Nữ sinh Petrus Ký

Võ phi Hùng, PK 67-74

Trong quá trình đào tạo nhiều thế hệ học sinh để giúp ích cho đất nước, trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn cho đến năm 1975 hầu như chỉ được đa số quần chúng biết đến là ngôi trường trung học nổi tiếng dành riêng cho nam học sinh.  Hiếm người được biết một số nữ sinh có dịp vào học chung dưới mái trường này, và đã thành đạt để giúp ích cho bản thân, gia đình và xã hội.  Xem lại các chương trình phát thưởng của trường ngay từ những năm mới thành lập cho tới đầu năm 1960, các nữ sinh học tập rất chuyên cần, cùng sánh vai chia nhiều phần thưởng xuất sắc với các bạn học cùng lớp.  Trong một số đặc san, nhiều bài viết và hình ảnh của các cô đã được bạn học ghi nhận lại với nhiều kỷ niệm tốt đẹp và cảm tình trìu mến.  Sang đến những năm cuối thập niên 1960, trường Petrus Ký đã mở rộng cửa đón chào các học sinh lớp bán công với những lớp riêng biệt nam và nữ sinh học vào ban đêm.

NAM NỮ BÌNH QUYỀN VÀ SỰ VƯƠN LÊN CỦA CÁC NỮ SINH

Dưới thời Pháp thuộc, việc học vấn của các nữ sinh còn bị nhiều giới hạn hơn so với nam sinh do xã hội bên ngoài còn bị ảnh hưởng thủ cựu của Nho học và ràng buộc bên trong của gia đình. Việc nam nữ bình quyền ở Việt Nam qua sự giới thiệu củaTây phương đã được thảo luận sôi nổi trong báo chí, như trên tờ Phụ Nữ Tân Văn khởi sự từ đầu năm 1929 cho đến khi tờ báo bị đóng cửa năm 1932.  Ông Bùi Quang Chiêu, một người cự phú, làm báo, thủ lĩnh đảng Lập hiến, và người đã bỏ tiền đóng góp vào việc dựng nên trường Nữ Học Đường cho việc huấn luyện phái nữ làm người trong xã hội là một việc cần thiết, tuy nhiên lại cho rằng xã hội không cho có sự bình đẳng trên thực tế và không cần thiết để mở rộng cửa cho giới nữ lưu.[1]   Do sự đóng góp của đông đảo quần chúng với một phần nhỏ từ chánh quyền bảo hộ Pháp, Nữ Học Đường hay Trường Áo Tím (sau nay là trường Nữ Trung Học Gia Long) đã được khởi công xây dựng năm 1913 để khai giảng các lớp tiểu học (lớp 1-5) đầu tiên năm 1915, sang năm 1919 có quyết định thành lậpthêm bậc cao đẳng tiểu học (lớp 6 đến lớp 9), nhưng tới năm 1922 mới khai giảng,[2]  và mãi đến sau năm 1955 mới bắt đầu có các lớp đệ nhị cấp (lớp 10 – 12).  Nếu muốn tiếp tục học lên cao, các nữ sinh phải xin chuyển sang Lycée Petrus Ký học chung lớp với các nam sinh.  Việc chuyển trường chỉ hoàn toàn chấm dứt khi trường Gia Long có đủ ba ban A, B, C năm 1961.[3]  

Theo ghi nhận của niên trưởng (NT) Trần Văn Lắm (PK 1927-1934):[4]  

Sau khi được bằng thành chung (diplôme) nếu muốn tiếp tục học lớp tú tài Việt thì nữ học sinh phải xin qua trường Petrus Ký, chung với lớp bạn trai.  Đó là một quyết định không dễ, vì thời ấy còn quen e lệ, vì đạo đức xưa có dạy “Nam nữ thọ thọ bất tương thân”.  Vì lý do ấy mà chỉ có một số rất ít phụ nữ qua trường Petrus Ký

NT Trần Văn Lắm cũng cho biết thêm người nữ sinh đầu tiên ở trường Petrus Ký là cô Nguyễn thị Ngọc, sau đó cô du học bên Pháp và hành nghề Nha khoa.  Sự có mặt của các nữ sinh đã được ghi nhận từ niên khoá 1928-1929, theo NT Hải Hà khi “tôi có dịp đi qua dãy lớp dành cho ban tú tài phía trong, tôi thấy lớp 3ème secondaire học để thi tú tài phần II có 5 anh một chị.”[5]  Thầy Nguyễn Thanh Liêm trong quyển Trường trung học Petrus Ký, Nền giáo dục phổ thông Việt Nam có cùng tin về cô Nguyễn thị Ngọc, theo nguồn tin từ niên trưởng Võ Phi Hổ (PK 1929-1933) và Nguyễn Ngọc An (PK 1927-1930) cho biết thêm: [6]

Người phụ nữ khoá đầu tiên là bà Nguyễn thị Ngọc làm đốc học trường Tân Định.  Ba người kế đó là Dương thị Liễu, Trần thị Lành và Nguyễn thị Vàng.  Dương thị Liễu học tiếp ở Hà Nội lấy bằng dược sĩ và mở nhà thuốc tây Dương thị Liễu ở Chợ Cũ Sài Gòn.  Sau đó có bà Phan thị Liễu, cũng ra học tiếp ở Hà Nội, tốt nghiệp kỹ sư canh nông.  Bà Trần thị Tiếng, giáo sư dạy Vạn vật lớp Philo Petrus Ký và Đại Học Khoa Học cũng đã học ở Petrus Ký.  Bà Võ Kim Sơn, có bằng Ph. D. của Mỹ, hiện là giáo sư ở đại học Fullerton, cũng đã từng học lớp Philo ở trường Petrus Ký

Trong danh sách học sinh được phát thưởng ngay từ niên khoá 1930-1931, ta có thể thấy tên cô Công Tôn Nữ Hoà Đại (lớp 1re A, đệ nhị) được sự khen thưởng của hội đồng kỷ luật và cô Nguyễn thị Hoa (lớp 1re B, đệ nhị) được lãnh phần thưởng ưu hạng.[7] Lễ Phát thưởng năm 1960 cho lớp đệ I A1 có thấy tên 2 cô Vương thị Lành và Trần thị Thiên Hường được giải thưởng cho các môn Triết, Sử Ký và Vạn Vật. [8]  Cô Lành là một trong 5 học sinh toàn trường, trong đó có anh Lâm Vĩnh Thế, đậu bằng tú tài I ban A hạng Bình thứ (hạng cao nhứt) năm 1959.  Năm này việc thi cữ hãy còn khó khăn và chưa thấy có hạng cao hơn như bình, ưu hay tối ưu trong tình trạng lạm phát leo thang của các năm sau này.

THAM GIA SINH HOẠT HIỆU ĐOÀN

Chẳng những chuyên cần trong việc học, các cô còn tích cực tham gia vào sinh hoạt hiệu đoàn như cô Phan Huệ Chi của niên khoá 1955-1956, người cùng lớp Philo (ban Triết) với thầy Nguyễn Thanh Liêm, được bầu làm phó trưởng lớp, và làm chức thủ quỉ trong kỳ bầu cử đầu tiên cho ban đại diện trường.[10]  Trong vai trò này, cô Huệ Chi cùng các bạn học đã tổ chức một chương trình văn nghệ thật đặc sắc để gây quỉ.  Số tiền kiếm được sau đó đã được dùng vào việc thực hiện tờ báo Xuân của trường đầu tiên năm 1957.  Thêm vào đó, trong các công tác xã hội, theo NT Nguyễn Thanh Vân (PK 50-57), người học sau thầy Liêm một lớp và là phó trưởng ban đại diện trường, thì các cô đã cùng tham gia trong các chương trình cứu tế với học sinh trường bạn để trợ giúp đồng bào nạn nhân hoả hoạn gây nên bởi sự giao tranh giữa quân đội Quốc gia và lực lượng Bình Xuyên.

Trong quyển Trường trung học Petrus Ký [6], thầy Liêm thuật lại lời giáo sư Lưu Khôn, cho biết dưới thời thủ tướng Trần Văn Hữu vào những ngày đầu năm 1950, các nữ sinh cũng tham dự những cuộc biểu tình yêu cầu chánh phủ sử dụng tiếng Việt thay cho tiếng Pháp trong chương trình học, nhưng việc tranh đấu này chỉ thành tựu sau này vào năm 1955.

NHỮNG NỤ HOA HÀM TIẾU

Hình ảnh các nữ sinh Petrus Ký được phổ biến rất hiếm, và nay sau nhiều cố gắng tìm kiếm chỉ tìm thấy 11 tấm hình: với tấm xưa nhất là của niên khoá 1939-1940 (Hình 1), sang đến thập niên 1950 số hình có khá hơn với 7 tấm (Hình 2-8), và sau cùng của thập niên 1970 được 3 tấm của các nữ sinh bán công (Hình 9-11).  Xem hình các cô trong tà áo dài trông thật duyên dáng, và với nụ cười tươi như hoa đã thu hớp lòng biết bao người trai trẻ.  Có bức ảnh (Hình 6) cho ta thấy sự thân thiện giữa các bạn học sinh cùng lớp, và đặc biệt là sự nghịch phá của thầy Cam Duy Lễ.

Bài viết về kỷ niệm với các cô được ghi lại từ ngay những năm đầu 1927-1940 với NT Trần Văn Lắm và GS Trần Văn Khê, và trong những năm 1950 với GS Nguyễn Trung Quân, thầy Trần Thành Minh và thầy Lê Văn Đặng.  NT Trần Văn Lắm trong bài “Nhớ lại ngày xưa” đã thuật lại chi tiết khi hai cô bạn mới vào lóp học mặc áo dài tím, và ông miêu tả cách các cô đi đứng làm thu hút các anh.  Phản ứng của các nam sinh và sự tinh nghịch của ông Nguyễn Văn Trấn, người sau này nổi danh “hung thần chợ Đệm”, cũng đã được ghi nhận lại. [4]

Được đặc biệt để ý là hai chị áo tím vào Petrus Ký, lớp tú tài I năm 1931…

Ngày tựu trường, hai chị Dương thị Liễu và Nguyễn thị Vàng lượt thượt trong áo dài tím, xếp hàng vào lớp với đám trai.  Tất cả chúng tôi đều chăm chú nhìn hai chị như xem một cái gì quái lạ, chưa bao giờ được thấy tại trường.  Đến giờ chơi, nhiều bạn trai tôi xầm xì rằng “Hai chị này gan thật.  Phải có bản lảnh “ngon lành”mới dám qua trường nầy so tài với nam nhi”.  Có vài bạn khác lại nói “Hai chị này muốn múa búa trước cửa Lổ Bang”.

Xầm xì kéo dài cả tuần mới tan vào im lặng, cho đến khi trong các cuộc thi toán chị Liễu thường về đầu, và luận văn Pháp thì hai chị luôn luôn được xếp hạng ưu.

Có vài bạn của tôi giữ êm lặng, nhưng để ý vào lời ăn nói và đi đứng của hai chị thì khen là giọng nói thanh tao, tướng đi yểu điệu, thật đúng như người phụ nữ Việt Nam.  Nhưng có bạn lại không chia xẻ lời khen mà lại chê rằng phải chi hai chị cao hơn mới xứng với cái đẹp áo dài màu tím.

Nhưng có một sự kiện mà không ai nói ra:  các bạn trai cảm thấy e ngại, sợ mình học kém hơn hai chị thì mất mặt nam nhi, cho nên cố gắng lên, như được một men thúc đẩy họ học hành.

Chọc ghẹo và phá phách là đặc diểm của các bạn trai mà trường Petrus Ký cũng không tránh khỏi.  Một hôm ngoài giờ học thấy trên bản đen trong lớp có ai viết không biết:  “Je vous aime” (Tôi yêu nàng).  Một ngày khác có giấy bôi keo để ở băng ngồi của hai chị.  May cho hai chị thấy và vứt đi, nếu không thì đã bị dính ở quần áo.

Các lớp Vật lý được dạy ở giảng đường lớn của trường, băng đàng trước thấp hơn đàng sau.  Hai chị thường ngồi băng đàng trước.  Ngày kia anh Nguyễn Văn Trấn ngồi phía sau chị Vàng.  Anh rắn mắc đạp lên áo dài của chị.  Chị quay đầu lại và mắng “thằng quỷ””mà không giận.

Sau khi có Tú tài Việt, chị Liễu đi Hà Nội học Dược, còn chị Vàng đi dạy Pháp văn tại một trường trung học.  Cả hai đều được sự kính mến của các bạn cùng lớp tại Petrus Ký.

Giáo sư Trần Văn Khê trong bài “Ba năm học tú tài tại trường Petrus Ký (PK 1938-1940)” cho ta thấy ông là người quen biết và thân tình với nhiều cô, nên những câu trích đọc dưới đây không diển tà được hết mà cần phải đọc nguyên bài. [11]  GS Khê có cái nhìn rất chăm chú khi đặc biệt để ý đến một chị đi chân không, phải chăng đây là sự quyến rủ đặc biệt của người con gái chân trần ít mấy khi người con trai được thấy bên ngoài phố sá.

Đặc biệt nhất là khi lên ban tú tài là có thêm nữ sinh.  Các cô mặc áo dài, ở ngoại trú, mỗi khi đến trường hay ra về thường đi chung với nhau.  Học trò con trai thích nhìn các cô, thì thầm nhận xét hoặc chọc phá cho vui.  Các chị thấy các anh cũng hơi “rối lòng e thẹn”, làm bộ nói chuyện với nhau mà vẫn để ý coi các cậu con trai “phá””bằng cách nào.

… tôi để ý đến một chị có mái tóc rất đẹp, mặt có vẻ “liếng” mà đi chân không, trong khi các cô khác ai cũng mang giày dép hay ít nhất cũng có guốc.

Thầy Trần Thành Minh trong tự truyện “Cái thuở học trường Petrus Ký” qua hai tấm ảnh 6 và 7 chụp chung với các bạn cùng lớp Mathelem (lớp 12 ban toán) cho biết hồi ấy (1955-1956),  trường Trung học Gia Long chưa có lớp Terminale (lớp 12) ban Toán nên có 4 chị từ trường Gia Long chuyển sang học cùng lớp như các chị: Hồng, Hoài, Tiếng, Thu Vân.  Thầy Minh còn cho biết thêm có vài nữ sinh là con em của các giáo sư hoặc nhân viên nhà trưỡng cũng được vào học. [12] 

Lớp chúng tôi có bốn chị là Hồng, Hoài, Tiếng và Thu Vân. Vì lúc ấy tại trường Gialong không có lớp 12 (Terminales) nên các bạn gái phải học tại Petrus Ký hoặc Chasseloup Laubat. Kế bên là lớp Philo (Triết), tôi thấy có nhiều bạn gái hơn.  Sau khi đậu Tú Tài 2 chị Hồng học kỹ sư công chánh trường Phú Thọ, ba chị còn lại học sư phạm rồi dạy trường Gialong. Chị Thu Vân là chị của Cô Nguyễn Thị Thu Hà vợ Thầy Phạm Ngọc Đảnh.

Trong bài Thầy Lê Văn Đặng vì cùng học chung với thầy Minh nên có nhắc lại các cô cùng tên, chỉ có điều là câu đố của thầy phải tìm hoài mà vẫn chưa thấy.[13] 

Lớp Math có bốn chị (Hồng, Hoài, Tiếng và Thu Vân), phía cột đột tôi còn nhớ Trần Thành Minh, Cam Duy Lễ, Võ Kỉnh Đức, Phạm Thanh Dân, Nguyễn Văn Thành, Trần Kim Qui, Nguyễn Văn Đoàn, Nguyễn Quang Vũ. Bên Philo có một chị, bà phó Huệ Chi ( phó trưởng lớp, anh Nguyễn Thanh Liêm trưởng lớp. Thầy cũng còn nhớ đến “Chị Lữ thị Hoài vừa mới uốn tóc, rất xinh, còn ai khen xin dành riêng kỷ niện này cho anh chị em lớp Math, không tiện nắc lại.”, và còn lại đố

Trên đây tôi thử đố các bạn có biết tỷ lệ nam-nữ của trường Petrus Ký là bao nhiêu không?. Nếu các bạn chịu thua tôi xin trả lời ngay: ba trai một gái! Còn thắc mắc xin xem giải thích ở phần kết.

Sang đến GS Nguyễn Trung Quân, vị hiệu trưởng trường Phan Thanh Giản trong bài “Những ngày xưa thân ái” cho biết hai cô có lẽ rất đẹp khi được những người bạn trai cùng lớp chăm sóc không cho người lớn ngoài xớ rớ tới.  Nếu gặp mặt, ai nấy chắc cũng phải xuýt xoa khen thầm vẽ đẹp như lời hồi tưởng của thầy Quân. [14] 

Chẳng biết do đâu mà lớp chúng tôi lại có hai bạn nữ sinh.  Chúng tôi thường dùng giọng cải lương và cho rằng họ là hoa lạc giữa rừng gươm – là hai nữ sinh ở giữa một trường học toàn năm nên dù không phải chim sa cá lặn, sắc nước hương trời, hai chị cũng được lo lắng, chăm sóc tận tình.  Anh trưởng lớp Hồ Văn Tú và một số các anh trưởng ban của lớp tôi cứ tò tò theo bảo vệ làm các bạn lớp khác cứ nhìn theo với ánh mắt nửa hờn nửa tủi.

Hai chị Loan và Đang bây giờ đang ở nơi nào?  Nếu có đọc được những giòng nầy thì chắc các chị cũng thấy vui vui nhớ lại thuở thiếu thời.  Cũng như chị Võ Kim Sơn vẫn hằng tự hào rằng mình là một trong những nữ sinh đầu tiên của trường Petrus Ký.

Hình 1.  Lớp 2ème Secondaire B Lycée Petrus Ký niên khoá 1939-1940 với 8 nữ sinh.

(Nguồn: thầy Chung Hữu Thế, trích từ đặc san Tạ Ơn Thầy, Nhớ Ơn Cô)

Hình 2.  Lớp bà Bonne Argent giáo sư môn Histoire & Geographie (Sử Địa) cho các lớp đệ nhị cấp, không rõ năm (có thể là những năm đầu cho đến giữa thập niên 1950) và lớp, theo NT Huỳnh Hạnh (PK 1948-1954) – lớp anh chỉ có 5 nữ sinh.  Đây là bức ảnh với nhiều nữ sinh nhứt.

(Nguồn: FB Qui Hoang Phuong)

Hình 3. Lớp Philo (Triết) thầy Nguyễn Thanh Liêm, NK 1955-1956, chụp ở hành lang trước lớp.

(Nguồn: Nguyễn Thanh Liêm, trong quyển Sự thật đời tôi)

Hình 4.  Lớp Philo (Triết) thầy Nguyễn Thanh Liêm, niên khoá 1955-1956.

(Nguồn:  Nguyễn Thanh Liêm, trong quyển Sự thật đời tôi)

Hình 5.  Lớp Philo (Triết) thầy Nguyễn Thanh Liêm, niên khoá 1955-1956

(Nguồn: Truc Lam Trương)

Hình 6. Lớp đệ nhất ban toán niên khoá 1955-1956 với thầy Nghiêm Xuân Thiện (thắt cà vạt), với các nam sinh – thầy Cam Duy Lễ (hàng đầu, bên trái) đang phá người bạn, thầy Trần Thành Minh (hàng nhì, thứ 4 từ bên trái) và thầy Lê Văn Đặng (thứ sáu, giữa hai cô).  Bên trái thầy Minh là các cô Nguyễn thị Thu Vân,  Lữ thị Hoài và Nguyễn thị Tiến.  (Nguồn: thầy Lê Văn Đặng)

Hình 7.  Lớp Math niên khoá 1955-1956 với thầy Nghiêm Xuân Thiện, và thầy Lê Văn Đặng (bên trái tấm lịch).  Các nữ sinh có cô Thu Hồng ngồi giữa cùng với cô Thu Vân đứng phía sau, hai cô kia không nhận ra.  (Nguồn: thầy Lê Văn Đặng)

Hình 8.  Lớp Đệ Nhị C Petrus Ký 1957 với Giáo sư Trần Cảnh Hảo, NT Đinh Văn Cường (hoạ sĩ Đinh Cường), người ngồi hàng nhì kế anh mang kiếng, và bên góc mặt là một nữ sinh.

(Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2014/08/18/truong-xua/)

CÁC LỚP ĐÊM BÁN CÔNG VỚI NỮ SINH  (từ NK 1969-1970)

Theo một chứng chỉ học khoá tìm thấy được cuả anh Đoàn Thanh Vũ thì các lớp học đêm ở trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký đã có từ niên khoá 1969-1970 hay sớm hơn từ một vài năm trước đó.  Theo anh LHG (PK 1963-1970) cho biết anh và các bạn cùng lớp trong niên khoá 1966-1967 (???)  tụi tôi đã canh me mấy nàng lớp đêm bị thầy Cam Duy Lễ, hiệu trưởng các lớp đêm, hỏi thăm tại sao tan học chưa về.  Các lớp nữ sinh rất có thể đã được mở ra cùng lúc với các lớp học sinh nam.  Một bức ảnh cuả cô Nguyễn thị Bích Nhung, lớp 8/12 có ngày đóng dấu là 15-11-1970. 

Ngoài ra, trong chương trình phát thưởng cuả trường trong niên khoá 1970-1971, ta cũng thấy phần thưởng hạng nhứt được trao cho các cô lớp 7/17 và 8/12, và không thấy phần thưởng cho các lớp nữ lớn hơn.[9]  Các lớp đêm chỉ được trao tặng một giải thưởng hạng nhất, trong khi các lớp ngày thường là được bốn giải thưởng, một sự khác biệt làm nguồn động lực cho nhiều nam sinh tìm cách thi tuyển vào lớp ngày.  Sang đến niên khoá 1972-1973, sự khác biệt về số phần thưởng giữa lớp ngày và lớp đêm đã được điều chỉnh lại với phần thưởng mỗi lớp đêm được tăng lên ba, gần tương đương với lớp ngày với ba hoặc bốn. Tiếc rằng các nữ sinh lớp đêm dù học giỏi chăng mấy đi nữa cũng không được cơ hội xin tuyển vào lớp ngày như các nữ sinh áo tím và Gia Long của những thập niên trước.

Sang đến niên khoá 1972-1973, theo tập Kỷ Yếu của trường thì có 111 nữ sinh trong tổng số 1399 học sinh bán công.  Xem hình các lớp 10A và 9/15, thì sĩ số mỗi lớp rất đông có chừng 60 học sinh, trong khi đó các lớp nam ban ngày chỉ bằng một nữa.  Các nữ sinh tích cực đóng góp sinh hoạt hiệu đoàn như sáng tác văn thơ cho các tờ giai phẩm Xuân của trường [13], tham dự và đoạt giải nhất trong cuộc thi bích báo toàn trường với tờ Tuổi Ngọc (hình 9).

Qua ảnh các nữ sinh lớp đêm (hình 10, 11), ta có thể ghi nhận là các cô rất xinh và yêu kiều trong chiếc áo dài trắng thước tha, với mái tóc đen huyền qua vai, không uốn nhuộm.  Đây có sự khác biệt về cái đẹp hồn nhiên, so với các nữ sinh bậc đàn chị của thập niên 1950 sắc sảo hơn – trong các chiếc áo dài với màu sắc và hoa văn khác nhau, vì chưa phải mặc đồng phục, cùng với mái tóc uốn kiểu cách tân thời làm các bậc đàn chị trông trưởng thành và đẹp thật mặn mà.  

Hình 9.  Các nữ sinh được giải nhất trong cuộc thi bích báo toàn trường với tờ Tuổi Ngọc

(Nguồn: Kỷ Yếu Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký 1972-1973)

Hình 10.  Các nữ sinh duyên dáng lớp 9/15, niên khoá 1972-1973

(Nguồn: Kỷ Yếu Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký 1972-1973)

Hình 11.  Những đoá hoa Hồng yêu kiều của lớp 10A, niên khoá 1972-1973

(Nguồn: Kỷ Yếu Trường Trung Học Petrus Trương Vĩnh Ký 1972-1973)

******************************************************************************

Chú thích:

[1]  Thạch Lan. “Ý kiến của ông Bùi Quang Chiêu đối với vấn đề phụ nữ”, Phụ Nữ Tân Văn số 8, ngày 9 Novembre, trang 9-11

http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Phu%20Nu%20Tan%20Van_008%2020JUN1929.pdf

[2] Nguyễn thị Kiêm. “Nữ học đường đã được 20 tuổi”, Phụ Nữ Tân Văn số 224, ngày 20 Juin 1929, trang 5-6

http://ndclnh-mytho-usa.org/KhoSachCu/Phu%20Nu%20Tan%20Van_224%209NOVT933.pdf

[3] Dương Thanh Bình. “Trường Áo tím Gia Long ra đời như thế nào?

https://gialong-minh.com/2020/06/04/truong-ao-tim-gia-long-ra-doi-nhu-the-nao/

Nữ Học Đường hay Trường Áo Tím được khai giảng với niên khoá đầu tiên năm 1915 cho các lớp tiểu học, và mở thêm các lớp cao đẳng tiểu học (lớp 6-9) bắt đầu từ năm 1919.  Nhưng mãi đến năm 1955 mới có lớp đệ tam (lớp 10), 1956 – đệ nhị (lớp 11), và 1957 – đệ nhất (lớp 12) với hai ban A và C.  Đến năm 1961 trường Gia Long mới có đủ 3 ban A, B, C.  Về đồng phục, các nữ sinh vẫn mặc áo dài tím đến năm 1952 mới đổi sang áo dài trắng.

[4] Trần Văn Lắm.  “Nhớ lại ngày xưa”, Đặc san Hội Ái Hữu Petrus Ký Úc châu số 2


-https://petruskyaus.files.wordpress.com/2020/05/ds-pk-uc-chau-02-nho-lai-ngay-xua.pdf-

Bài viết tóm lược sự hình thành trường Petrus Ký, khởi đầu là một chi nhánh của trường Chasseloup Laubat tháng 10-1927, sau được mang tên là Lycée Petrus Ký năm 1928, và mãi đến năm 1932 mới có đủ các lớp trung học và 3 lớp tú tài Việt.

[5] Hải Hà. “Thi rớt”, Trường trung học Petrus Ký và nền giáo dục phổ thông Việt Nam, trang 145

https://petruskyaus.net/truong-trung-hoc-pk-thi-rot/

[6] Nguyễn Thanh Liêm. Trường trung học Petrus Ký, Nền giáo dục phổ thông Việt Nam.  San Jose, Calif: Hương Quê, 2016.

[7] Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký, Année  Scolaire 1930-1931, DISTRIBUTION SOLENNELLE DES PRIX

https://petruskyaus.net/le-phat-thuong-long-trong-1930-31-felicitations-du-conseil-discipline/

https://petruskyaus.net/le-phat-thuong-long-trong-1930-31-enseignement-secondaire-franco-indigene-1re-annee/

[8] Lễ phát thưởng ngày 27-3-1960

https://petruskyaus.net/le-phat-thuong-nien-khoa-1959-60-phan-thuong-lop-de-nhat/

[9] Lễ phát thưởng long trọng niên khoá 1970-1971

https://petruskyaus.net/le-phat-thuong-nien-khoa-1970-71-hoc-xinh-xuat-sac-lop-8/

[10] Nguyễn Thanh Liêm. Sự thật đời tôi, Hồi ức Nguyễn Thanh Liêm.  San Jose, Calif: Hương Quê, 2016, trang 98

https://petruskyaus.net/truong-trung-hoc-petrus-ky-nen-giao-duc-pho-thong-viet-nam-nguyen-thanh-liem/

[11] Trần Văn Khê.  “Ba năm học Tú tài tại trường Petrus Ký 1938-1940”, Đặc San hội Ái hữu Petrus Ký Úc châu số 4

-https://petruskyaus.files.wordpress.com/2020/05/ds-pk-uc-chau-04-ba-nam-hoc-tu-tai-tai-truong-petrus-ky-1938-1940-danh-sach-website-cac-hoi-doan-ban.pdf-

Bài viết có nhiều chi tiết nhất về tình bạn thân thiết trong và ngoài lớp giữa GS Trần Văn Khê và các bạn nữ sinh.

[12]  Trần Thành Minh.  “Cái thuở học trường Petrus Ký”, Đặc San hội Ái hữu Petrus Ký Úc châu số 8

-https://petruskyaus.files.wordpress.com/2020/06/ds-pk-uc-chau-08-cai-thuo-hoc-truong-petrus-ky.pdf-

[13] Lê Văn Đặng.  “Tôi là học sinh Petrus Ký

https://petruskyaus.net/toi-la-hoc-sinh-petrus-ky-le-van-dang/

[14] Nguyễn Trung Quân, “Những ngày xưa thân ái”, Trường trung học Petrus Ký và nền giáo dục phổ thông Việt Nam

https://petruskyaus.net/truong-trung-hoc-pk-nhung-ngay-xua-than-ai/

[15] Kim Yến. “Lá thư cuối năm cho bố”, Giai phẩm xuân Ất MảoPetrus Ký 1975, trang 80

https://petruskyaus.net/xuan-pk-1975-la-thu-cuoi-nam-cho-bo/