Nhớ Thầy Phạm Văn Diêu
Phan Văn Thạnh
Lan man thời sinh viên Văn Khoa SG trước 1975 – đeo đuổi “Chứng chỉ Văn chương Việt Hán” – hoàn tất Cử nhân Văn Khoa – tôi nhớ Thầy Phạm Văn Diêu qua chuyên đề Thơ văn Nguyễn Phi Khanh.Ngày ấy làm sinh viên chỉ đâm đầu “tụng niệm”- đằng tả-phiên âm-dịch nghĩa Hán – ít để ý đến hành trạng (行狀) của các Thầy.
Sau này tìm hiểu tôi mới biết thầy đến và rời cõi tạm (1928-1982) – Quê quán làng Thi Phổ Nhất,tổng Lại Đức,phủ Mộ Đức,tỉnh Quảng Ngãi nay thuộc xã Đức Tân, huyện Mộ Đức – tỉnh Quảng Ngãi.
Cả cuộc đời thầy gắn bó với nghiệp trồng người, từ Trung học Bình dân miền Nam Trung bộ (Quảng Ngãi) đến Trung học Khải Định- Quốc học (Huế), tiếp tục qua Đại học Văn khoa Đà Lạt, Đại học Sư phạm và Văn khoa Sài Gòn, cuối cùng, sau 1975, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
Thầy để lại các tác phẩm: Việt Nam Văn học giảng bình (xuất bản 1953, tái bản nhiều lần năm 1961, 1970) – Văn học Việt Nam (1960) – cùng với nhiều bài viết nghiên cứu phê bình chuyên sâu về Truyện Kiều và Triết học,Tôn giáo – đăng nhiều kỳ trên Văn hóa Nguyệt san vào khoảng năm 1961.
Thầy đi sâu phân tích thế giới nội tâm, tính cách và số phận mang tính triết học của các nhân vật như Thúy Kiều, Kim Trọng, Từ Hải – Những “Ảnh hưởng của Phật giáo trong thi ca Việt Nam”- phê bình,khảo luận đặt tư tưởng Phật giáo làm hệ quy chiếu.Thầy phân tích sâu sắc cảm hứng tôn giáo, triết lý nghiệp báo, bể khổ và chữ “Tâm” trong các tác phẩm văn học trung đại, đặc biệt là Truyện Kiều.
Trong tập Việt Nam văn học giảng bình (NXB Tân Việt – Hoành Sơn): – thầy phê bình “Cung oán ngâm khúc” (Nguyễn Gia Thiều): Phân tích nghệ thuật sử dụng từ ngữ cung đình, tâm trạng oán sầu của người cung nữ và triết lý vô thường của cuộc đời.
Với “Chinh phụ ngâm” (Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm): Khảo luận về tình yêu, nỗi cô đơn và khát vọng hạnh phúc lứa đôi đối lập với sự phi lý của chiến tranh phong kiến.
Bình giảng Thơ văn Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm: thầy đi sâu vào tính triết lý, nhân nghĩa trong Bình Ngô đại cáo với thái độ lánh đục tìm trong, nhàn tản trong thơ chữ Nôm của Trạng Trình.
Chương trình cốt lõi khóa học “Văn chương Việt Hán” – khảo cứu Văn học thời Trần – Hồ, tiêu biểu với tác giả Nguyễn Phi Khanh xuất sắc đại diện cho dòng thơ trữ tình và nhân đạo, nói nhiều đến nhân dân với tấm lòng ưu ái nhất.
Nguyễn Phi Khanh (sinh khoảng 1355 – mất khoảng 1428). Ông tên thật là Ứng Long, hiệu Nhị Khê, dòng dõi Nguyễn Bặc thời Đinh. Tổ tiên xa xưa của ông ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhỡn, trấn Kinh Bắc, sau dời cư về xã Nhị Khê, nay thuộc Thường Tín, Hà Nội.
Tác phẩm của Nguyễn Phi Khanh, ngoài Nhị Khê thi tập (đã mất), Nguyễn Phi Khanh thi văn (do Dương Bá Cung sưu tập, in trong Ức Trai thi tập) còn có Thanh Hư động ký (Bài ký động Thanh Hư) viết năm 1384, ca ngợi Trần Nguyên Đán, là áng văn rất nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam.
Đọc hơn 70 bài thơ hiện còn của Nguyễn Phi Khanh, viết từ khi còn trẻ đến lúc “cảnh già” đã “xồng xộc tới”, thấy thơ ông phản ánh khá rõ hoàn cảnh xã hội đương thời đầy biến động, loạn lạc, dân tình khổ sở vì phải chạy giặc (loạn Dương Nhật Lễ, giặc Chiêm Thành vào cướp phá), vì thiên tai, mất mùa… Đồng thời thơ Nguyễn Phi Khanh cũng ghi lại khá chân thực số phận vất vả, lận đận của ông, một người có đức, có tài, song vào thời kỳ đang sung sức nhất thì không được trọng dụng; khi được dùng, được có điều kiện mang tài năng giúp đời thì tuổi đã già và vương triều ông phục vụ bị tan vỡ, cả vua, tôi đều bị bắt lưu đày biệt xứ.
Trong các nhà thơ thời Trần – Hồ, Nguyễn Phi Khanh có lẽ là người đã thể hiện cái tôi trong thơ trữ tình một cách sâu sắc, day dứt nhất.
Nhớ Thầy qua từng buổi đi cours – trước giờ vào học một bạn Sv viết sẵn lên bảng 3 bài thơ chữ Hán – bọn tôi lui cui đằng tả (謄寫)sao chép lại – tiếp đó thầy vào phiên âm,dịch nghĩa…Ví dụ :
Du Côn Sơn
一笻山上柱雲煙,
迴首塵埃路隔千。
雨後線聲流簌簌,
天晴嵐氣靜涓涓。
百年浮世人皆夢,
半日偷閒我亦仙。
興去欲來僧院宿,
昏鍾催月掛
Nhất cung sơn thượng trụ vân yên,
Hồi thủ trần ai lộ cách thiên.
Vũ hậu tuyến thanh lưu thốc thốc,
Thiên tình lam khí tịnh quyên quyên.
Bách niên phù thế nhân giai mộng,
Bán nhật thâu nhàn ngã diệc tiên.
Hứng khứ dục lai tăng viện túc,
Hôn chung thôi nguyệt quải phong tiền.
Dịch nghĩa
Một chiếc gậy chống khói mây trên núi,
Ngoảnh lại chốn bụi bặm, cách xa ngàn dặm.
Sau mưa, tiếng suối chảy ầm ầm,
Trời tạnh, lam chướng sạch lầu lầu.
Cuộc phù thế trăm năm, người người đều như mộng,
Trộm cái nhàn nửa ngày, ta cũng là tiên.
Hứng đã hết, muốn đến chùa nghỉ,
Chuông chiều giục trăng treo trước núi.
Đông Ngàn xuân mộng
瀘水東邊瀘岸村,
霏霏江雨暗前門。
耳邊斷送春歸去,
萬綠叢中杜宇魂。
Lô thuỷ đông biên Lô ngạn thôn,
Phi phi giang vũ ám tiền môn.
Nhĩ biên đoạn[1] tống xuân quy khứ,
Vạn lục tùng trung đỗ vũ hồn.
Dịch nghĩa
Xóm ở về phía đông trên bờ sông Lô,
Mưa mờ mịt trên sông làm tối trước cửa.
Bên tai vẳng tiếng tiễn xuân đi,
Ấy là hồn chim đỗ vũ trong muôn khóm cây xanh.
Đông Ngàn xưa thuộc phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, nay một phần thuộc Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Tiêu đề cũng có thể đọc là Đông ngạn xuân mộng (Mộng xuân ở bờ sông phía đông).
Thu dạ
新愁舊恨撥難平,
南北情懷夢亦驚。
月色無人更無賴,
秋來夜夜總關情。
Tân sầu cựu hận bát nan bình,
Nam bắc tình hoài mộng diệc kinh.
Nguyệt sắc vô nhân cánh vô lại,
Thu lai dạ dạ tổng quan tình.
Dịch nghĩa
Sầu mới hờn xưa khó dẹp yên,
Nỗi lòng nam, bắc, trong giấc mộng cũng giật mình.
Ánh trăng không người lại càng trơ trọi,
Mùa thu đến, đêm đêm vẫn vướng vất trong lòng
***
Đề thi C/c Văn chương Việt Hán năm đó (1972-1973)vỏn vẹn mấy từ : “Thơ văn Nguyễn Phi Khanh” – đề thi ngắn mà sâu rộng – sinh viên căng óc rút ruột rút gan “đánh vật”- tôi còn nhớ cuối giờ nộp bài thầy bảo tôi “anh này đi cours đều”- chi tiết nhỏ đó cứ đeo đẳng trong tôi đến tận bây giờ…
Phan Văn Thạnh
(Saigon,15/9/2026)

