Be lac ky mai truong cua toi – Luu Quoc Tran

Không phải khoe chứ hồi lớp Nhì, lớp Nhất tôi luôn đứng ở ba hạng đầu trong lớp. Lớp Nhì tôi chỉ nể có Nguyễn Bá Phước, còn lớp Nhất thì kính Châu Ngọc Quyền.

Đến khi thi vào Đệ Thất (thực ra vào thời điểm đó, 1971, gọi là lớp 6) Bố tôi bảo thi vào một trường có cái tên rất khó đọc mà tôi không hề biết là rất khó vào, với kết quả đậu có thứ hạng ngoài “top 100”, tôi đã vô cùng ngơ ngác khi hiểu ra câu “ếch ngồi đáy giếng”. Chưa hết, vào học rồi mới biết là mình học dở toàn diện, dở từ Đại-số, Hình-học, Vật-lý, Hóa-học, Vạn-vật, dở cho đến Cổ-văn, Kim-văn, Sử-ký, Địa-lý, Pháp-văn, Hội-họa, và dở luôn cả Công-dân Giáo-dục! Cứ như đi trong sương mù!

Ắt hẳn Thầy Cô đứng trên bục giảng bài, nhìn xuống thằng tôi lúc ấy, thấy cái mặt nó sao cứ ngu ngu tội tội. Hahaha! Vì sao vậy? Tôi vẫn giữ nếp chuyên cần như hồi tiểu học, còn Thầy Cô thì vô-cùng tận tâm.

Tôi nhớ: “Chị Doãn là một người đàn bà có cái nhan sắc của một người đàn ông không đẹp trai…” và “Răng trắng nữa, trời ạ!” (Bài “Chị Doãn” từ truyện ngắn “Lấy vợ xấu” của Vũ Trọng Phụng).

Giọng Cô Dung trầm bổng giờ Kim-văn từ xa xưa mãi còn trong tôi. Cô chăm chút chi tiết từng bài, từ cách dùng từ, cách chấm câu, cách sử dụng mỹ-từ-pháp, đến bố cục, sự liền lạc của ý tứ, cách chuyển mạch văn… Đang mang bầu em bé nhưng Cô không bao giờ tỏ ra mệt mỏi, giờ Cô giảng vẫn đầy ăm ắp. Cũng vào giờ Cô: “Đêm khuya, … , một giọt máu từ trên mái rơi xuống quyển sách ông đang đọc, đúng ngay vào chữ “đại” và thấm qua ba trang giấy…” (Vụ án Lệ-chi Viên”, ở đây tôi chỉ ghi theo trí nhớ, không chắc đúng nguyên văn lời kể của Cô.) Văn-học không chỉ là văn với thơ, mà còn có cả lịch sử, truyền thuyết, thế thái nhân tình…

Tôi cũng nhớ: “Nhà Nguyễn” và “Nhà Tây Sơn” là hai tập ronéo bài soạn riêng của Thầy Báu, môn Sử-Địa, phát cho mỗi học trò. Bài soạn công phu, nhiều dữ liệu ngoài sách giáo khoa, vậy mà khi giảng Thầy còn bổ sung thêm, học trò phải tự ghi vào bên trang trắng của tập ronéo. (Mở ngoặc một chút: Thuở đó Vật lý và Hóa học do một Thầy hay Cô dạy trong một môn chung là môn Lý Hóa, dĩ nhiên khi giảng thì Vật lý riêng, Hóa học riêng. Sử ký và Địa lý cũng vậy, chung trong môn Sử-Địa) Và tôi vẫn nhớ lời Thầy Trung: “Các em nên vẽ bản đồ vào vở.” (Nên chứ không bắt buộc). Đó là lời dặn khi Thầy dạy về “các dòng dương lưu nóng, lạnh”. Tôi đã vẽ nguyên cái bản đồ thế giới với dòng dương lưu nóng màu đỏ, dòng dương lưu lạnh màu xanh vào tập (mà chỉ chiếm độ ¼ trang vở học trò) và hiệu quả tức thì. Chỉ cần hỏi “tên của dòng dương lưu lạnh ở Đại Tây Dương Bắc bán cầu” là trả lời được ngay, kể cả ảnh hưởng của nó đến thời tiết hậu mà không cần phải học bài, (Dương lưu là hải lưu)…

Các bạn thấy không, Thầy Cô như vậy mà học trò như vầy (tức là như tôi) thì quả là xấu hổ quá đi.

Tại sao? Tại sao? Câu hỏi đó tiếp tục như một hành trang, như một gánh nặng theo tôi rời khỏi Trường và bước vào đời.

Thời gian vun vụt trôi… Qua nhiều năm tháng thăng trầm luân lạc như Kiều, tôi quyết định đi học lại. Đang bù đầu bù cổ ôn luyện những kiến thức vừa mất căn bản vừa quá lâu không dùng, tôi bỗng vớ được cuốn “Martin Eden” của Jack London (bản dịch) và tôi đã không buông nó ra được cho đến dấu chấm cuối cùng.

Quyển truyện gây xúc động mãnh liệt và làm tôi băn khoăn sao những con chữ đen vô tri vô giác trên nền giấy vàng xấu xí lại có sức lay động dữ dội như vậy? Khi bình tâm lại và có thời gian ngẫm nghĩ tôi mới ngộ ra. Những kiến thức, lời giảng của Thầy Cô trong giờ Quốc văn thời trung-học đã từ từ, rất từ từ (chắc vì tôi chậm tiêu) thấm vào máu, vào tim, óc, vào linh hồn tôi và đến một lúc nào đó làm mở bừng mắt khiến tôi thấy được vẻ đẹp từ những trang sách. Rồi tôi có dịp được ngồi chung lớp với các bạn từ nhiều phương trong nước, những bạn miền Tây, Cần Thơ, Bến Tre, … với giọng nói “quê quê”, những bạn miền Trung Quy Nhơn, Quảng Ngãi, … giọng “méo méo” … Tuy “quê quê, méo méo” cộng với những từ lạ nhưng sao mà dễ thương (nhất là khi nó được phát ra từ một bạn nữ). Thì ra tiếng Việt của mình rất phong phú, đa dạng và đáng yêu vô cùng. “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi…” (Tình ca” của Phạm Duy – ông Phạm Duy biết yêu sớm hơn mình nhiều!)

Ngày tháng lại trôi… Tôi có dịp đi xuống các tỉnh miền Tây, đồng lúa xanh rì hoặc vàng óng bát ngát, vườn cây trái trĩu quả, sông rạch chằng chịt, bao nhiêu là cầu lớn cầu nhỏ, qua phà gió sông lồng lộng,… đi ra các tỉnh miền Trung “Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn…” (Tiếng sông Hương” của Phạm Đình Chương) – miền Trung ốm yếu, bão lụt, có gió Lào bức bối của Thầy Trung, nhưng tuyệt đẹp làm tôi ngây ngất. Những bài học địa-lý ngày xưa ùa về.

Khi viếng Kinh-thành Huế của Nhà Nguyễn, và trên đường từ Pleiku-má-đỏ-môi-hồng của Vũ Hữu Định và Phạm Duy. Về Quy Nhơn nơi Hàn Mặc Tử ngủ say, tôi ghé thăm đất Tây Sơn của anh hùng áo vải Quang Trung, bỗng hiểu ra tôi yêu quê hương, tổ tiên, đồng bào mình nhiều lắm và tình yêu đó hình thành từ những giờ Sử-Địa xa xưa (và cả từ nhạc Phạm Duy nữa). Có những điều đơn giản mà phải qua nửa cuộc đời, thậm chí gần hết “60 năm cuộc đời” tôi mới hiểu. Mười hai năm đèn sách bắt buộc, những kiến thức mà Thầy Cô truyền dạy cho tôi không phải để đi thi thố, không phải để chứng tỏ với người khác là mình giỏi giang, mà là để tôi hiểu và thông cảm với mọi người, để tôi biết cách cư xử, và để tôi biết sống. Truyền thống phương Đông đặt THẦY Cô trên cha mẹ, vì cha mẹ tạo ra hình hài, còn Thầy Cô làm ta nên NGƯỜI …

Tôi đã phải ngưng lại một lúc vì tự dưng nghẹn ngào, rưng rưng … và hối hận. Kính thưa Thầy Cô, những Thầy Cô đã đi xa thật xa và những Thầy Cô còn ở lại với chúng con, con xin lỗi, thành thực xin lỗi vì đã có nhiều lúc lười biếng, lắm lần chán học, và có đôi khi… bất kính (tội đáng đem chém vạn lần). Con đã phải đi một quãng đường quá dài, quá lâu mới hiểu được lòng thương yêu vô bờ, nỗ lực không ngừng của Thầy Cô dành cho chúng con. Có thể có bạn hỏi: “Nãy giờ tao thấy mày chỉ nói về Văn Sử Địa, còn các môn khác thì sao?” Hà, nếu viết ra được hết ký ức về ảnh hưởng của tất cả các môn lên bản-thân-tui thì sẽ thành một cuốn sách dày cộm (mà chắc không ai đọc). Chuyện đó bất khả vì năng lực tôi có hạn (nghĩa đen là kém cỏi). Nhưng dù sao đó cũng là một ý hay. Nếu có thể đúc kết rút ra được vài ý ngắn gọn, tôi nghĩ mình có thể chia sẻ kinh nghiệm này với con mình – mà không kịp rồi, vì nó đã đến tuổi không thèm nghe mình nữa; Vậy thì chia sẻ với cháu mình (nếu kịp, vì có vài bạn đã không còn kịp nữa rồi).

Theo tôi, những môn khoa học tự nhiên Toán, Lý, Hóa, Sinh (môn Sinh trước đây là Vạn-vật) làm cho tôi hiểu được mọi sự vật quanh mình và làm cho tôi biết tôn trọng tự nhiên. Mỗi khi định xả rác, muốn chặt một cái cây, tính lấp một con rạch, toan ngăn một con sông, hay ham ăn một con gì, tôi phải e dè, đắn đo xem việc mình sắp làm sẽ có thể gây hại cho chính mình, cho người khác hay cho các loài khác không. Hậu quả nhãn tiền khi con người thô bạo với thiên nhiên chúng ta thấy hoài đó. Ngoại ngữ, tôi thích môn này, dùng để tán gái Tây. Hội họa, ít nhất khi xem tranh nue/nude giúp ta không ‘ba chấm’ (tự kiểm duyệt). Còn Công dân Giáo dục luôn nhắc tôi phải có hành vi đúng mực và thượng-tôn pháp-luật… Thế thì tôi-bây-giờ là ai? Tôi bây giờ chẳng là ai cả, tôi chỉ là kẻ biết yêu thương.

Lưu Quốc Trân,
từ lớp 6/2 đến 9/2, rồi 10D3, 11D4, và 12D4 niên khóa 1977-1978
(viết khi đã gần đủ 60 năm cuộc đời).

Ghi chú: Hai bạn này cũng cùng Trường, cùng khóa 71-78 với chúng ta đó. Nhân tiện, ở trung học có rất nhiều bạn đáng ngưỡng mộ, nhưng tôi đặc biệt kính nể bạn Chương ở Trung học Đệ nhất Cấp và bạn Hải ở Cấp 3. Vì sao? Với tôi, hai bạn này là học sinh giỏi toàn diện, giỏi đều các môn.