông và lõm xuống tượng trưng cho đất. Vì thế tế trời ở Viên Khâu, tế đất ở Phương Trạch.[31] Tây Hồ không biết có phải là nơi có mộ vua Quang Trung nơi sứ thần nhà Thanh là Thành Lâm sang tế điện hay không? [mà sử triều Nguyễn nói là mộ giả] Theo tường thuật của Thành Lâm khi sang phong vương cho Nguyễn Quang Toản thì đi từ Thăng Long đến Tây Hồ phải mất hai trạm đường nên không phải ở ngay trong thành mà là ở một nơi khá xa.

Ngày 15 tháng Sáu, Nguyễn Quang Toản sai em là Nguyễn Quang Thuỳ cùng tư mã Tứ đem quân ngũ bảo sang sông Bồ Đề (tức sông Hồng) lên Kinh Bắc sửa sang cung phủ và làm cầu phao ở hai con sông lớn là sông Cầu (Thị Cầu) sông Thương (Thọ Xương) để chuẩn bị đường đi lên Lạng Sơn. Cứ theo Quốc Sử Di Biên, tình hình miền bắc những năm tháng sau cùng trở nên hỗn loạn, triều đình Tây Sơn không còn kiểm soát nổi.

Tư mã Dụng, đề lĩnh Thái từ Châu Cầu chạy về Kinh Bắc, đánh với đại quân ở Xuân Ổ (春塢) bị thua phải bỏ chạy, phải trốn vào xã Hội Phụ. Dụng bị đại quân bắt được, quân sĩ chạy hết. Thái gom quân đến đại binh ra hàng.

Khi đó nơi đâu cũng có những nhóm nhỏ ùn ùn nổi lên, đánh giết đồn trưởng, rồi chia nhau ra vây bắt những kẻ chạy trốn lấy tiếng là hưởng ứng với đại quân, tiếng súng tiếng trống vang dậy khắp bốn bề.[32] [NDC]

Ngày 16 tháng Sáu, vua Gia Long ban chiếu như sau:

Chiếu tượng, mục trấn Thanh Hoa cùng chu tri:

Vừa qua Tây Sơn phiến loạn, Lê tộ cáo chung, trong nước không còn thể thống. Các ngươi ôm lòng trung phẫn, chẳng chịu cho đảng nguỵ trói buộc, nhiều kẻ trốn ở sơn lâm, tụ họp đinh tráng. Lại có kẻ giả danh trộm cướp. Kêu quân lấy lương, mắc vào điều cấm của quân luật, tự biết là không công trạng chưa biết về đâu. Sự tình đều đã tỏ tường.

Nay giặc nguỵ đã trừ hết, thiên hạ đã định yên. Kẻ trí thức thời há còn chậm trễ ngắm trông. Nay đặc chiếu ban ra, kẻ nào can phạm từ trước thì đều chẳng hỏi, thủ hạ nghĩa quân cũng cho giải tán về làng sinh sống. Còn hào mục, ai có khẩu súng, khí giới công tư bắt buộc phải đem đến đồn trấn sở tại nạp lại, để tiện cho quan trấn dâng biểu chuyển tấu xem tường mà tuỳ tài thu dụng.

Các ngươi phải nên xét kỹ cơ nghi, cẩn thận chớ có trễ tràng. Nếu người nào giữ riêng khí giới tại địa phương nào thì đã có quân luật.

Khâm tai đặc chiếu.[33]

Cùng ngày hôm đó, (16 tháng Sáu) vua Tây Sơn là Nguyễn Quang Toản chạy lên Lạng Giang, định theo đường Nam Quan sang Trung Hoa để nhà Thanh thu nhận như trước đây đã an tháp vua Chiêu Thống (Lê Duy Kỳ).

Ngày 16, Toản cùng em là Thiệu đội mưa đi lên có tư mã Dụng đem cánh quân vũ lâm và đô đốc Di đem cánh quân dực lâm cầm gươm vàng kích bạc hộ tống. Thiếu uý Lương, đô đốc Thận đi theo. Khi đến trấn Kinh Bắc, nghe tin quân tiên phong của đại quân (tức quân của vua Gia Long) đã vào Thăng Long mà hào mục bốn phương chia đường đón đánh, quân dân chia lìa chống lại nên vừa đi vừa chửi, cùng chạy về phía Lạng Giang.

Đến Thọ Xương thì dân chúng đã chặt đứt cầu, Toản quay sang than với tả hữu: “Các khanh bình nhật cai trị dân, làm thế nào mà ra nông nỗi này, để dân tình như thế”. Bèn cưỡi voi qua sông, người đi theo chỉ còn được vài trăm.[34] [NDC]

Cũng theo Quốc Sử Di Biên, Nguyễn Quang Thuỳ chạy lên Trụ Hữu, huyện Bảo Lộc, toan tìm cách cố thủ nhưng ở Bảo Lộc khi đó những người thân Lê là bọn tri Bẩm, giáo Lạng, suất Đằng đang chiếm cứ, đuổi theo Thuỳ đến đồn Như Thiết.

Thuỳ quay lại nói với quân sĩ rằng:

Bọn các ngươi đưa tiễn ta đến Trụ Hữu, thôi tất cả đi về đi, đừng sợ khó nhọc.

Quân sĩ dạ dạ, lấy kích cắm trước cửa đồn, vỗ tay reo hò, chốc lát chạy cả, chỉ còn vài chục người. Khi đến cầu Quất Lâm, Thuỳ biết thế đã nguy cấp, không thể tính toán gì được nên trước hết chém ngựa và vợ rồi tự treo cổ chết.

Bọn hào mục Trần Huy Dao chặt đầu bỏ vào hòm đưa đến đại quân (bêu ở phố Hàng Gà).[35] [NDC]

Ngày 18, quận công Lê Văn Duyệt từ Sơn Nam đánh lên Thăng Long, không nơi nào đương cự được. Khi đó, vua Gia Long còn ở phía sau chưa lên tới, Lê Văn Duyệt mới cho treo yết thị dụ rằng “phàm các quan văn võ Nguỵ Tây hãy sớm đến cửa quân đợi bái yết, cầu đến người cũ tuỳ theo tài mà sử dụng”.[36] Lại răn cấm các quan quân doanh đồn phải ước thúc cho chặt chẽ, không được ỷ thế mà quấy nhiễu, gian dâm phụ nữ, cướp bóc dân chúng.[37]

Cũng thời gian này, từ cuối tháng Năm khi triều đình Tây Sơn còn tế đất thì bách quan tụ hội nhưng sau đó, chiến sự khiến trong khoảng hơn ½ tháng (cuối tháng Năm đến giữa tháng Sáu) sau cùng của triều đại, các ông Phan Huy Ích , Ngô Thì Nhậm không chạy theo đại quân nhà Tây Sơn.

Với những chi tiết thu thập được ở Bắc Hà, việc tiếp quản triều đình Tây Sơn rõ ràng không do lệnh của vua Gia Long mà phần lớn là do chính dân chúng và các thổ hào kiến cơ nhi tác (thấy cơ hội mà làm). Anh em Nguyễn Quang Toản bị đón đầu ở Lạng Sơn khi cùng nhau chạy sang Quảng Tây như dự định. Có lẽ nhà Thanh đã mật báo cho các nhóm dân thiểu số vùng biên giới (vốn có nhiều liên hệ với nhà Lê) chặn bắt để tránh một rắc rối ngoại giao nếu như an tháp họ ở Trung Hoa. Việc nhà Thanh muốn xóa sổ nhà Tây Sơn nên đã trao lại cho vua Gia Long một chiến công thống nhất mà chưa chắc đã nằm trong kế hoạch khi tiến quân đánh lấy Phú Xuân.

Không phải ngẫu nhiên mà vua Gia Long thành lập Bắc Thành như một vùng đất bán-tự-trị và chính những sĩ phu Bắc Hà cũng vẫn tưởng một khi triều đình lưu vong của nhà Lê từ Bắc Kinh trở về thì nhà Nguyễn sẽ giao trả lại miền bắc. Những câu khen ngợi của Nguyễn Văn Thành và việc Đặng Trần Thường gọi Lê Quýnh là Khổng Minh, Tử Phòng có thể là do đó. Chỉ đến khi Lê Quýnh vào Phú Xuân gặp vua Gia Long thì giấc mộng phục quốc mới tan tành và cái chết của ông biết đâu không phải là một vụ ám sát chính trị. Việc này xảy ra mấy năm sau nhưng cũng nên nhắc ở đây.

… Quốc sử di biên (tập Thượng) chép như sau:

… Tháng Bảy năm đó đến Nam Quan vào trấn Lạng Sơn, lập bàn thờ ở ngoài thành, hiệp trấn Nguyễn Duy Thản xuất thân tiến sĩ, người xã Hương La cùng các tù trưởng các phiên đều đến khóc.

Lê Quýnh đi xuống Thăng Long ngày 26 yết kiến Quận công Nguyễn Văn Thành [khi đó là Tổng trấn Bắc Thành], quì hồi lâu nhưng không lạy nói rằng vì chưa bái yết Vương thượng nên không dám bái tôn công, nay cởi mũ ra xin chịu tội. Nguyễn Văn Thành xua tay:

–           Xin ông đứng lên mời uống trà.

Lê Quýnh tạ ơn nói:

–           Nước mất không mưu tính lấy lại, ấy là tội nhân của ngài, nay gặp tôn công, mồ hôi ướt áo. Thế nhưng di hài của cố quân chưa có được một tấc đất để ninh táng, mong tôn công giúp cho.

Thành Quận công đáp:

–           Ông đừng lo, Vương thượng trông ông như người khát nước, vẫn thường nói rằng khi nào ông về đến nơi thì mau mau đến yết kiến, đãi đằng ít lâu. Còn việc của vua cũ, tôi bảo đảm là sẽ vì ông mà hoàn thành.

Lê Quýnh ở lại ba ngày, các quan văn võ cũ mới đều tới gặp nhưng ông từ tạ rồi ra yết kiến Tán lý Thường [Đặng Trần]. Thường vừa gặp ông gọi ngay là Khổng Minh , Hựu không nhận, Thường lại đổi gọi là Tử Phòng. Hựu nói:

–           Tướng công gặp được minh quân nên làm được những điều mình muốn, có thể nhận cái danh Tử Phòng, Hựu này không được như vậy.

Nhân đó xin cáo biệt trở về.[38]

Ngày 21 tháng Sáu, vua Gia Long đến thành Thăng Long, ngự ở điện Kính Thiên. Các nơi bắt được anh em Nguyễn Quang Toản giải đến. Từ ngày triều đình Tây Sơn tế đất (23 tháng Năm) đến khi vua Bảo Hưng [niên hiệu mới của Nguyễn Quang Toản] và bầy tôi bỏ Thăng Long (16 tháng Sáu) rồi bị bắt (21 tháng Sáu) chỉ chưa đầy một tháng.

Vua Gia Long cũng ra lệnh cho đem những người còn đang giam ở Thanh Hoa là “bọn Bàn, Diệu, Dũng, Đức, Thận” đưa ra Thăng Long, những người khác thì giao cho đô thống chế hậu doanh là Năng tài hầu (Trần Văn Năng) đưa về kinh bằng thuyền[39]. Để ổn định tình hình, vua Gia Long cũng xuống chiếu ra lệnh cho tiếp tục áp dụng hình luật Hồng Đức là bộ luật vẫn còn sử dụng ở miền bắc. Chiếu rằng:

tiến lấy Bắc thành, thiết lập quan chức, còn điều luật tố tụng thì chưa san định được. Vậy soạn đại thể 15 điều để cho quan liêu nội ngoại theo đó mà tuân thủ. Còn như việc xét đoán mọi việc thì nên tham chước quốc triều hình luật Hồng Đức nhà Lê trước mà thi hành, đợi sau khi bàn nghị sẽ định sau. [40] [NDC]

Để được hưởng sự khoan hồng của triều đình, những người làm quan cho Tây Sơn phải ra đầu thú trong hạn ba hay năm ngày tuỳ theo gần xa. Đại Nam thực lục ghi là “thượng thư giặc là Ngô Nhâm, Nguyễn Gia Phan[41], Phan Huy Ích đến hành tại chịu tội. Vua thấy sắp có việc bang giao mà bọn Nhâm vốn là cựu thần nhà Lê, sành sỏi việc cũ. Huy Ích lại từng làm sứ thần cho giặc sang nhà Thanh nên mới ra lệnh ở bên ngoài phòng khi cần hỏi đến”. [42] [NDC]

Theo như thế, ngay khi vua Gia Long vừa vào Thăng Long thì chúng ta đã thấy các ông Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích và Nguyễn Gia Phan xuất hiện, đến hành tại là nơi vua ở để xin chịu tội. Việc này rất cấp bách trong hạn “gần thì ba ngày, xa thì năm ngày” được chép trong các việc xảy ra tháng Sáu năm Nhâm Tuất (1802) và được tha về trong tư thế chờ lệnh nếu cần sẽ gọi vào để hỏi việc.

Việc bảo vệ những người đó hầu như không bao giờ được nhắc tới nhưng cũng còn một hai câu trong sử triều Nguyễn nói phớt qua cho thấy quả thực họ được dùng như những cố vấn ngoại giao trong thời kỳ đầu và sau đó tham gia trực tiếp vào việc lễ nghi chứ không phải hoàn toàn đứng ngoài sinh hoạt triều đình. Theo Đại Nam Thực Lục, quyển XVIII, tr. 6 thì:

… Vua thấy giặc Tây Sơn đã bị diệt rồi nên ra lệnh gửi thư sang tổng đốc Lưỡng Quảng nhà Thanh hỏi về việc bang giao, sai thiêm sự bộ Lại Lê Chính Lộ, thiêm sự bộ Binh Trần Minh Nghĩa hầu mệnh ở Nam Quan. Lại thấy rằng quốc gia mới dựng muốn lên cửa quan tiếp đón sứ thần nhà Thanh làm lễ tuyên phong cho giảm bớt phiền phức, phí tổn. Vua đem ra hỏi. Ngô Nhâm và Phan Huy Ích đều nói là việc đó trước nay chưa từng nghe đến. Vì thế mới thôi. [43][NDC]

Việc này xảy ra trong khoảng tháng Bảy năm Nhâm Tuất (1802) nghĩa là rất sớm, ngay khi vua Gia Long đến Thăng Long và hai ông Phan, Ngô cũng ra trình diện như Phan Gia Thế Tự Lục đã chép. Tuy nhiên có người không ưa Ngô Thì Nhậm, có lẽ từ những ân oán thời Lê – Trịnh và đầu đời Tây Sơn[44] nên vua Gia Long phải đưa hai ông vào giữ trong quân, vừa giam lỏng để tiện việc hỏi về thể thức giao thiệp với Trung Hoa, vừa bảo vệ cho họ khỏi những bất trắc.Thời nhiễu nhương, việc có kẻ lợi dụng buổi giao thời đền ơn trả oán là chuyện rất bình thường.

Những chi tiết trên là trích từ sử triều Nguyễn tức quan điểm của triều đình. Thế nhưng chúng ta cũng còn những chi tiết từ chính Phan Huy Ích viết về hoàn cảnh lúc đó trong Dụ Am Ngâm Tập (裕庵吟集) quyển V (Dật Thi Lược Toản逸詩畧纂) (bản chép tay Viện Hán Nôm) như sau:

Tháng Sáu, tân triều tiến binh ra bắc, một trận phong ba. Ngày 21, nhà vua đến Bắc Thành, trước ban chiếu văn:

凡僞官降順。並在涵容。

Phàm nguỵ quan hàng thuận, đều được tha thứ. 

Ta và Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thế Lịch đều lần lượt đến yết kiến qui thuận, tuân chỉ ở yên trong nội thành để chuẩn bị hỏi đến. Thượng tuần tháng Tám, triều nghị nói rằng nguỵ quan nhưng bị dân chúng chê trách tố cáo, có điểm cần phải hỏi thêm nên bị đưa vào cấm vệ giam cầm, đợi khi nào án tâu lên xong khi đó sẽ nhận được thượng dụ để xử trí. Tuy bị giam hãm lâu ngày nhưng hơi có chút đường sống.

Theo tài liệu trong Trịnh Gia Thế Phả, chúng ta còn thấy một đặc chiếu vua Gia Long gửi cho thần dân thiên hạ nhưng có lẽ chủ yếu là cho dân chúng Bắc Hà vào tháng Tám năm đó.

Đặc chiếu ngày 19 tháng Tám năm đầu niên hiệu Gia Long (1802)

Chiếu cho thần dân thiên hạ kính biết:

Từ xưa, các đời dựng nước, có đời gọi là Đế, có đời gọi là Vương, xưng hiệu đẫu không giống nhau, nhưng từ dân ta chỉ có một nghĩa mà thôi.

Mới đây giặc Tây nổi loạn, nhà Lê mất nước, hơn hai mươi năm, chính thống của nước nhà, vẩn vơ rối loạn. Ta ở trấn Gia định, vẫn lo cho xã tắc sinh dân nước nhà. Trước phải chính ngôi vua, cho phó lòng nhân dân thiên hạ trông mong; sau lấy lại được kinh Phú xuân, phải chọn ngày cáo Thái miếu, dựng niên hiệu, cũng là để rõ chính thống lúc ban đầu và làm mới tai mắt cho thiên hạ.

Bây giờ tướng giặc bị bắt, việc quân đã định, sĩ phu thiên hạ cùng con cháu nhà Lê, chi phái họ Trịnh và các họ công thần, các quan văn võ trong ngoài, trước sau biểu chương, đều xin sớm chính ngôi Hoàng Đế: nhời suy đới đó đều là thiết thực cả. Vả lại nước ta, từ ông Triệu Vũ, nhà Đinh, Lý, Trần, Lê, xưa nay vẫn xưng Đế ở Nam phương: sông núi nước Nam, vua nước Nam ở, đã rõ ràng ở thiên thư.

Nhưng hồi tưởng: Nhà nước mới gây dựng nên, chỗ ghẻ lở chưa trừ được, kẻ ốm yếu, chưa sống lại; phong tục điêu bạc, biến hoá chưa hết; chính sự tệ ngược, thay đổi còn nhiều. Nhất thiết tình dân kế nước, cần phải trù liệu. Lúc mới sắp được phong thịnh, có nhẽ đâu lại uốn mình để theo lòng chúng, mà nghiễm nhiêu tự xử ngôi chí tôn. Phải nhưng bớt những chương tấu của lũ đó, để tỏ lòng khiêm ước.

Vậy bá cáo rộng ra, để cho thiên hạ đều biết.

Phải nên kính vâng nhời đó.

Nay đặc chiếu.[45]

Vua Gia Long cũng xuống chiếu hoà hoãn với con cháu họ Trịnh. Trong Trịnh Gia Thế Phả, ông Nhật Nham Trịnh Như Tấu còn chép lại một số chiếu chỉ (bản dịch) cũng nên ghi nhận như sau:

Chiếu ngày 16 tháng Sáu năm đầu niên hiệu Gia Long (1802)

Chiếu cho ngoại quán các chi phái họ Trịnh đều biết:

Nhớ xưa: Họ ta cùng họ Trịnh vẫn là thân thích, quãng giữa Bắc Nam đôi ngả, thành xa cách nhau. Đó là công việc của tiền nhân, ta cũng không nên nói đến nữa.

Ta nay trả được hằn [thù], giẹp [dẹp] được giặc, trong ngoài thống nhất, như một nhà, thì tình thân qua cát từ xưa, lại nên nhớ đến. Vậy chiếu ban cho trong họ đều biết: nên phải bảo nhau, họp chọn lấy năm, sáu người tộc trưởng, có tài cán biện, đến Hành doanh chầu mừng và đưa cả sổ sách gia tiên, để tìm rõ được chi phái đích thứ, mà thu lục cho, để hậu nghĩa hai họ với nhau.

Phải nên kính vâng nhời đó.

Nay đặc chiếu.

Sau tờ chiếu này, con cháu họ Trịnh vâng mệnh kê khai nhân số và cho người vào chầu vua Gia Long đem theo tờ biểu tâu sau đây:

Tháng Bảy năm đầu niên hiệu Gia Long (1802)

Triều cũ, cả họ Trịnh kính tâu:

Vì vâng đem tứ đạt như sau này:

Nguyên chúng tôi là dòng dõi nhà Trịnh. Từ khi giặc Tây sơn phá cửa Quyết, lầm than, không thể chịu được, phải vào rừng núi, ẩn khuất đã lâu năm.

Nay kính vâng xa giá nhà Vua, chiếu cố đến kẻ hạ thần, mở rộng lòng nhân từ, thương nhớ kẻ cố cựu, chưa kịp dừng xa giá đã vội ban sắc chỉ. Chúng tôi may được mở mặt nhường này, thực là đội đức vô cùng.

Nay vâng chiếu ban ơn, đến Cửa lạy tạ.

Nay kính tâu

Cả họ Trịnh ký tên

Sau khi họ Trịnh qui thuận và đến đầu phục, vua Gia Long ban chiếu như sau:

Ngày 23 tháng Chín năm đầu niên hiệu Gia Long (1802)

Chiếu cho các phái đích tôn nhà Trịnh tuân biết:

Tiên tổ nhà ngươi vốn là thân thích với nhà ta. Dẫu rằng quãng giữa Bắc Nam đôi ngả, đều là việc đã qua. Hiện đó giặc Tây sơn dấy loạn, Đế tộ nhà Lê phải suy đồi, Vương nghiệp nhà Trịnh cũng thiên di. Nay thiên hạ đã định, bốn bể đã trong, nghĩ lại tình thân qua cát, cũng nên thương nhớ.

Vậy chuẩn tha cho lũ nhà ngươi: thuế thân, thuế dung, sưu linh, mọi việc và cho nối dõi tông đường họ Trịnh. Lại biệt cấp cho ruộng tế 500 mẫu, chiểu y sổ bộ hộ cấp cho nhà ngươi nhận lĩnh số thuế thóc thu hàng năm là 333 hộc 10 cân và tiền khoán thập vật là 75 quan, y số chuẩn dùng việc tế tự. Còn như họ Trịnh 847 người, cứ y trong sổ khai, chuẩn miễn sưu linh thân dung mọi thứ tiền, để tỏ phúc tốt của nhà Vua ban cho.

Phản nên kính vâng nhời đó.

Nay đặc chiếu.[46]

Như vậy chỉ trong vòng một tháng khi mới lấy được Thăng Long, vua Gia Long đã xuống chiếu nêu rõ thái độ thích đáng với cựu thần triều Tây Sơn, con cháu nhà Lê, con cháu họ Trịnh và tất cả đều qui thuận mà không có chống đối gì. Có lẽ nhân dân Bắc Hà sau nhiều năm chinh chiến không thiết tha gì đến việc chống đối hay nổi dậy nữa nên các địa phương đều tái lập trật tự rất nhanh. Một cách tổng quát, tuy triều đại có thay đổi nhưng những giá trị xã hội vẫn giữ nguyên và trong khoảng ¼ thế kỷ (1788-1802) những biến chuyển thượng tầng từ Lê sang Tây Sơn, sang Nguyễn cũng chỉ là những làn sóng trên bề mặt, còn dưới đáy mặt nước vẫn êm đềm.

Những bậc khoa bảng đời Lê vẫn giữ nguyên trong các thời kỳ sau, đỗ đạt thời trước thời sau vẫn trọng dụng chứ không có cảnh đảo lộn trật tự xã hội của những xã hội loạn ly khác. Đó cũng là một điểm son của thời kỳ này và chính ngụy đều chỉ là một thành phần rất mỏng, một lớp váng trên mặt nước mà khi gạt đi rồi thì mặt nước lại trong veo.

Tháng 10-2024

PHỤ LỤC

Gia Khánh thứ tư, tháng 5 ngày Bính Tuất [tức ngày 1-7-1799]

Dụ cho quân cơ đại thần:

Ðài Bố tâu thay cho quốc vương An Nam Nguyễn Quang Toản xin tiến cống và một đạo biểu văn trong đó xưng những lời rằng: “Ngày 28 tháng 3 quốc vương tuân phụng di cáo của thái thượng hoàng, nay đã soạn biểu văn, cung kính sai thân vương đến kinh tiến hương”. An Nam quốc vương Nguyễn Quang Toản từ khi tập tước được hưởng ân huệ thay cho cha. Hiện nay tiếp phụng di cáo nên muốn sai sứ thần đến kinh đô tiến hương, ấy là do lòng biết ơn cảm kích. Thế nhưng tử cung [quan tài của vua] Cao Tông Thuần Hoàng Ðế đã đưa vào sơn lăng từ tháng 9, nếu quốc vương kia sai sứ tiến hương thì khi đến kinh đô thì việc an táng đã xong xuôi, đi xa xôi mệt nhọc vô ích. Vậy Ðài Bố viết thư cho quốc vương kia không cần phải sai sứ đến kinh tiến hương làm gì.

Còn như dự tính tiến cống vào năm Canh Thân [1800], nếu như sứ thần nước kia đến kinh đem đồ cống đến thì cũng vẫn nằm trong hạn kỳ 20 tháng 7 là thời kỳ không nhận đến mừng tại triều và đình chỉ mọi yến tiệc [đây là thời kỳ toàn bộ triều đình để tang vua Cao Tông một năm] nên cũng không tiện cho việc đến kinh đô.

Vậy thì việc tiến cống năm Canh Thân gộp với tiến cống lần trước, hãy để đến năm Nhâm Tuất [1802] hãy đem tất cả cùng một lần, ấy là ý trẫm thể tuất cho phiên thuộc ở xa.

Nhân Tông thực lục, quyển 45 trang 17-18

Gia Khánh thứ tư, tháng 7 ngày Quí Dậu [ngày 17 tháng 8 năm 1799]

Dụ cho quân cơ đại thần:

Ðài Bố tâu rằng: Quốc vương An Nam sai sứ mang biểu tiến hương đã tuân chỉ  ra lệnh cho cống sứ đem phẩm vật trở về, đem hai đạo biểu văn trình lên.

Trẫm đọc hai biểu văn của quốc vương kia, tình ý thiết tha ai oán, đủ thấy rất là thành thực. Nay gửi cho An Nam quốc vương một đạo sắc dụ, giao cho tri phủ kia [tức Ðài Bố, tri phủ Quảng Tây] sai người đem đến Trấn Nam quan, giao cho trấn mục đem về cho quốc vương. Truyền dụ này cho biết.

Nhân Tông thực lục, quyển 49, trang 4-5

Gia Khánh thứ tư, tháng 8 ngày Tân Sửu [ngày 14 tháng 9 năm 1799]

Dụ cho quân cơ đại thần:

Cát Khánh [tổng đốc Lưỡng Quảng] tâu rằng:

Ðình [nguyên chữ là con chuồn chuồn, chỉ kẻ nay đây mai đó không có chỗ ở nhất định] dân là Phương Duy Phú dẫn theo bọn cướp Lương Văn Khoa tất cả 18 người đầu thú. Cứ theo lời cung khai thì đầu sỏ là Trần Thiêm Bảo hiện đang ở An Nam, cũng đang muốn tìm cách trở về qui thuận.

Lương Văn Khoa hối tội về đầu thú đáng được tưởng thưởng. Nay theo sự thỉnh cầu của viên tổng đốc, ban cho mũ chức ngoại uỷ … Nếu đầu sỏ bọn cướp ở An Nam nghe tin kẻ về đầu thú được ban cho mũ đội vinh dự như thế, trong bụng sẽ thèm muốn, hoặc sẽ đến đất Việt [Quảng Ðông] đầu thú thì không thể được thu lưu như vậy vì ngại rằng nước kia [An Nam] thấy thiên triều thu nạp kẻ trốn chạy sẽ lên tiếng hỏi quan lại ở biên cảnh thì không phải là hợp với thể chế. Truyền dụ này cho biết.

Nhân Tông thực lục, quyển 50, trang 9-10

Gia Khánh thứ tư, tháng 9 ngày Giáp Thân [ngày 27 tháng 10 năm 1799]

Dụ cho quân cơ đại thần:

Cát Khánh tâu rằng: “Bọn người di ở Nông Nại [tức phiên âm hai chữ Ðồng Nai, chỉ đất Gia Ðịnh] là Nguyễn Tiến Ðịnh giao chiến với quân An Nam [tức quân của Cảnh Thịnh], vì bị gió nên dạt đến vùng biển Quảng Tây, xin được cấp thực phẩm, sau đó thả cho về bản quốc” xem ra hơi có lòng tử tế.

Thế nhưng Nguyễn Quang Toản đang phụng chính sóc [nhận lịch nhà Thanh có nghĩa là đóng vai phiên thuộc] đối với những người này là kẻ địch, nếu hậu đãi thì khi Nguyễn Quang Toản cho người đến hỏi, các ngươi sẽ phải trả lời thế nào? Huống chi trẫm mới thân chính [lên cầm quyền], bọn người di kia không khỏi có bụng vọng tưởng, tính chuyện nhờ cậy.

Chuyện họ Lê, họ Nguyễn ai thẳng ai cong, lúc này chưa thể bàn tính được. Thế nhưng họ Nguyễn [tức Tây Sơn] sợ mà thần phục thiên triều cũng đã nhiều năm, còn đất Ðồng Nai, nghe nói bọn cướp biển vẫn thường đến đây trốn tránh, chẳng phải là nơi tốt lành gì.

Nếu các ngươi không nghiêm nhặt đuổi chúng trở ra biển thì người của Ðồng Nai sẽ đến xin giúp đỡ ngay, thêm chuyện rắc rối. Thế nhưng cũng không thể bắt trói bọn Nguyễn Tiến Ðịnh giải giao An Nam, chỉ nên cấp dưỡng qua loa rồi cho về.

Còn như Cát Khánh muốn để cho họ theo các thương thuyền trở về, nếu An Nam tìm biết được, hoá ra trợ giúp kẻ địch của họ thì đâu còn là đạo phủ ngự kẻ phiên thuộc ở xa nữa?

Cát Khánh, Lục Hữu Nhân hãy theo thế mà làm. Tổng đốc hãy tuân chỉ mà sắp đạt cho chu đáo, đừng để xảy ra chuyện xích mích nơi biên cảnh. Hãy cẩn thận! Truyền dụ này cho biết.

Nhân Tông thực lục, quyển 52, trang 31-32

Gia Khánh thứ năm, tháng giêng ngày Kỷ Mão [ngày 19 tháng 2 năm 1800]

Dụ cho quân cơ đại thần:

“Cát Khánh tâu lên một triệp văn về việc hải phỉ hối tội đầu thú … Ðạo phỉ đất An Nam, Ðồng Nai có thể nghe tin nên đến đầu thú, hãy đuổi trở về bản xứ. Không phải chỉ cự tuyệt những người từ Ðồng Nai, mà kẻ cướp từ An Nam cũng không thể thu lưu. Lần này bọn đạo phỉ đầu thú rất đông, vậy bọn tổng đốc kia hãy lưu tâm tra xét, nếu có người An Nam, Ðồng Nai lẫn vào trong đó, lập tức cấp cho lộ phí để quay trở về. Truyền dụ này cho biết.

Nhân Tông thực lục, quyển 58, trang 14-15

Gia Khánh thứ năm, tháng 2 ngày Canh Tuất [ngày 22 tháng 3 năm 1800]

Lại dụ cho quân cơ đại thần:

Cát Khánh tâu lên một triệp văn về việc tiếp nhận dương đạo … Nếu bọn phỉ người di An Nam tự ý đến đầu thú thì không thể thu nạp mà nên tuỳ thời đuổi về nguyên quán để khỏi gây ra rắc rối.

Nhân Tông thực lục, quyển 60 trang 28-29

Gia Khánh thứ năm, tháng tư nhuận ngày Bính Thìn [ngày 27 tháng 5 năm 1800]

Phóng thích những người An Nam bị bộ Hình giam cấm là Lê Quýnh, Trịnh Hiến, Lê Trị, Lý Bỉnh Ðạo đưa ra an trí ở hoả khí doanh, ban cấp cho ngựa, giáp, tiền bạc, lương thực.

Nhân Tông thực lục, quyển 65, trang 6

Gia Khánh thứ sáu, tháng sáu ngày Bính Dần [ngày 31 tháng 7 năm 1801]

Lại dụ cho quân cơ đại thần:

Bọn Cát Khánh tâu riêng: “Nhân dân nội địa [tức Trung Hoa] là Dương Thắng Ðạt đã sang đất di canh tác trồng trọt từ lâu, nay vì bị quan An Nam tróc nã và chiến tranh với Ðồng Nai nên trốn trở về. Từ sau khi di quan áp giải thuyền của cướp biển đến thì lại quay sang đất di canh tác”.

Việc ngoại di xung đột với nhau, không can hệ gì đến nội địa, đáng ra có thể không lý đến. Còn như Dương Thắng Ðạt vốn là dân nội địa, nếu không phải trốn đến xứ di thì cớ gì quan An Nam tróc nã, đánh đập? Nay lại trở về đất di rồi, đủ biết việc phòng phạm biên giới của nội địa không nghiêm. Tổng đốc kia hãy sức cho thuộc hạ nỗ lực tuần phòng biên giới để cho không thể qua lại cấu kết, khiến cho biên thuỳ yên tĩnh thế mới là tốt đẹp …

Nhân Tông thực lục, quyển 84 trang 24

Gia Khánh thứ sáu, tháng 10 ngày Ất Mão [ngày 17 tháng 11 năm 1801]

Dụ cho quân cơ đại thần:

Cát Khánh tâu rằng: Triệu Ðại Nhậm là dân huyện Thuận Ðức bị gió thổi dạt xuống Ðồng Nai, được quốc trưởng nước này là Nguyễn Phúc Ánh sai người đưa đến Phú Xuân, sửa lại thuyền bè, cung cấp lương thực rồi đem theo bẩm văn của quốc trưởng, trong đó viết: “Năm trước có dân nước đó bị bão đã từng được [thiên triều]  giúp đỡ nên nay giao cho bẩm văn này đem về để tỏ lòng cảm kích”.

Viên quốc trưởng Nguyễn Phúc Ánh đệ lên bẩm văn cốt ý để tỏ lòng cung thuận, mong được [địa phương] tâu lên, hoặc mong được thiên triều giúp đỡ. Thế nhưng Ðồng Nai và An Nam hiện đang tranh đoạt chưa ngã ngũ, lời tâu của bọn Cát Khánh không khỏi có ý thiên vị, sở kiến rõ ràng. Lúc này hãy gửi lại cho quốc trưởng kia trát dụ, trong đó viết rằng:

“Năm trước phủ tuất dân phiên bị nạn, ấy là chuyện bình thường của thiên triều vỗ về ngoại phiên, cũng chưa gửi tấu triệp lên đại hoàng đế soi xét. Nay người dân là Triệu Ðại Nhậm bị gió thổi đến nước ông, quí quốc lo liệu cho về nước, lại kèm theo bẩm văn, bản bộ đường thâm hiểu sự cảm kích của quí quốc. Vì việc phủ tuất nạn phiên năm trước chưa tâu lên, cho nên bẩm từ của nước ông cũng không tiện để chuyển tấu”.

Nếu như họ lại có bẩm văn tiếp theo, hay xin được viện binh, thì rõ ràng chỉ là bề ngoài, hãy dụ cho biết là hai bên [thiên triều] không nghiêng về bên nào. Trước đây Cát Khánh, Tạ Khải Côn đã từng tâu lên rằng thành Phú Xuân của An Nam bị Ðồng Nai chiếm nhưng An Nam lại thu phục rồi. Thế mà cung từ của Triệu Ðại Nhậm lại nói rằng hồi tháng 7 ở Phú Xuân, từng diện kiến quốc trưởng Nguyễn Phúc Ánh.

Thế thì khi gã dân đó từ Phú Xuân trở về Quảng Ðông là lúc An Nam chưa thu phục được Phú Xuân, hay là An Nam thu phục rồi sau đó lại bị Ðồng Nai chiếm mất. Cát Khánh hãy tra xét minh bạch rồi tâu lên lần nữa. An Nam và Ðồng Nai thù hằn giao binh, vốn không can hệ gì đến nội địa, vậy Cát Khánh hãy cứ bình tĩnh, không cần phải tra hỏi quá đáng. Nếu trong tương lai An Nam bị Ðồng Nai thôn tính, toàn cõi đều mất, quốc trưởng nước ấy là Nguyễn Quang Toản gõ cửa quan xin giúp đỡ, lúc ấy Cát Khánh hãy tâu cho rõ ràng để xin chỉ thị. Nếu như Ðồng Nai chiếm được toàn cõi An Nam, gửi bẩm văn đến Quảng Ðông, thì cũng lập tức tâu lên cho rõ để đợi chỉ lo liệu mọi việc.

Nhân Tông thực lục, quyển 88 trang 17-18

Gia Khánh thứ sáu, tháng 10 ngày Canh Thân [ngày 22 tháng 11 năm 1801]

Lại dụ nội các rằng:

Tạ Khải Côn tâu lên thay lời quốc vương An Nam về tấu triệp lệ cống. Nước này lệ cống, trước đây có chỉ dụ ra lệnh đem cống phẩm từ năm Canh Thân [1800] trở về trước sẽ gộp cùng cống phẩm năm Nhâm Tuất [1802] cùng sang một lượt. Hiện nay quốc vương nước này dâng biểu tâu rằng không chỉ cung tiến các năm Mậu Ngọ [1798], Canh Thân [1800] mà xin đem luôn cả đồ cống năm Giáp Tí [1804] cùng tiến một lần, khẩn khoản xim cho bồi thần này năm Nhâm Tuất [1802] tiến kinh chiêm cận.

Quốc vương nước này từ mấy năm nay chinh chiến với Ðồng Nai nên muốn dự bị lễ vật tiến cống, sai sứ đến kinh đệ lên, nếu không chuẩn thuận cho phụ tiến thì e rằng không phải là thương xót đến. Vậy Tạ Khải Côn hãy truyền dụ cho Nguyễn Quang Toản, vì nước này xa xôi nơi góc bể, đường sá vạn dặm, cống kỳ năm Giáp Tí với Nhâm Tuất không xa, nếu chia ra làm hai năm, không khỏi gian lao khó nhọc.

Hãy tâu cho rõ đại hoàng đế xét lòng thành khổn, đặc biệt gia ân cho đem các kỳ Mậu Ngọ, Canh Thân, Nhâm Tuất, Giáp Tí bốn lần lệ cống, sang năm sai sứ đem cùng một lần lên kinh, để tỏ bụng lai viễn hoài nhu của trẫm. Truyền dụ này cho biết.

Nhân Tông thực lục, quyển 89, trang 2-3

Gia Khánh thứ sáu, tháng 10 ngày Tân Dậu [ngày 23 tháng 11 năm 1801]

Dụ cho quân cơ đại thần:

Cát Khánh tâu rằng, quân cướp biển ở di quốc là Trần Thiêm Bảo đem quyến thuộc đến đầu thú, xin được tha tội. Từ trước đến nay hải dương đạo phỉ nếu như suất lãnh thuộc hạ đến đầu thú, đều được thưởng cấp chỏm mũ. Trần Thiêm Bảo là một tên cướp lớn nổi tiếng, từng được nguỵ phong của An Nam, tội lỗi đã nặng. Nay hối tội đầu xuất, chưa tiện ban cho chỏm mũ. Nay theo lời tâu của tổng đốc, đem Trần Thiêm Bảo và gia quyến của y định cư nơi phủ Nam Hùng, giao cho doanh huyện quản thúc.

Cũng truyền dụ minh bạch rằng, vì đã nhận nguỵ phong của An Nam, tội đáng lăng trì. Nay niệm tình vì tự ý đầu thú nên miễn cho tội chết, vậy nên biết điều, yên ổn giữ theo phép nước làm lương dân. Còn như nếu gây chuyện thì sẽ nghiêm trị không tha …

Nhân Tông thực lục, quyển 89, trang 3


[1] Ngô Giáp Ðậu (吳甲豆), Hoàng Việt Long Hưng Chí (皇越龍興誌) hồi 26. Tuy HVHLC chỉ là một bộ tiểu thuyết lịch sử nhưng phần lớn dựa vào tài liệu trong sử quán của triều đình. Những chi tiết này về sau cũng thấy được ghi lại trong Ðại Nam thực lục

[2] Vụ án Hoà Thân sở dĩ không lan rộng vì nhiều người trong đảng Hoà Thân có liên quan đến hoàng gia.

[3] Khi chết, Phúc Khang An được vua Càn Long đặc cách phong lên quận vương (prince of second degree) nhưng con ông bị vua Gia Khánh giáng xuống bối tử (prince of fourth degree). Cháu nội Tôn Sĩ Nghị thì bị trách mắng là “Sĩ Nghị lấy được Lê thành rồi (nói về vụ đem quân sang Thăng Long), hoàng khảo (tức vua Cao Tông) ra lệnh ban sư. Sĩ Nghị có ý tham công, trùng trình cho nên làm hỏng việc, thua trận chạy về. Lời tâu lên phần lớn chỉ là loè loẹt bề ngoài. Trẫm nghĩ đến di ý của hoàng khảo nên không truy cứu đấy thôi.

[4] Khi nghe tin vua Quang Trung qua đời, con còn nhỏ, vua Càn Long lập tức sai Phúc Khang An điều động binh mã tới biên giới để nếu có quyền thần [mà lúc ấy ông cho là Ngô Văn Sở] cướp ngôi thì sẽ lập tức tiến quân để giành lại ngôi vị cho Nguyễn Quang Toản [Thượng dụ ngày Bính Thìn, tháng giêng năm Càn Long 58 (3-4-1793)]. Ðọc lại sắc phong của vua Càn Long phong vương cho vua Cảnh Thịnh chúng ta có cảm tưởng như lời “ông nội” nhắn nhủ cháu bé hơn là một văn bản hành chánh.

[5] Xem chi tiết trong Tống Tự Ngũ (宋叙五) và Triệu Thiện Hiên (趙善軒), Thanh Triều Càn Gia Chi Hậu Quốc Thế Suy Ðồi Ðích Kinh Tế Nguyên Nhân (清朝乾嘉之後國勢衰頹的經濟原因). Hương Cảng: Thụ Nhân học viện, 2004 tr. 22-25

[6] Xem Nguyễn Duy Chính, “Bão Kiến hay Bão Tất” trong Núi Xanh Nay Vẫn Đó, Tp. HCM: VH-VN 2016 tr. 263-294

[7] Trung Quốc Lịch Sử Ðại Từ Ðiển, quyển hạ (Thượng Hải: Thượng Hải Từ Thư, 2000) tr. 2253 và 2319. Thân vương được người ngoại quốc dịch ra là prince of first degree và quận vương là prince of second degree.

[8] Khi tham dự Vạn Thọ Yến, tất cả các phiên vương, sứ bộ đều mặc y phục theo cấp bậc của Thanh triều chứ không theo quan chế của bản quốc.

[9] Ngày giờ Nguyễn Huệ từ trần cũng mỗi nơi một khác. Nguỵ Nguyên [魏源] trong Chinh Phủ An Nam Kyù [征撫安南記] và Từ Diên Húc [徐延旭] trong Việt Nam Thế Hệ Duyên Cách Lược [越南世系沿革略] viết là Nguyễn Huệ chết tháng ba. Theo báo cáo của tổng đốc Lưỡng Quảng Quách Thế Huân [郭世勳] thì viết là Nguyễn Huệ chết tháng chín. Tuần phủ Quảng Tây Trần Dụng Phu [陳用敷] tâu rằng Nguyễn Huệ bị bệnh chết ở Nghệ An ngày 29 tháng 9 [tính ra là ngày 13 tháng 11 năm 1792]. Ðại Nam Thực Lục viết là tháng 7 năm Nhâm Tí.

Trong một biên khảo nhỏ về “Ngày giờ Quang Trung mất” [đăng trong báo Dư Luận, Hà Nội 1946 số 28 trương 5, dẫn theo La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II tr. 1074-6], giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã đưa ra kết luận là “vua Quang Trung đạ mất ngày 29 tháng bảy năm Nhâm-tý, vào giờ Dạ-Tý tức là ngày 16 tháng chín dương-lịch năm 1792, vào khoảng từ 11 giờ đến 12 giờ khuya”.

Qua nhiều tài liệu khác nhau nhưng không tài liệu nào có tính khả tín cao vì không được phổ biến ngay lúc đó mà đều được nhắc lại từ một vài tháng hay một hai năm sau khi Nguyễn Huệ từ trần, việc khẳng định ngày giờ như cụ Hoàng cũng cần tìm hiểu lại. Một điều đáng lưu ý, Nguyễn Huệ không qua đời một cách đột ngột mà ngoạ bệnh nhiều tháng trước khi từ trần. Trong thời gian đó, việc nhiếp chính và tranh giành phe phái có thể xảy ra nên tin tức từ triều đình ra ngoài có nhiều điều phỏng đoán. Chúng ta cũng không thấy có lý do gì chính đáng để triều đình Tây Sơn phải dấu chuyện này ngoài việc khẳng định rằng các việc khác đều bất minh [việc vua Quang Trung giả, việc từ chối phong vương ở Thăng Long, việc xây mộ giả …] thì chuyện này cũng ám muội, nhưng khi nghiên cứ lại chúng tôi thấy mọi sự đều bịa đặt.

[10] An Nam Ðáng, tài liệu lưu trữ trong Cố Cung Bác Vật Viện Ðài Bắc đề ngày mồng 7 tháng giêng năm Gia Khánh nguyên niên, trích lại theo Trang Cát Phát trong “Việt Nam quốc vương Nguyễn Phúc Ánh khiển sứ nhập cống Thanh đình khảo”, Thanh Sử Luận Tập, quyển III (Ðài Bắc: Văn Sử Triết, 1998) tr. 241, chú thích 9.

[11] Theo lệ nhà Thanh, Triều Tiên mỗi năm cống 4 lần, một năm hợp làm một kỳ; Lưu Cầu cách một năm một lần; An Nam ba năm một lần, hai lần sáu năm hợp làm một sang cống [nay thành hai năm, bốn năm sang cống]; Ai Lao 10 năm một lần; Tiêm La ba năm một lần; Miến Ðiện 10 năm một lần. Lam Ngọc Xuân, Trung Quốc Ngoại Giao Sử (Ðài Bắc: Tam Dân, 2007) Biểu đồ 2-1: Triều Cống Chế Ðộ tr. 35

[12] Thanh triều phân ra hai loại phiên thuộc, nội phiên bao gồm những khu vực ở vùng tây bắc [Inner Asia], được ban tước và được [hay bắt buộc] phải đến Bắc Kinh hàng năm gọi là triều cận (朝覲 – chaojin) để yết kiến vua Thanh [pigrimage to the Emperor]. Triều cận là một hình thức tỏ lòng trung thành tương tự như một chức sắc tôn giáo với một giáo chủ. Hoàng đế cũng tỏ thái độ thân mật đặc biệt với các phiên vương khi ở Bắc Kinh như hạ cố đến thăm nơi họ ở và nhất là những quà tặng đặc biệt ngoài qui định. Triều cận là tên gọi riêng cho hành vi triều kiến đặc biệt này và phiên vương duy nhất không phải là nội phiên được “vinh dự” triều cận là vua Quang Trung. Phiên thuộc thứ hai gọi là ngoại phiên và không được hưởng ưu đãi “triều cận” mà chỉ được “triều cống” (朝貢 – chaogong) tức là cho sứ thần đem phương vật và vàng bạc theo kỳ hạn đến Bắc Kinh [tribute].

[13] …the Tribute mission were allowed to trade at border markets where they crossed back and forth; and the tributaries traded in Beijing when they were lodged at the Residence for Envoys (Siyiguan) [tứ di quán] Ning Chia, “The Lifanyuan and the Inner Asian Rituals in the Early Qing (1644-1795)”, Late Imperial China Vol 14, N. 1 (June, 1993) tr. 71

[14] Đại Nam Thực Lục, đệ Nhất kỷ (1961), quyển XVII, Keio Institute of Linguistics Studies, Mita, Siba, Minato-ku, Tokyo, Japan tr. 1

[15] Nguyên văn:

[1] 詔曰。我聞春秋大一統所以明正始之義,粵我先太王肇基南服,神傳聖繼,垂二百載。頃者西山倡亂,黎祚告終,數十餘年國内無統。我播越偏方,深以廟社生民爲念。臥薪嘗苦,思大輯寧。庚子初,在嘉定城爲將士推戴旣卽王位以繫人心。惟舊京未復猶因舊號。今仰荷皇天眷佑,[2] 列聖垂庥,收復故疆光回舊物。在廷文武百執交章,勸我卽正改元。我念餘孽未除,海宇未一豈可遽登尊位。惟襲旣往之元,布更新之命,非所以明示法度。其允建元之請,以今年五月初一日,詔吿天地,次日詔吿列聖,紀元嘉隆以一統紀,新視聽。Đại Nam Thực Lục (1961), đệ Nhất kỷ, quyển XVII, tr. 1-2

[16] Nguyên văn:

[17] 帝嘗與羣臣議用兵謂之曰。

北河黎故國也。自我列聖肇基南服二百餘年,用黎正朔,頃者西賊僭竊,我積意用兵,惟在復讎而已。今故疆旣復而僞渠北竄,若擧兵北伐,罪人旣得之後,於黎如何? 鄧德超,陳文擢等咸進曰:自黎主奔清,一去不返,北河之地已爲西賊所有。况王師克復舊京以來,黎之臣民曾無一人應義以討賊者。黎[18]不再興已可知矣。今我滅西賊,奄有其地,是取於西賊,非取於黎也。事平後自有處置。惟弔伐之擧,貴乎有名。應順之師,先於革正。今我北伐而猶用黎年號誠恐北人謂我藉以扶黎爲辭,莫若正位改元,聲大義於天下,則得國爲正,無可議者。Đại Nam Thực Lục (1961), quyển XVI, tr. 17-18.

[17] Cố Cung Bác Vật Viện (Đài Bắc), lời tâu của Cát Khánh ngày mồng 1 tháng Chín, Gia Khánh 7, đáng án số hiệu 094952-a.

[18] Nguyên văn

[2]辛酉年十二月以前官稅錢粟欠在民者竝赦

– 赦文到日凡諸衙所欠官錢粟竝赦

– 現禁囚徒不論已處未處竝赦,惟殺人及行刧首黨不赦

– 正户客户別納屬軍各色差餘稅錢自癸亥年以後减十之二

– 屯田粟光綾黑綾猛火油木炭黄蠟白布豆油橄欖脂簟帆各項及一切雜稅自癸亥年以後減十之二

Đại Nam Thực Lục (1961), quyển XVII, tr. 2

[19] Nguyên văn:

[9]春秋之義,莫大於復讎。王者之師,必先於誅亂。慨自西山煽變,順廣以北,久遭荼毒。

朕今勵志殲仇,惟以伐[10]罪弔民爲念。會已申嚴軍令,使之秋毫無犯,猶恐假名竊字之徒,驅脅平民,肆行非法,特此諭下。爾等宜胥相報告,用命者有厚賞,違命者有顯戮。

– 豪目有能攻破賊屯及邀捕賊黨者,量功行賞。有心向順,詣軍應義者,隨材收用。

– 民人有能擒獲賊阮光纘者,授一品官,給田一百畝,屬兵一百人。獲光纘諸弟者,授二品官,給田五十畝,屬兵五十人。獲賊郡公渠帥者,授三品官,給田三十畝,屬兵三十人。斬獲者,賞亦如之。容貯引去者,覺出以軍憲論。

– 順廣人皆朝廷赤子爲賊迫脅驅之北戎,竄在何處所在,各宜留養,引就軍前投納,量加獎賞。若復追怨丙午年,在富春城,賊徒殺戮之慘而擅自殺傷及隱匿不解者俱從重治。

– 錢糧,典籍有能收留謹守,事定獻納者必有重賞。若敢燒掠,必干軍憲。

– 無賴棍徒扮作軍色,擅入民家抄掠者,聽所在社民捕解,或勢力不敷,卽就軍陳訴擒捕究治。

– 大兵所到地方,豪目有能以賊情虛寔赴訴者,卽有獎賞。若不以寔吿锆及容隱賊黨者以軍法從事。Đại Nam Thực Lục (1961), quyển XVII, tr. 9-10

[20] Nguyên văn:

[10] 用兵之道要在平定安集,前已頒示軍政,嚴加禁戒。

今朕親督將士,直進北河,剿除西賊,所當申明號令以肅戎行。爾將士等其凛遵之。

– 官軍有能擒斬賊 [11] 阮光纘及渠帥者,如前檄文賞格。

– 賊黨投降及生獲者,宜先詰問賊情虛寔,解到行在候旨,不得擅補本標,免致誤事。

– 大兵所到以火爲號,宜於林莽閒曠之地。發火若妄燒民家有干軍憲。

– 府庫圖籍不得燒掠,倘有收獲賊中文書,事屬關要,卽由統將進覽,量加賞給。

– 大兵進行,要在神速。有病不堪行者,聽以沿途民護遞,其餘毋得攪擾。

– 大兵停駐宜照圖次屯札,不得擅入民家。何道軍糧轉運不給者,聽權取民糧,量發仍留派跡,待後照除。

– 地方豪目有投忱効用者均由統將轉奏,隨事差遣,不得擅給文憑,召募兵糧,動致擾弊。惟社民有陳乞,招安察寔,給憑以免騷擾。

– 諸軍所到地方,不得抄掠財産,姦淫婦女,犯者從重治罪。Đại Nam Thực Lục (1961), quyển XVII, tr. 10-11.

[21] Thượng dụ gửi Cát Khánh (tổng đốc Lưỡng Quảng) ngày 21 tháng Một, Gia Khánh 6 [Tân Dậu 1801]. Triệu Hùng (chủ biên). Gia Khánh Triều Thượng Dụ Đáng (2000), đệ lục sách, Quảng Tây Sư Phạm xbx, tr. 468-469.

[22] Phan Thúc Trực (潘叔直). Quốc Sử Di Biên [Hán Văn] (國史遺編) (1965), Hương Cảng: Viện Nghiên Cứu Ðông Nam Á, tr. 4-5

[23] Phan Thúc Trực (1965), Quốc Sử Di Biên, tr. 5-6

[24] Tên tục gọi là bãi Chám.

[25] Thuộc Chí Linh, Hải Dương.

[26] Phan Thúc Trực (1965), Quốc Sử Di Biên, tr. 6

[27] Đúng ra phải là Da Thị (椰市). Da 椰 và Liễu 柳 mặt chữ giống nhau. Da Thị là chợ Dừa.

[28] 辛酉之夏,西山少王棄富春北走,升北城爲北京,築圜丘爲柳市門外,甃方澤於西湖,以冬,夏二至,分祀天地。而南郊昭事殿,則倣中正朝大光明殿,仍爲祈禱吿謁之地,及改元吿謝俯首而冠免。人以此卜其亡云。Trần Khánh Hạo (陳慶浩) chủ biên (1992). Việt Nam Hán Văn Tiểu Thuyết Tùng San (越南漢文小說叢刊) quyển 5, Paris-Taipei: École française d’Extrême-Orient & Editions Universitaires de Taipei, tr. 42.

[29] Biệt Lam Trần Huy Bá: Thành Thăng Long với cuộc đổi thay.

[30] 中夏。奉營方澤壇紀事。

前冬奉設圜丘壇,以南同埬多處爲壇所。冬至御行郊天禮。兹奉擇西湖净地。建方澤壇。夏至御祭地祗。時有南掌國君温猛來朝。特賜冠服扈從。Phan Huy Ích (潘輝益). Dụ Am Ngâm Tập (裕庵吟集). Dật Thi Lược Toản. Bản [sao] chép tay Viện Hán Nôm Hà Nội (A.603/1-6), tr. 398-399.

[31] Đây là theo lễ nhà Chu (Chu Lễ). Tiết đông chí tế trời ở gò tròn phía nam quốc đô, tiết hạ chí tế đất ở gò vuông, phía bắc quốc đô. Viên khâu cũng gọi là Nam giao, phương khâu cũng gọi là Bắc giao. Tây Sơn theo tục xưa nên tế Trời Đất riêng rẽ, đời Nguyễn tế chung hai lễ làm một gọi là tế Nam giao. Xem thêm “Bàn về tế Giao” của Chương Dân, Nam Phong tạp chí, số 10 tháng 4-1918, tr. 223-228.

[32] 司馬用,提領泰自珠橋奔還京北,與大軍戰于春塢,敗走,亡匿會阜。用爲大軍所獲,士卒逃去。泰束兵詣大軍降。於是小羣處處並起,攻殺屯長,分道邀捕潰兵,以遙應大軍爲名,砲石鼓桴,喧闐四野。Phan Thúc Trực (1965) Quốc Sử Di Biên, tr. 9.

[33] Nguyễn Đức Xuyên (2019) Lý Lịch Sự Vụ (Trần Đại Vinh dịch), Hà Nội, tr. 133-134.

[34] 十六日纘及弟紹,冒雨而行,以司馬用率羽林,都督遺率翌林,皆金劍銀戟,少尉良,都督愼從行,抵北鎭,聞大軍先鋒,已入昇龍,而四方豪目,分道迎擊,軍民離叛,且行且罵,遂齊奔諒江,至壽昌,衆斷其橋,纘顧左右嘆曰: 卿等平日承宣,不知個得其事,致民情如此,乃乘象濟江,從者僅存數百人。Phan Thúc Trực (1965) Quốc Sử Di Biên, tr. 9

[35]垂至如訣屯,謂軍士曰:你輩餞吾行至住佑,須皆遣還, 勿憚勞也,軍士皆唯唯,因植戟屯門拊手大譟,一時走散,僅存數十人,至橘林橋,知事勢危 迫,不可圖存,先斬其馬與其妻,自絞死,豪目陳輝、瑤等,亟首獻大軍[梟于鷄坊] Phan Thúc Trực (1965), Quốc Sử Di Biên tr. 10

[36] …系凡僞西文武班寓,宜早就門𨀉候拜揭,人惟求舊,用各隨材… Phan Thúc Trực (1965), Quốc Sử Di Biên tr. 12

[37] Cũng trong phần này, Quốc Sử Di Biên (1965) tr. 11 chép: …輝益時任奔柴山之瑞圭,大軍捕獲,各罰鞭遣還… Huy Ích, Thì Nhậm chạy về làng Thuỵ Khuê ở núi Thày, đại quân bắt được, cả hai bị đánh roi rồi cho về … Đối chiếu với chính những ghi chép của Phan Huy Ích viết về thời kỳ này trong Dụ Am Ngâm Tập (quyển V, Dật Thi Lược Toản) Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm ra đầu thú khi vua Gia Long đến Bắc Thành đúng như Đại Nam Thực Lục đã chép.

[38] Nguyễn Duy Chính. Lê Mạt Sự Ký: Sự suy tàn của triều Lê cuối thế kỷ XVIII (KH-XH, 2015) tr.343-4

[39] Nguyễn Đức Xuyên (2019) Lý Lịch Sự Vụ (Trần Đại Vinh dịch), Hà Nội, tr. 136.

[40] … 進克北城,設官分職,其詞訟條律,未遑刊定,姑舉大體十五條,俾内外官僚,有所遵守。至如審斷諸務,並宜參酌前黎洪德國朝刑律施行,待後議定。Phan Thúc Trực (1965) Quốc Sử Di Biên, tr. 15.

[41] Tên Phan trong Thực Lục dùng bộ ngọc, trong Liệt Truyện dùng bộ thuỷ.

[42] 賊尚書吳壬,阮嘉璠,潘輝益詣行在伏罪。帝以將有事邦交而壬等舊爲黎臣,習知故事。輝益又曾爲賊使如清,乃命館于外備諮訪焉。Đại Nam thực lục (chính biên) q. XVII, tr. 25.

[43] …帝以西賊旣滅,命移書于清兩廣總督問以邦交事宜,遣吏部僉事黎正路,兵部僉事陳明義候命于南關。又以國家甫創,欲于關上接清使,行宣封禮以省煩費。問之。吳壬,潘輝益皆曰:此事未之前聞。乃止。Đại Nam Thực Lục, quyển XVIII, tr. 6

[44] Theo sử chép thì Ngô Thì Nhậm có nhiều hiềm khích, hành trạng của ông nổi bật nhất là vụ án Trịnh Khải mà người đời truyền ngôn là “sát tứ phụ nhi thị lang” và việc ông nhận trách nhiệm kêu gọi giới khoa bảng ra cộng tác với Tây Sơn khi Nguyễn Huệ vừa lấy Bắc Hà. Nguyễn Thị Tây Sơn Ký Nguỵ Tây (Liệt Truyện, quyển XXX) có chép:

Sáng sớm hôm đó, giao cho Ngô Văn Sở thống lãnh toàn quân, vẫn để Sùng Nhượng công Duy Cẩn giám quốc, trông coi cúng tế họ Lê rồi cho vời các bầy tôi nhà Lê cũ đến chầu, có tả thị lang Ngô Nhậm (người Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tiến sĩ đời Lê, đắc tội nên ẩn trốn nay mới lộ ra) trước nhờ Trần Văn Kỷ cầu kiến. Huệ đã từng nghe tiếng là người có tài nên coi trọng, phong cho chức thị trung trực học sĩ.

Nhậm nhân đó đưa những người cùng phe cánh với mình là Phan Huy Ích (潘輝益), Nguyễn Thế Lịch (阮世歷), Nguyễn Nha (阮衙), Nguyễn Bá Lan (阮伯瀾), Nguyễn Du (阮瑜), Trần Bá Lãm (陳伯覽), Vũ Huy Tấn (武輝瑨), Đoàn Nguyễn Tuấn (段阮俊) lần lượt ra yết kiến. Ích được phong thị trung ngự sử, Lịch làm hiệp biện đại học sĩ, các người khác cũng đều được làm quan.

Riêng cố quốc sư Nguyễn Hoàn (阮完) , cố bình chương Phan Lê Phiên (潘黎藩) đều xin được hưu trí vì già cả. Còn cố hành tham tụng Bùi Huy Bích (裴輝璧) thì thác là có bệnh không lạy được. Kiêm đô ngự sử Nguyễn Huy Trạc (阮輝濯) uống thuốc tự tận.

Chư thần họ Lê người thì trốn lên núi, hoặc lẩn tránh trong dân gian mai danh ẩn tích. Ngô [Thì] Nhậm xui Huệ ép họ phải ra. Ninh Tốn lúc đầu trốn không chịu ra nên bắt em y là hương cống mỗ đem ra chém cho y sợ nên sau Tốn đành phải lộ diện nhưng không bao lâu lại cáo bệnh trở về. Nguyễn Thị Tây Sơn Ký (TpHCM: Tổng Hợp, 2020) tr. 64-65. Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, quyển XXX (Nguỵ Tây), tr. 29.

[45] Trịnh Như Tấu. Trịnh Gia Chính Phả (Hà Nội, 1934) tr. 99-100. Đây là bản dịch, không phải bản gốc.

[46] Trịnh Như Tấu. Trịnh Gia Chính Phả (Hà Nội, 1934) tr. 99-101.