Petrus Trương Vĩnh Ký (1837–1898): Sao họ không dám nhìn vào sự thật
Nguyen Dao
(Nguồn: FB Nguyen Dao)
Đã là con người, bất kể ai, khi hiện hữu trên cõi đời này đều mang trên mình những món nợ ân tình.
Đó là ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ; ơn của Đấng Tạo hóa đã gìn giữ vòng vận hành của vũ trụ; ơn của những người từng nâng đỡ đời mình; và lớn hơn cả, là ơn của những bậc tiền nhân đã dày công đặt nền móng để hậu thế được thừa hưởng thành quả hôm nay.
Trong số những đại ân nhân của dân tộc Việt Nam, có một cái tên không thể không nhắc đến: Petrus Trương Vĩnh Ký.
Nếu chữ Quốc ngữ là cánh cửa mở ra ánh sáng tri thức cho dân tộc Việt Nam, thì Trương Vĩnh Ký chính là một trong những người có công lớn nhất trong việc khai mở, vun bồi và phổ biến để mở ra tri thức ấy. Ông là người tiếp nối và phát triển công trình tạo tác, khởi dựng từ các giáo sĩ Công giáo hơn hai thế kỷ trước, đưa thứ chữ viết từng bị phủ bụi ấy trở thành công cụ khai dân trí, chấn dân khí, mở đường cho tiến trình hiện đại hóa dân tộc.
Ấy vậy mà, trước sự thật lịch sử hiển nhiên ấy, vẫn có những người cố tình quay lưng, hoặc không dám nhìn thẳng vào sự thật.
1. Lịch sử không thể bị xóa bằng định kiến
Trước năm 1975, tại miền Nam Việt Nam, công trạng của Petrus Trương Vĩnh Ký được ghi nhận công khai và trân trọng.
Tên ông hiện diện trên những con đường lớn, trường học danh tiếng, bến xe trung tâm Sài Gòn; tượng của ông được đặt ở vị trí trang trọng; lăng mộ được chăm sóc chu đáo; tư liệu, di cảo của ông được lưu giữ cẩn trọng. Đó là một thực tế lịch sử.
Sau năm 1975, chữ Quốc ngữ vẫn tiếp tục được sử dụng như huyết mạch của đời sống tri thức dân tộc, nhưng những gì gắn liền với tên tuổi Trương Vĩnh Ký lại dần biến mất khỏi ký ức công cộng.
Một dân tộc trưởng thành phải biết phân biệt giữa đánh giá lịch sử bằng tư liệu và phán xét lịch sử ngoài định kiến. Không thể vì những hệ quy chiếu chính trị nhất thời mà phủ nhận công lao của một con người đã để lại ảnh hưởng lâu dài cho cả dân tộc.


2. Một đời tận hiến tri thức cho dân tộc
Petrus Trương Vĩnh Ký để lại câu nói bất hủ được khắc trên lối vào lăng mộ của ông “Tri thức là nguồn sống.” Đó không chỉ là một lời nhắn gửi, mà là triết lý sống ông đã theo đuổi trọn đời.
Hơn nửa cuộc đời mình – 33 năm trong tổng số 61 năm ông sống, luôn miệt mài với việc truyền bá chữ Quốc ngữ và phổ biến tri thức.
Ông làm thầy giáo suốt 22 năm kể từ năm 1864; từng giữ chức Giám đốc Trường Sư phạm; biên soạn khoảng 25 cuốn sách giáo khoa; tham gia giảng dạy Quốc văn, Hán văn, Pháp văn; làm thông ngôn, biên khảo, dịch thuật, làm báo, viết từ điển.
Ông để lại ít nhất 119 tác phẩm còn lưu giữ trong nước, cùng hơn 220 công trình hiện được lưu giữ ở nước ngoài.
Khối lượng lao động học thuật đồ sộ ấy trải rộng trên nhiều lĩnh vực: ngôn ngữ học, từ điển học, lịch sử, địa lý, pháp luật, dân tộc học, kinh tế, chính trị, sinh học và văn học.
Trong quỹ thời gian hữu hạn của một đời người, thử hỏi còn bao nhiêu thời gian để ông làm những điều mà “khác phe” cố tình gán ghép?
3. Người đặt nền móng cho chữ Quốc ngữ hiện đại
Công lao lớn nhất của Petrus Trương Vĩnh Ký không nằm ở việc “sáng chế” chữ Quốc ngữ, mà ở việc chuẩn hóa, hệ thống hóa, phổ biến và đưa chữ Quốc ngữ vào đời sống học thuật, giáo dục và báo chí.
Ông là người Việt đầu tiên dạy chữ Quốc ngữ một cách bài bản. Ông biên soạn những cuốn giáo Khoa đầu tiên bằng Quốc ngữ, đặt nền móng cho văn phạm, chính tả và cách diễn đạt hiện đại.
Trong lời tựa cuốn Ngữ pháp tiếng Annam, ông viết:
“Sách này để cho con trẻ mới vô trường, học những điều đại lược mà phá ngu…”
Một câu văn giản dị nhưng hàm chứa cả khát vọng khai dân trí.
Nếu chữ Quốc ngữ hôm nay trở thành phương tiện kết nối hơn trăm triệu người Việt, thì Trương Vĩnh Ký xứng đáng được xem là một bậc “Tiền hiền” khai khẩn chữ Quốc ngữ chẳng còn ai khác nữa.
4. Ông tổ báo chí Quốc ngữ Việt Nam
Ngày 15/4/1865, tại Sài Gòn, Gia Định Báo ra đời — tờ báo đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ.
Petrus Trương Vĩnh Ký là linh hồn học thuật của tờ báo ấy.
Đây là cột mốc không thể phủ nhận trong lịch sử báo chí Việt Nam.
Bởi vậy, việc cố tình bỏ qua vai trò tiên phong của ông để dựng nên những diễn giải lịch sử khác mang màu sắc chính trị chẳng khác nào phủ nhận sự thật hiển nhiên đã được văn bản và tư liệu xác nhận.
5. Một trí tuệ kiệt xuất của thế kỷ XIX
Petrus Trương Vĩnh Ký thông thạo nhiều ngôn ngữ, có kiến thức uyên bác trải rộng cả khoa học xã hội lẫn khoa học tự nhiên.
Ông được giới học thuật quốc tế đánh giá cao, từng là thành viên của nhiều hội khoa học nước ngoài.
Ông là nhà bác học duy nhất ở Đông Dương cộng luôn và, thêm cả Trung Quốc nữa ở thời điểm đó, một trí tuệ kiệt xuất, một bộ óc lớn nhất của Việt Nam; Ở tầm vóc học thuật, ông không chỉ là niềm tự hào của Nam Kỳ, mà là một trong những trí thức lớn nhất của Việt Nam thế kỷ XIX.
Ông là nhịp cầu hiếm hoi nối liền văn hóa Đông – Tây trong một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Hình ảnh chỉ thấy ở ông, một con người Việt Nam tiêu biểu mà lúc nào cũng xuất hiện với trang phục khăn đóng áo dài dân tộc, không thấy bao giờ mặc đồ Tây hay đồ đại cán từ bên Tàu.
Trong khi nhiều người chỉ nhìn lịch sử qua lăng kính đối kháng ý thức hệ, Trương Vĩnh Ký chọn tri thức làm con đường khai hóa.


***
6. Vấn đề không phải là lịch sử, mà là sự can đảm đối diện lịch sử
Có những người vì định kiến chính trị mà tìm mọi cách phủ nhận công lao của Trương Vĩnh Ký. Họ quên rằng: chữ Quốc ngữ mà họ đang dùng để phê phán ông, chính là thành quả lớn lao mà ông đã góp phần vun đắp. Đó là nghịch lý lớn nhất.
Người ta có thể tranh luận về lựa chọn cá nhân của một nhân vật lịch sử trong bối cảnh thời đại phức tạp.
Nhưng tranh luận không đồng nghĩa với phủ nhận.
Phê phán không đồng nghĩa với xóa bỏ. Và càng không thể vì định kiến mà phủ bóng đen lên toàn bộ di sản của một con người.
7. Khi lịch sử bị xét xử bởi ý thức hệ
Điều đáng buồn là hơn một thế kỷ sau ngày Petrus Trương Vĩnh Ký qua đời, vẫn có những người tiếp tục đem ông ra xét xử không phải bằng tư liệu, mà bằng lăng kính ý thức hệ. Ở đó, công lao hay tội lỗi của một con người không còn được đo bằng những gì họ thực sự làm cho dân tộc, mà bị quy chiếu đơn giản bởi vài nhãn dán: ông thuộc miền nào, sống dưới chế độ nào, làm việc trong bối cảnh nào, có niềm tin tôn giáo gì. Đó không phải là nghiên cứu lịch sử. Đó là áp đặt lịch sử.
Có một thực tế khó phủ nhận: trước năm 1975, miền Nam Việt Nam ghi nhận và trân trọng công lao của Petrus Trương Vĩnh Ký một cách công khai trân quý, bằng tên đường, trường học, tượng đài, lăng mộ và hệ thống tư liệu được bảo tồn nghiêm cẩn.
Sau năm 1975, chữ Quốc ngữ — thành quả mà ông góp phần vun bồi vẫn được sử dụng mỗi ngày; nhưng tên tuổi và công trạng của ông lại dần bị đẩy ra ngoài đời sống công cộng. Nghịch lý ấy nói lên điều gì?
Phải chăng ở đây tồn tại một kiểu “xét lại lịch sử” dựa trên tâm thế của bên thắng cuộc, nơi mà giá trị của một nhân vật không còn được cân đo bằng sự đóng góp thực tế cho dân tộc, mà theo hệ quy chiếu chính trị của đảng?
Lịch sử dân tộc không thể bị chia cắt theo vĩ tuyến. Công lao của tiền nhân cũng không thể bị định giá bằng hộ khẩu vùng miền. Một trí thức lớn sinh ra ở miền Nam không vì thế mà bớt đi giá trị đối với cả dân tộc.
Cũng như chữ Quốc ngữ không phải di sản của riêng Nam Kỳ, Bắc Kỳ hay Trung Kỳ, mà là tài sản chung của toàn thể người Việt.
Điều đáng nói hơn cả là: nhiều người lên án Trương Vĩnh Ký trong khi hằng ngày vẫn sử dụng chính thứ chữ mà ông góp phần chuẩn hóa, phổ biến và hoàn thiện. Đó là một sự mâu thuẫn khó biện minh.
Không ai buộc lịch sử phải tuyệt đối hóa một con người.
Nhưng lịch sử càng không được phép vì định kiến chính trị mà phủ nhận những công lao hiển hiện.
Nếu một dân tộc chỉ biết tri ân những người “đúng phe”, mà quay lưng với những người “ngoài phe” dù có công thật sự, thì đó chưa phải là sự trưởng thành lịch sử. Đó chỉ là biểu hiện của một kiểu ký ức bị chi phối bởi định kiến.
Lịch sử rồi sẽ tự sàng lọc.
Những lớp bụi chính trị nhất thời rồi sẽ tan đi. Và khi ấy, sự thật vẫn còn đó: Petrus Trương Vĩnh Ký là một trong những người có công lớn đối với tiến trình khai mở tri thức dân tộc qua chữ Quốc ngữ.
Sự thật ấy, dù có ai cố tình né tránh, cũng không thể xóa nhòa.
8. Một dân tộc trưởng thành là một dân tộc biết tri ân đúng
Lịch sử không cần những cái đầu chỉ biết cúi xuống để tung hô, cũng không cần những ánh mắt chỉ biết nhìn quá khứ bằng “hình viên đạn” đầy thành kiến. Lịch sử cần sự công bằng. Cần những con người đủ can đảm nhìn thẳng vào sự thật. Một dân tộc chỉ thật sự trưởng thành khi biết tri ân đúng người, đúng công lao, đúng sự thật.
Với dân tộc Việt Nam, Petrus Trương Vĩnh Ký là một trong những con người như thế.
Ông đã đi xa hơn một thế kỷ, không mang theo gì cho riêng mình, nhưng để lại tất cả cho hậu thế một di sản vô giá.
Và chừng nào người Việt còn viết, còn đọc, còn tư duy bằng chữ Quốc ngữ, thì chừng ấy tên tuổi Petrus Trương Vĩnh Ký vẫn còn sống mãi. Bởi có những công lao, lịch sử có thể bị che khuất một thời, nhưng không bao giờ có thể bị xóa bỏ.


