“Dạ Hương có làn da ngăm, bóng sắc hơi lu chìm nhưng dưới ánh đèn, cô vẫn nổi bật ở nét khiêm tốn, dịu hiền”

(Nhà văn Hồ Trường An)

“Dạ Hương hát như chính lòng mình đang thổn thức, đang ấp ủ. Những cuộc tình dang dở, chia lìa, những hò hẹn mau quên, những giấc mơ lỡ nhịp, những gặp gỡ cách ngăn, muộn màng. Dạ Hương như đắm mình vào một vũng lội không lối thoát, càng ngày càng chới với, vết tích của mối tình cũ còn đó, tuy chưa quên nhưng hơi hướm vẫn đâu đó trong không gian nàng thở dù người tình đã xa, đã mất vĩnh viễn và cách ngăn đã xây kín tâm hồn nàng”

(Nhà văn Xuân Vũ)

“Ca sĩ Dạ Hương, người có dáng vẻ bên ngoài thật bình dị, nhưng giọng hát lại toát ra được một vẻ cao sang, dù những ca khúc cô chọn trình bày thường thuộc thể loại nhạc vàng đại chúng”

(Ký giả Ngọc Hoài Phương)

“Nhắc đến Dạ Hương, Thúy không tránh nổi sự xúc động bùi ngùi. Có ai đó nói Dạ Hương không đẹp, điều đó không đúng. Đối với Thúy, cô ấy xinh xắn và duyên dáng lắm. Nhìn Dạ Hương đứng hát dưới ánh đèn màu của Queen Bee và Quốc Tế những năm 70 đến 75, Thúy vẫn nhớ mãi cái bóng dáng dịu hiền của cô ấy. Dạ Hương rất có tài, rất ngoan nhưng không hiểu sao cuộc đời cô lại gặp cảnh sóng gió ba đào khổ quá”

(Ca sĩ Thanh Thúy)

“Ngày đó có hai ca sĩ tôi chuẩn bị giới thiệu, đó là Hương Lan và Dạ Hương. Nhưng đất nước thời ly loạn, mọi sự đều theo vận nước nổi trôi, ly tán. Ai còn, ai mất, ai thành, ai bại đều theo vận nước.

Năm 1981, tôi đưa cho Kim Anh cuốn băng Shotguns mới nhất chưa kịp phát hành với tiếng hát Dạ Hương. Nhờ nhiều bài hay và giọng ca hay, Kim Anh tập hát theo và được nhanh chóng nổi tiếng. Theo thiển ý của tôi, muốn trở thành danh ca phải có thực tài và may mắn. Dạ Hương là người ca sĩ có tài nhưng thiếu may mắn. Âu cuộc đời này, thành bại một phần cũng do số mệnh”

(Nhạc sĩ Ngọc Chánh)

“Dạ Hương rất lấy làm vui sướng khi được đóng góp vào ngân khoản chi tiêu của gia đình hàng tháng một số tiền không lớn lao gì, nhưng ít ra cũng giúp cho cuộc sống của ba má và các em được dễ thở hơn. Hàng tháng kiếm được bao nhiêu tiền, em đều đưa cho má hết rồi sau đó muốn mua sắm gì thì xin lại”

(Ca sĩ Dạ Hương, 1972)

*****

Ca sĩ Dạ Hương

Ca sĩ Dạ Hương (1951-2009) sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, cha là công chức, mẹ ngày trước cũng từng hát lễ ở nhà thờ và là chị cả của một bầy em nhỏ. Say mê ca hát từ những ngày tuổi còn rất nhỏ và khi đã trình bày trôi chảy được một số nhạc phẩm, Dạ Hương được một nhạc sĩ giới thiệu đi hát ở một phòng trà nho nhỏ (cũng là nơi anh chơi nhạc hằng đêm) ở gần cầu chữ Y với nghệ danh Thùy Phương. Nhưng chỉ hát được mấy tháng thì biến cố Tết Mậu Thân xảy ra, Dạ Hương phải tạm rời xa ánh đèn sân khấu. Sau đó, Dạ Hương may mắn được ông bầu Duy Ngọc mời đi hát cho chương trình đại nhạc hội và đặt lại nghệ danh là Hoàng Anh vì giọng ca này phảng phất tiếng hát của ca sĩ Hoàng Oanh. Khi bắt đầu được chú ý, Dạ Hương được cộng tác với ban văn nghệ Quang Trung, Biệt khu thủ đô (Cục Chính Huấn) trên đường Lê Văn Duyệt và thường đi trình diễn ở các tỉnh lỵ xa xôi thuộc vùng I và vùng II, phía nam vĩ tuyến 17.

Đầu thập niên 70, con đường ca hát của Dạ Hương bắt đầu được khởi sắc khi được vài ba phòng trà, vũ trường chú ý như Travaco, Đêm Mầu Hồng, Mini Club, Olympia .. và nhất là được nhạc sĩ Lê Văn Thiện nhận làm học trò. Cuối năm 1970, Dạ Hương được mời hát ở những giờ đầu tại phòng trà Queen Bee với ban nhạc Shotguns của nhạc sĩ Ngọc Chánh.

Vốn nổi tiếng trong giới “showbiz” là một ông bầu thích tìm tòi, khám phá những tài năng mới, nhạc sĩ Ngọc Chánh nhận thấy giọng ca của Dạ Hương có nhiều triễn vọng và quyết định đưa tiếng hát mới mẻ này vào những tác phẩm băng nhạc Shotguns do ông chủ xướng. Thuở đó, ai cũng biết băng nhạc Shotguns là một “nhãn hiệu cầu chứng” vì quy tụ được những giọng ca đắt giá như Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly, Thanh Thúy, Sĩ Phú, v.v.. Nhạc sĩ Ngọc Chánh cũng đặt cho Hoàng Anh nghệ danh mới là Dạ Hương như một lời khuyến khích, hãy đi lên bằng tài năng của riêng mình chớ không phải dựa dẫm vào một tiếng hát đã thành danh hay một ngôi sao đã được định hình. Ca sĩ Thanh Thúy cũng ưu ái mang tiếng hát này giới thiệu trong những cuốn băng nhạc do Thanh Thúy tuyển chọn.

Mùa Hè năm 1971, tên tuổi và hình ảnh của Dạ Hương bắt đầu xuất hiện rải rác trên trang kịch trường của một số nhật báo, tuần báo, tạp chí xuất bản ở Sài-Gòn. Mấy tay ký giả hay viết bài ca ngợi một nữ ca sĩ trẻ trung, vóc dáng nhỏ nhắn, bình dị như một nữ sinh nhưng sở hữu một giọng ca mượt mà, mộc mạc và đượm một nỗi ưu tư đằm thắm. Những nhạc phẩm như “Yêu một mình”, “Ngoại ô buồn”, “Hoa nở về đêm”, Bảy ngàn đêm góp lại”, “Bốn ngả đường quê hương”, “Cuộc tình đã mất”, “Hận Tha-La”, “Chiều làng em”, v.v.. qua tiếng hát Dạ Hương giống như nàng thiếu nữ được mặc lên người những tấm áo vừa vặn và trang nhã. Dạ Hương hát một cách tự nhiên, rõ chữ, rõ lời, chuyên chở tròn đầy cảm xúc và đặc biệt là “không lên gân” để bị ngút hơi ở đoạn cao trào như cách hát của một vài đàn chị đi trước.

Bài viết giới thiệu ca sĩ Dạ Hương trên tuần báo Kịch Ảnh, 1972

Chiến cuộc cứ nhập nhằng và tiếng súng vẫn vọng về đô thị mỗi ngày thêm gần nên hoạt động ở các vũ trường, phòng trà gặp phải nhiều giới hạn. Cuộc sống khó khăn và vật giá cứ gia tăng nên sinh hoạt âm nhạc như bị đứng chựng lại. Tiếng hát Dạ Hương chưa được khai thác đến nơi, đến chốn thì miền Nam Việt-Nam rơi vào tay giặc. Bao nhiêu ước mơ, hoài bão đành như những nhánh sông âm thầm trôi xuôi ra biển lớn.

Sau biến cố 30 tháng tư năm 1975, thỉnh thoảng Dạ Hương được đi hát chung (hát “chui”) với Duy Khánh, Nhật Trường, Hùng Cường, Anh Khoa, Ngọc Minh, v.v.. trong những chương trình ca nhạc tạp kỹ “bỏ túi” ở ngoại ô Sài-Gòn hay nơi miền lục tỉnh xa xôi. Có một thời gian ngắn, Dạ Hương nhận lời hát cho “Xí nghiệp quốc doanh đánh cá Chiến Thắng” nhưng vì cách đối xử cũng như lương bỗng bèo bọt đã không thể cầm chân và hơn thế nữa, tiếng hát này không thể phù hợp với những dòng nhạc “đỏ tươi” hừng hực lửa máu.

Là một tín đồ Công giáo nên Dạ Hương có dịp tham gia vào ca đoàn nhà thờ Nguyện Đường Thánh An Tôn (khu vực chợ Cầu Muối) và hát “solo” cho rất nhiều nhà thờ ở Sài-Gòn. May mắn thay, Dạ Hương được nhạc sĩ Viết Chung rước về ca đoàn Gioan thuộc giáo xứ Chợ Đũi là nơi ông làm ca trưởng. Từ đó, Dạ Hương chuyên tâm đi hát cho nhà thờ và thời gian còn lại thì làm thêm những công việc tay chân như rửa chén, phụ việc trong quán xá, lột vỏ hành tỏi, làm bánh da lợn bỏ mối để trang trải cho cuộc sống sống hàng ngày.

Nhạc sĩ Viết Chung đang điều khiển ca đoàn, bên trái là Dạ Hương, 1981

Như trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du có nhắc “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”, vận hạn đen đúa như cứ bám theo một giọng ca hay nhưng không gặp được may mắn. Dạ Hương mắc chứng bệnh ung thư quái ác, bào mòn sức khỏe, hành hạ thân xác và cướp đi một tiếng hát mượt mà, đằm thắm thắm. Một ngày kia, Dạ Hương ra đi bỏ lại chồng con cũng như lớp khán giả trong và ngoài nước đã một thời yêu thích tiếng hát của loài “hoa nở về đêm”. Dạ Hương không còn dịp nào để xuất hiện trên các đài truyền hình, góp tiếng trên đài truyền thanh hay trong băng nhựa. Tiếng chuông giáo đường cũng không giữ được một giọng hát ngân nga mến Chúa. Từ đây, hai bàn tay nhỏ nhắn đó không còn dịp để cầm lên chiếc microphone như ngày nào và cũng không còn bận rộn với cuộc sống mưu sinh vất vả. Dạ Hương đã đi xa, Dạ Hương đã trả hết nợ trần nhưng mùi hương đêm của Sài-Gòn một thuở hình như vẫn còn lưu luyến chốn này. Tiếng hát cũ còn vang lên trong trẻo từ những cuốn băng thu thanh đã rất lâu mà người xưa đã biền biệt như bóng chim tăm cá ..

“Và một mình tôi chép dòng tâm tình

Tặng người chưa biết một lần

Vì trong phút ấy tôi tìm mình thì thầm

Giờ đã gặp được một nụ hoa nở về đêm” (*)

Bìa tờ nhạc “Hoa nở về đêm” của nhạc sĩ Mạnh Phát, 1962

TV, 19.10.2026

(*) Lời ca trong “Hoa nở về đêm” của nhạc sĩ Mạnh Phát