Xin giới thiệu 2 chương (trang 97-106) trong quyển Hồi ức của thầy Nguyễn thanh Liêm có liên quan đến trường Petrus Ký. Quyển sách này do nhà Hương Quê ấn hành và xuất bản năm 2016 tại San Jose, CA. Xin cám ơn bà quả phụ Nguyễn thanh Liêm (Dược sĩ Nguyễn thị Phương) đã gởi tặng (18-7-2020).

Võ Phi Hùng, PK 67-74


VÀO TRUNG HỌC PETRUS KÝ

Ít lâu sau Ba tôi tìm được việc làm ở một công sở Pháp. Tuy chỉ là thơ ký công nhật nhưng cũng có chút ít tiền lương cho gia đình. Ba tôi vẫn phải ở nhà người cậu bà con chớ chưa đủ sức ở riêng. Dù vậy, Má tôi vẫn muốn tôi đi học lại. Tôi xin nghỉ dạy ở Phật Ấn để lên Saigon học. Má tôi gởi tôi cho một người bà con mà tôi gọi là Dì Dượng Bảy, có nhà ở đường Ngô Quyền, Chợ Lớn. Dì Dượng Bảy rất giàu, có xe nhà, có tài xế, có nhiều người làm, nhiều bà xẩm nuôi mấy em nhỏ. Tôi ở đây vừa đi học, vừa dạy thêm cho mấy đứa em đang học Cinquième và Sixième trường Pháp. Ông Dượng của tôi rất đặc biệt. Ông giao thiệp rộng, quen biết với nhiều nhân vật có máu mặt lúc bấy giờ, từ Thủ Tướng Tâm, đến Bảy Viễn, đến giáo sư Bê, giáo sư Côn, v.v… Hình như ai có chức vụ, có quyền thế lúc bấy giờ ông đều biết, và có vẻ rất thân chớ không phải chỉ biết qua loa. Nhà ở gần Đại Thế Giới nên ông thường có mặt ở đây hằng đêm. Có hôm ông rất hãnh diện nói với bà Dì: “Bà biết không? Bà làm gì có được số tiền như vậy trong một đêm?” Số tiền là bao nhiêu tôi không nghe nói, chỉ thấy hai ông bà tỏ vẻ rất vui.

Nhưng rồi cũng có đêm tôi thấy ông đi về nhà, nét mặt có vẻ khẩn trương lắm. Ông vào phòng mở tủ sắt lấy hộp nữ trang mang đi. Bà Dì níu ông lại, hai người dằn co hồi lâu ông mới ra đi được. Tôi dự đoán là ông thua to, nên mới về lấy nữ trang đem cầm lấy tiền, đánh bài tiếp. Tôi không biết ông đánh bài gì, ăn thua lớn lao như thế nào, nhưng cách ăn xài trong nhà thì lúc nào cũng thật là sang trọng. Thật ra không phải ông chỉ sống bằng nghề cờ bạc. Công việc chính của ông là công chức sở quan thuế. Ông lại biết tiếng Tàu, giao thiệp rất nhiều với giới Hoa Kiều. Nhà của ông ở đường Ngô Quyền, thuộc Chợ Lớn, ở giữa thành phố Tàu. Ngày xưa, trước 1945, gia đình ông ở nhà quê, không mấy khá. Có lúc ông đi làm công cho một tiệm bánh của người Hoa ở Mỹ Tho. Sau những biến cố lớn năm 1945, không biết cơ hội nào giúp ông phát tài nhanh chóng.

Trước kia nghèo khó bao nhiêu thì bây giờ sang trọng bấy nhiêu. Nhà có xe Vedette mới toanh, có tài xế đưa đón mấy đứa con học trường Pháp. Nhà có hai ba người làm, có mấy bà xẩm nuôi mấy đứa nhỏ, mỗi đứa có một bà chăm sóc lo lắng cho nó. Mấy bà xẩm này rất độc tài. Họ muốn cho đứa nhỏ ăn gì học cho, dì Bảy không chen vào. Tôi thấy ngày nào bà xẩm này cũng cho con Dung (chỉ mới hai tuổi) ăn cơm với xá xíu, trong khi bà xẩm kia thì cho con Thu (độ ba tuổi hơn) ăn toàn thịt gà với cơm. Con Dung đau thay vì đi bác sĩ chữa trị thì bà xẩm cho nó uống cái gì đó do bà làm ra. Hình như Dượng Bảy giao trọn mấy đứa nhỏ cho hai bà xẩm, không cần biết họ làm gì, lo gì cho mấy đứa nhỏ. Tôi rất không bằng lòng với lối nuôi con của hai bà xẩm, nhưng không nói gì được vì Dì Dượng tôi đã tin trọn vào họ. Giàu có lắm nhưng ông bà không lên mặt, không phách lối, không hách dịch với ai. Trái lại hai ông bà rất tử tế với mọi người, nhất là đối với bà con ở nhà quê lên chơi. Đặc biệt đối với gia đình tôi, dù trong tình trạng sa cơ thất thế, vẫn được hai ông bà thương mến, nể trọng.

Nhờ có sự quen biết của ông Dượng, tôi xin chuyển trường về Petrus Ký và được chấp thuận dễ dàng. Tôi vào học lại lớp Première ở trường này từ giữa niên khóa 1953-54. Từ Collège Le Myre de Vilers Mỹ Tho, một trường hơi nhà quê ở một tỉnh nhỏ, vào ngôi trường đồ sộ nằm giữa hai thành phố văn minh Saigon, Chợ Lớn, tôi thấy hơi choáng váng. Petrus Ký (PK) rộng lớn quá so với Le Myre de Vilers.

Và nhất là không khí trang nghiêm ở đây khiến tôi vô cùng kính sợ. Ở Mỹ Tho lâu lâu mới thấy Thầy Hiệu Trưởng, và Thầy xuất hiện bình thường như những ông Thầy khác, không có gì đáng sợ. Ở Mỹ Tho khi cổng trường mở ra thì học sinh cứ đi thẳng vào trước lớp mình, chờ tới khi có tiếng chuông reo thì đứng sắp hàng ngay ngắn, đợi giáo sư tới ra hiệu thì vào lớp, đứng yên đó cho đến khi có phép của giáo sư mới ngồi xuống.

Ở Petrus Ký thì học sinh vào trường phải đứng xếp hàng ngay ngắn, dưới sự hướng dẫn/kiểm soát của quý vị giám thị, ở trên một con đường có những cây sao cao nghệu, bên hông trường, ở giữa nhà để xe đạp của học sinh và các dãy lớp học.

Gần tới giờ quý vị giám thị ra lệnh cho học sinh vào bên trong trường. Vừa qua cổng bên trong học sinh thấy ngay Ông Hiệu Trưởng, Thầy Giám Học và Thầy Tổng Giám Thị, nghiêm trang đứng giữa hành lang chính (préau) của trường. Dưới sự hướng dẫn/kiểm soát của quý vị giám thị, học sinh nghiêm chỉnh đi vào đứng trước lớp mình, xếp thành hàng ngay ngắn, không giỡn hớt, không nói chuyện, không làm mất trật tự. Tới giờ, có tiếng chuông reo, quý vị giáo sư từ phòng giáo sư đi đến lớp ra lệnh cho học sinh vào lớp. Khi tất cả các lớp học đã vào phòng học rồi thì ban Giám Đốc mới rời hành lang trở về văn phòng mình làm việc. Hiệu Trưởng năm này là giáo sư Phạm Văn Còn. Ông là người ít nói, hết sức chậm rãi nghiêm trang, học trò rất nể sợ. Ông luôn luôn mang cravate, quần áo chỉnh tề, đi đứng, dáng dấp uy nghi.

Dù là vào học giữa năm, việc học hành của tôi cũng rất suông sẻ, không gặp trở ngại gì. Nhưng số tôi vẫn còn lận đận. Vì không có ghi tên học PMS, lớp quân sự học đường, nên tôi không được thi Tú Tài I năm đó. Năm sau tôi phải ghi tên học PMS mới được dự thi. Đậu xong Tú Tài I, niên khoá 1955-56 tôi vào học lớp Philosophie (Đệ Nhất ban Triết, chương trình Pháp). Năm học này có nhiều chuyện đặc biệt xảy ra ở trường. Chương trình Pháp bắt đầu nhường chỗ cho chương trình Việt. Học sinh Đệ Thất bắt đầu học chương trình mới. Tổ chức Hiệu Đoàn lần đầu tiên được thiết lập ở đây. Tôi được các bạn trong lớp bầu làm Trưởng Lớp. Ông Thầy Pháp, giáo sư Dufeil (giáo sư Sử Địa rất nổi tiếng) mới từ Pháp sang, thường gọi tôi Mr. Le Chef de Classe. Giáo sư Dufeil dạy hay lắm, nhưng có lối nói cũng như cách cư xử hơi khác lạ hơn mọi người. Ông rất vui vẻ, xông xáo chớ không nghiêm nghị như các giáo sư khác. Vừa đặt chân vào lớp là đã rối rít khen nước mắm Việt Nam ngon lắm và có nhiều chất bổ.

Ông cũng mạnh dạn bảo Việt Nam chưa hề có địa lý, trước sự ngạc nhiên của mọi người. Rồi ông chứng minh cho thấy các sách địa lý ở Việt Nam từ trước đến giờ không được nghiên cứu, soạn thảo một cách chính chắn, không theo đúng phương pháp khoa học địa lý. Ông chỉ dạy học sinh một cách làm dàn bài rất độc đáo, không giống ai cả, nhưng lại rất hợp lý và dễ nhớ. Ít lâu sau giáo sư Dufeil lên dạy môn địa lý ở Đại Học Văn Khoa Saigon, rất được nhiều người nể phục. Bà Tiến Sĩ Tiếng, giáo sư Vạn Vật cũng hay nói đến chef de classe khi muốn tôi làm chuyện gì đó cho bà hay cho lớp học. Giáo sư tiến sĩ Tiếng sau này dạy ở Đại Học Khoa Học Saigon, rất được học trò thương mến, kính nể. Giáo sư Anh Văn là Thầy Phạm Văn Thuật, ăn mặc chải chuốt, lái xe simca mới toanh. Thầy rất bảnh trai và rất dễ thương. Có lúc Thầy về làm Tổng Giám Đốc Tổng Nha Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục thay Thầy Phạm Văn Lược về hưu. Thầy là một trong hai vị Thầy lớn tuổi của hội Ái Hữu cựu học sinh Petrus Ký ở Nam California. Thầy mới mất khoảng 10 năm nay trước sự vô cùng thương tiếc của anh em Petrus Ký.

Dạy Luận Lý (Logique) và Đạo Đức (Morale) là Thầy Nguyễn Bá Cường. Thầy hói tóc, hói nhiều lắm, đầu láng bóng, đi chậm chậm, nói năng cũng chầm chậm, và rất hiền. Thầy dạy Lý Hoá là giáo sư Hoàng Cơ Nghị, rất oai nghiêm. Thầy cũng là giáo sư bên Đại Học Khoa Học. Thầy có vợ đầm và lúc này đang tạm trú trong một gian phòng của trường ở trên lầu. Nửa năm đầu chúng tôi học với giáo sư Ricaud từ trường Chasseloup Laubat sang dạy môn Tâm Lý và Siêu Hình học (Psychologie và Métaphysique). Vì thời khoá biểu của ông bên Chasseloup cũng đầy lắm nên tụi này phải học với ông vào buổi trưa từ 12 giờ đến 2 giờ. Đây là giờ đói bụng và dễ buồn ngủ nhất, lại phải nghe ông giảng thao thao bất tuyệt về philosophy, métaphysique để nhập môn vào tâm lý học, nhiều người không thấy thích thú, không tiếp nhận được bao nhiêu. Riêng tôi thì rất thích những bài giảng tràng giang đại hải của ông.

Tôi mê theo những thuyết giảng của ông từ vũ trụ mênh mông, sự tiến hoá của vũ trụ, loài người, đến tâm hồn người. Từ ý thức (conscience) đến nội quan (introspection) ông say sưa thuyết giảng không ngừng nghỉ. Tôi rất thích lối dạy của ông. Nhưng từ nửa năm sau thì một ông thạc sĩ Triết từ Pháp sang thay cho giáo sư Ricaud. Ông này có vẻ gần với khoa học thực nghiệm hơn. Khi dạy về sensation (cảm giác), ông mang cánh tay giả trong phòng thí nghiệm ra chỉ dẫn giống như một giáo sư sinh vật học. Ông giải thích chậm chậm không khác một giáo sư vạn vật. Có thể có nhiều người thích vì dễ học, nhưng tôi thì không thích mấy, tôi thích lối giảng bài của giáo sư Ricaud hơn.

TRƯỞNG LỚP PETRUS KÝ

Từ Trưởng Lớp Philosophie tôi lại được bầu làm đại diện cho các học sinh toàn trường Petrus Ký. Đây là lần đầu tiên học sinh Petrus Ký có ban đại diện toàn trường do các trưởng lớp bầu ra. Toàn ban đại diện gồm:

• Trưởng Ban: anh Nguyễn Thanh Liêm (lớp Philosophie)

• Phó Trưởng Ban: anh Nguyễn Thanh Vân (lớp Première)

• Tổng Thơ Ký: anh Lại Thanh Tòng (lớp Second)

• Thủ Quỹ: chị Phan Huệ Chi (lớp Philo)

• Cùng một số uỷ viên khác.

Sau khi thành hình, ban đại diện được trường chánh thức công nhận, và bắt đầu làm việc ngay. Chúng tôi hội họp liên miên, chuẩn bị thực hiện một dự án quan trọng là tổ chức một đêm văn nghệ do anh em Petrus Ký (PK) trình diễn, để gây quỹ cho Thư Viện của trường. Anh em được động viên vào các ban nhạc, ban vũ, ban kịch, tập dượt ráo riết để trình diễn cho ăn khách. Buổi trình diễn diễn ra tốt đẹp, đem lại một thành tích đáng ghi cho Ban Đại Diện và anh em văn nghệ sĩ PK.

Gần ngày 9 tháng Giêng, ngày Trần Văn Ơn bị bắn chết trong cuộc biểu tình trước dinh Gia Long hồi năm xưa, một ít anh em đi rỉ tai cổ động anh em mặc đồ trắng vào ngày đó để tưởng niệm TVƠ. Ban đại diện không chánh thức ủng hộ việc này nhưng cũng không phản đối. Đến ngày 9 tháng Giêng chỉ có một số rất ít anh em, của các lớp Đệ Nhị Cấp mặc đồ trắng theo lời kêu gọi. Về biến cố Trần Văn Ơn, sách “Trường Trung Học Petrus Ký và Nền Giáo Dục Phổ Thông Việt Nam” của Nguyễn Thanh Liêm kể lại như sau:

“Dưới thời Thủ Tướng Trần Văn Hữu các cuộc biểu tình chống chánh phủ thường xảy ra. Một số học sinh Petrus Ký có tham dự các cuộc biểu tình này. Trong một cuộc biểu tình lớn vào ngày 9 tháng giêng năm 1950 đoàn biểu tình đã đến bao vây dinh Thủ Tướng (dinh Gia Long), một số leo qua rào và vào được bên trong sân. Theo lời thuật của giáo sư Lưu Khôn thì có cả các nữ sinh tham dự. Một số các cô tham dự biểu tình, một số khác thì mang bánh mì, đồ ăn tới để yểm trợ cuộc biểu tình. Một ít nữ sinh cũng đã vào được bên trong vòng rào nhờ các nam sinh đỡ họ vào. Hôm đó Đại Tá Nguyễn Văn Ánh và anh bạn Trần Văn Ơn cũng từ nhà đi lại thư viện học như thường bữa. Đi tới dinh Gia Long hai người gặp cuộc biểu tình.

Hai người dừng lại đi vào đám biểu tình để xem vì hiếu kỳ nhiều hơn là vì mục đích chính trị. Bỗng nhiên khoảng 11 giờ sáng, quân canh phòng đóng ở trong khám lớn (gần dinh Gia Long) tuôn ra đàn áp biểu tình. Họ dùng dùi cui để giải tán biểu tình, nhưng có người nói là có nghe tiếng súng nổ nữa. Đoàn biểu tình chạy tán loạn. Một vài người bị chết vì cuộc đàn áp, trong số đó có Trần Văn Ơn. Nhưng những người biểu tình chỉ dành được xác của Trần Văn Ơn: họ đem xác anh về nhà thương Nam Việt (tức bệnh viện Chợ Rẫy) để tẩm liệm và quàn tại đó. Một buổi lễ truy điệu đoàn người đưa đám tang di chuyển từ trường Petrus Ký đến nhà thương Nam Việt và từ đó đưa linh cửu Trần Văn Ơn đến nghĩa trang gần sân vận động Thống Nhất. Tham dự đám tang Trần Văn Ơn có đủ các hạng người, kể cả những người đạp xích lô, những người buôn gánh bán bưng, phái đoàn học sinh ở Mỹ Tho, và Cần Thơ, v v…

Theo nhiều người thì đám tang Trần Văn Ơn cũng lớn không thua gì đám tang cụ Phan Tây Hồ hồi năm 1926. Sau cái chết của Trần Văn Ơn trường Collège Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho bãi khoá dài dài đến hết niên khoá 1949-1950. Trần Văn Ơn sanh trưởng trong một gia đình nghèo khó, với một bà mẹ tảo tần buôn bán nuôi con ăn học. Bà mẹ có gánh xôi thường bán hằng ngày cho cho học sinh ở trường Cầu Kho. Anh Ơn rất hiếu học. Theo lời người bạn thân là Đại Tá Nguyễn Văn Ánh thì chưa có ai có tính hiếu học như anh. Khi giáo sư ra đầu đề để làm luận Pháp văn ông thường cho mỗi lớp một đầu đề khác. Trần Văn Ơn không những làm bài theo đầu đề của lớp mình mà còn làm cả bài theo đầu đề của lớp khác rồi mang cả hai đem nạp để xin giáo sư chấm giùm. Năm đó (niên khoá 1949-1950) trường thường bãi khoá, nhiều người đi học trường tư để lo thi.

Anh không có tiền học tư, anh phải đến đứng ở ngoài lớp học của trường tư để cố nghe lỏm, xong rồi mượn tập vở của mấy người bạn học ở đó để đem về chép lại mà học. Anh chỉ mong được học, được thi đậu, được đi làm việc để có đồng lương nuôi thân và giúp đỡ mẹ anh. Nhưng giấc mộng bình thường đó của anh đã không thành. Anh đã trở thành nạn nhân của thời cuộc và của những người làm chánh trị. Tên anh và ngày giỗ của anh sau này cũng bị người ta khai thác. Người ta nâng anh lên địa vị một anh hùng cách mạng, người ta đề cao tinh thần yêu nước của anh, người ta triệt để khai thác hành động “hành động”, “vùng dậy” chống sự kiềm kẹp của chính quyền của anh để kích động những người còn sống để thúc đẩy những người trẻ mạnh dạn đi theo con đường mà anh đã đi (theo như họ đã vẽ). Ngày 9 tháng giêng sau này thường được một số người khai thác theo kiểu đó.

Hết niên khoá 1955-1956 tôi tốt nghiệp Tú Tài II, đậu xong Tú Tài Toàn Phần Philo-sophie chương trình Pháp”