NHÀ VĂN NGUYỄN XUÂN HOÀNG, “NGƯỜI ĐI TRÊN MÂY”

Biên soạn: Phan Anh Dũng

Nguồn: Cỏ Thơm Magazine:

http://cothommagazine.com/index.php?option=com_content&task=view&id=1203&Itemid=49

TRANG TƯỞNG NIỆM CỰU GIÁO SƯ, NHÀ VĂN, NHÀ BÁO NGUYỄN XUÂN HOÀNG

Cựu Giáo Sư, Nhà Văn, Nhà Báo Nguyễn Xuân Hoàng qua đời ngày 13 tháng 9 năm 2014 ở San Jose, California, hưởng thọ 77 tuổi. Ông là một trong những nhà văn nổi tiếng của Việt Nam Cộng Hòa trước 1975. Đám tang của Ông được nhiều văn nghệ sĩ tham dự, để lại nhiều luyến tiếc và ấn tượng đẹp.

Khoảng cuối năm 2013, tôi nhận được tin Nhà Văn Nguyễn Xuân Hoàng bị bệnh nặng. Sau đó, được biết Ông bị ung thư ở cột sống và chữa trị ở bệnh viện Stanford. Trong thời gian này, nhiều thân hữu và học trò cũ đã đến thăm viếng để khuyến khích và an ủi Ông. Có lẽ vì thế mà tinh thần Ông phấn khởi và đã chống cự được chứng bệnh quái ác đau đớn trong một thời gian khá dài – hơn một năm từ khi ung thư phát hiện.

….

“Nguyễn Xuân Hoàng, Người Đi Trên Mây” quen biết nhiều giới văn học nghệ thuật, nghệ sĩ, truyền thông, báo chí và được cảm tình của nhiều người. Khi biên soạn về Ông, tôi thấy có rất nhiều tài liệu, hình ảnh từ nhiều website trên internet. Hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Petrus Ký Bắc California đã làm môt đặc san đặc biệt với chủ đề “Nguyễn Xuân Hoàng trên dòng sông Petrus Ký”, xuất bản muà Xuân 2014. Cựu Học Sinh Trung Học Ngô Quyền đã thành lập một website rất đầy đủ về Ông ở link sau đây (http://www.ngo-quyen.org/p3631a3768/gioi-thieu-thu-quan-nguyen-xuan-hoang)

Trong vùng Hoa Thịnh Đốn và trong ban biên tập của Cỏ Thơm, có lẽ Họa sĩ Đinh Cường là người có thâm tình gắn bó với Nguyễn Xuân Hoàng. Anh đã qua San Jose cùng cắt bánh sinh nhật với Nguyễn Xuân Hoàng vào tháng 7, 2014. Đinh Cường đã vẽ nhiều tranh chân dung cũng như sáng tác nhiều bài thơ về Nguyễn Xuân Hoàng. Nhà văn Phương Duy Trương Duy Cường ở San Jose cũng có mối thân tình với gia đình Nguyễn Xuân Hoàng, anh đã đến thắp nhang chia buồn và dự tang lễ.

Trong lúc Nguyễn Xuân Hoàng đang trị bệnh, tôi đã được tin tức thường xuyên từ Quách Đại, một cựu học sinh Petrus Ký ở San Jose và chị Đoàn Hải Yến, một cựu nữ sinh Trưng Vương vùng Hoa Thịnh Đốn, cũng là em ruột của Nguyễn Xuân Hoàng. Trong buổi họp mặt picnic của Hội Ái Hữu Petrus Ký Miền Đông Hoa Kỳ, sau khi gọi hỏi thăm, chị đã chuyển phone cho tôi nói chuyện tiếp với Ông, đó cũng là những lời từ biệt, khoảng một tháng trước khi Ông qua đời.

Tuy tôi không có duyên được học với Giáo Sư Nguyễn Xuân Hoàng ở Petrus Ký nhưng theo bài viết từ một số bạn của tôi và cựu học sinh các trường khác thì biết Ông là người dạy môn Việt Văn hay Triết rất đam mê và lôi cuốn.

Theo thiển ý, văn của Nguyễn Xuân Hoàng rất thật, ít màu mè với những nhân vật và chuyện theo kinh nghiệm sống của Ông. Văn của Ông nằm trong không gian màu xám, nhiều nét buồn, bi quan và hơi lạnh lùng … có lẽ phản ảnh tâm trạng không được vui của Ông từ hoàn cảnh gia đình khi Ông lớn lên, từ xã hội và chiến tranh Việt Nam, đến những trải nghiệm không dễ khi hội nhập vào cuộc sống mới lạ ở Hoa Kỳ.

Có lẽ ít người biết Nguyễn Xuân Hoàng cũng hay sáng tác thơ theo thể tự do, có ảnh hưởng từ “trường phái Thanh Tâm Tuyền”. Tôi thích bài thơ “Niềm yên lặng của biển” – sau sửa thành “Biển, Nghe Không”- in trong tạp chí Văn số 69, tháng 11 năm 1969:

Đừng nói gì với mặt trời
nghe không?
mặt trời nóng, mặt trời không cần biết đâu.
Đừng nói gì với núi cao
nghe không?
núi cao xa vời, núi cao không trông thấy đâu.
Đừng nói gì với mây gió
nghe không?
mây gió cứ bay hoài bay hoài, mây gió không buồn nghe đâu.
Đừng nói gì với súng đạn
nghe không?
súng đạn vô tình, súng đạn không hiểu gì đâu.
Đừng nói gì với cỏ cây
nghe không?
cỏ cây cũng sống rồi lớn rồi chết, cỏ cây không trả lời đâu.
Đừng nói gì với ai hết
nghe không?
cũng đừng thèm nói gì với chính mình nữa.
nghe không? nghe không?

Hãy im lặng như biển.
biển, nghe không?
biển có nói gì đâu
nhưng biển thấy hết, nghe hết, hiểu hết, biết hết…
nghe không?

Biển, nghe không?

….

Tôi sẽ nhớ mãi về Nguyễn Xuân Hoàng, nhất là những câu thơ của Ông mà Họa sĩ Đào Hải Triều đã viết thư họa, để ở nhà quàn hôm tang lễ:

“Sau cái chết là gì ?
Không là gì hết!
Có chăng là những ngọn gió
Ngọn gió thổi những lời bay đi
Ngọn gió thổi trả những lời trở lại…”

Phan Anh Dũng
Richmond, Virginia USA

Mời quý vị đọc: toàn bài viết (pdf , trong Cỏ Thơm số 69, mùa Đông 2015)

  Một số hình ảnh và video về Tang Lễ

  Ô Nguyễn Văn Khanh, Giám Đốc Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do (RFA)

   Bà Nguyễn Xuân Hoàng nhận lời chia buồn

Nhà văn Phương Duy thắp nhang từ biệt

  Youtube tang lễ – 9/19/2014

Vào hồi 6 PM chiều Thứ Sáu ngày 9/19/2014 tại nhà quàn thuôc Nghĩa Trang Oak Hìll thành phố San José, bắc Cali, một số ACE văn nghệ sĩ, Nhà báo, Truyền thông trong vùng, đã đến thắp nhang, viếng tang Nhà Văn, Nhà Giáo, Nhà Báo Nguyễn Xuân Hoàng, một người bạn thân thương của Cộng Đồng Việt Nam, đã từ giã cõi nhân sinh vào sáng ngày Thứ bảy 9/13/2014 trong nhà Dưỡng Lão thành phố San José.

Một vài khách phương xa cũng đã đến viếng, đặc biệt có ông Nguyễn Văn Khanh, Giám Đốc Đài Á Châu Tự Do (RFA) đã đến từ Washington DC.

Chương trình thăm viếng còn kéo dài qua thứ Bảy, Chủ nhật và sẽ hoả táng vào Trưa Chủ Nhật 9/21/2014.

Sau đây là một vài hình ảnh chúng tôi ghi lại, xin được chia xẻ đến quí bạn xa gần, trong Niềm Thương Tiếc một Người Bạn đáng trân trọng.

                                                            ( Tường thuật, hình ảnh và video do Nhà thơ Mạc Phương Đình thực hiện )

                              

 (Tranh tưởng niệm do họa sĩ Đào Hải Triều vẽ)

   Đỗ Quý Toàn & Đinh Quang Anh Thái – Báo Người Việt

Nhà văn Giao Chỉ Vũ Văn Lộc

Ca sĩ Mai Hân, Đoàn Hải Yến (em của NV Nguyễn Xuân Hoàng)

Ca sĩ Ý Lan hát lời từ biệt 

Bà Kiều Chinh

         

Nhà thơ Du Tử Lê, nhà văn Phan Nhật Nam cùng một số thân hữu đưa quan tài đến nơi hỏa táng

                   

  Tường thuật tang lễ 9/21/2014

                       

                                       Đài Truyền Hình SBTN thực hiện

                                       Đài Truyền Hình VietToday thực hiện

                                       Đài Truyền Hình Nét Viet thực hiên

                                       Đài Truyền Hình VietTV thực hiện

           

Sau cái chết là gì ?

Không là gì hết!

Có chăng là những ngọn gió

Ngọn gió thổi những lời bay đi

Ngọn gió thổi trả những lời trở lại…

(Lời: Nguyễn Xuân Hoàng – Thư pháp: Đào Hải Triều)

 Những Lời Thương Nhớ về Cha

                        

  

        

                  

    Tưởng Niệm Giáo Sư, Nhà Văn, Nhà Báo NGUYỄN XUÂN HOÀNG 

Phạm Ngọc Quỳnh Thư thực hiện

                    

XIN LỖI VÀ CÁM ƠN!

Buổi chiều cuối năm, ngồi bên ly cà phê với người bạn đến từ một tiểu bang xa.  Bạn tôi hỏi, ba điều bốn chuyện, chuyện sức khoẻ, chuyện gia đình, chuyện công ăn việc làm, chuyện người sống người chết, chuyện quê hương, chuyện quê nhà… Sau cùng bạn hỏi: “Năm qua cậu đã làm được những gì, đầu óc có thoải mái không?” Tôi nửa đùa nửa thật: Đầu óc thì không, còn làm được việc gì thì không biết.

Bạn tôi là một người chơi nhạc, không phải nhạc sĩ sáng tác, nhưng kiến thức về âm nhạc thì khá cao, và chơi đàn tây ban cầm xuất sắc. Mặc dù ở xa chúng tôi vẫn thường liên lạc nhau qua email. Có lần anh đưa ra một nhận xét bất ngờ về một bài viết của tôi, anh làm tôi sửng sốt. “Phong cách của bút pháp. Đó cũng là một vấn đề,” anh nói.  Đọc nhiều, biết thưởng thức hội họa, và nói về văn chương và kịch nghệ thì thuyết phục lắm… tuy vậy bạn tôi không phải là người viết văn làm báo.

Cà phê nóng. Tôi uống một ngụm. Mùa đông năm nay ở miền bắc Cali lạnh hơn năm ngoái, lạnh hơn cả những năm trước nhiều. Tôi mở gói mật ong châm thêm vào ly cà phê. Hôm nay là ngày cuối tuần, tôi không ngồi ở quán quen Starbucks của tôi, mà là quán Peet’s coffee. Cà phê ở đây đậm hơn cà phê starbucks. Khung cảnh cũng thân mật và ấm cúng, từ cái bàn cái ghế, những gói cà phê, … Mấy bức tranh treo trên tường cũng đơn giản và nồng ấm. Quán hơi vắng. Có hai người khách sát bàn tôi: một người Mỹ râu tóc bạc phơ, ăn mặc rất bụi đời [áo quần giày dép và cái mũ chụp đầu bằng len cũ kỷ tả tơi] và một phụ nữ Á châu ăn mặc sang trọng, nhưng nét mặt hơi thô và lạnh. Tôi biết quán Peet’s coffee này hơi trễ, chỉ chừng hơn 1 năm nay thôi, nhưng tôi rất thích.

                                   

Bạn tôi nhắc: “Sao lúc này không thấy cậu viết gì? Phải viết đi chứ! Ở không lâu quá đâu có tốt.” Tôi nói không viết gì vì không biết viết gì, nhưng ở không thì cũng không hẳn là ở không đâu. “Nghĩa là cậu không còn chuyện văn chương chữ nghĩa nữa à?” Tôi nói chuyện chữ nghĩa thì còn nhưng mà chuyện văn chương thì không. Tôi lúc này thích chuyện thời sự hơn. “Nói tóm lại là cậu không có thì giờ?” bạn tôi hỏi. Tôi nói, thì giờ đâu nữa mà còn.  Từ mấy năm nay tôi đã đọc ít đi. Thiếu cái nguồn nước liên lỉ ấy, cái giếng sẽ khô cạn dần, mạch nước ấy khi không còn thì cái ngọn lửa kia cũng từ từ tàn lụi, lấy nhiên liệu đâu mà đốt lên? “Cậu nói sao?” bạn tôi hỏi. “Cậu không đọc sách nữa à? Bỏ cái chuyện vớ vẩn ấy, chết tiệt ấy đi cậu ơi.  Tin trong nước, tin ngoài nước, tin thế giới, tin xe cán chó chó cán xe, tin trong nhà ngoài phố. Cái thứ mì ăn liền ấy mà! Đau đầu!” Ừ, tôi nói, đau đầu thật!

…..

Bạn tôi nói: “Cậu có biết chuyện ký mục gia Art Buchwald không?” Ông nói sao? Tôi hỏi. Ông Art Buchwald à? Ông ấy mất từ tháng Giêng năm 2007 kia mà! “Đúng vậy!”, bạn tôi nói, “Tôi biết chứ, ông ấy mất đã gần bốn năm rồi, nhưng cậu không biết là ông  Art Buchwald trước khi chết ở tuổi 82 vẫn còn viết không?” Ừ, thì sao?  “Còn cậu, còn lâu cậu mới tới tuổi đó, sao cậu lười thế?” Tôi hỏi, ông nói thế là thế nào? Bạn tôi cười, “Thế cậu không thấy chuyện này không dính líu gì tới cậu à?” Dính líu gì?  Tôi hỏi. “Hãy bắt chước Art Buchwald đi, nếu đời không có gì vui, thì sao không mang tặng cho đời một nụ cười?” Bạn tôi hỏi lại.

Bạn tôi kể “Từ tháng Hai năm 2006, khi bác sĩ cho biết vì ông không chịu lọc máu hàng tuần nên ông chỉ còn sống vài tháng nữa thôi, ông quyết định dọn vào hospice, một loại housing ‘tống tiễn’ những người chờ chết và muốn ra đi một cách êm thắm không làm phiền ai. Chính tại nơi chốn này, ông vẫn không ngừng viết và còn in cả một cuốn sách mang tựa Too Soon To Say Good Bye (Còn quá sớm để nói lời từ biệt).

Ly cà phê của tôi đã cạn. Tôi đứng nhổm dậy. Bạn tôi biết ý. “Thôi cậu ơi. Đủ rồi! Tối rồi, đâu phải buổi sáng mà không ngừng cà phê thế này. Mai tôi bay về lại tiểu bang ngập lụt New Orleans của tôi, tôi vẫn muốn hỏi lại cậu một câu: năm qua cậu đã làm được những gì?” Năm qua? Tôi có làm được gì đâu. Toàn những chuyện vớ vẩn. “Sao lại vớ vẩn?” Thì đấy, chuyện thì nhiều mà có ra cái khỉ gì đâu! “Vậy có nghĩa là cậu cũng có làm đôi ba chuyện phải không? Cậu nghĩ gì về những chuyện khỉ của cậu?” Tôi biết bạn tôi nhất định không buông tha tôi. Thì đành. Tôi nói: Tôi muốn nói lời xin lỗi. “Xin lỗi ai?” Xin lỗi tất cả mọi người. Tôi muốn xin lỗi những người tôi yêu thương, những người tử tế và cả những người không tử tế với tôi. Tôi muốn xin lỗi bạn, xin lỗi những người tôi quen, lẽ ra tôi phải làm điều này không nên làm điều kia, nhưng tôi đã làm nhiều điều ngược lại. Tôi nhớ câu nói của một ông anh trong vùng tôi đang sống, rằng sau khi hoàn tất một công việc, bao giờ người ta cũng thấy hai túi áo chứa đầy những lời cảm tạ và những lời xin lỗi. Cảm tạ những người đã từng giúp đỡ mình, đã từng chăm sóc mình, lo lắng cho mình, những người đã bất chấp những rào cản của cuộc sống đã đem cho mình tình yêu thương mà rồi đây suốt cả đời sẽ không bao giờ tìm thấy… Và trong túi áo kia là những lời xin lỗi vì mình đã không xứng đáng với lòng tử tế của họ, đã không hết lòng với họ, đã không trải lòng ra lắng nghe tiếng nói của họ. Tôi muốn nói lời xin lỗi với những độc giả của tạp chí Văn, tờ báo tôi đã làm ở Việt Nam sau anh Trần Phong Giao, và nay ở Mỹ sau nhà văn Mai Thảo, tờ báo đã đình bản mà không một lời xin lỗi. Cái lỗi đó quá lớn. Tại sao? Cả một năm qua, tôi nằm chờ chuyện đi xa, chờ từng ngày…Cậu thật là vớ vẩn! Cậu đã nói bao nhiêu lần câu này rồi?” Tôi nhớ tôi đã nói nhiều lần. Và cách đây mấy năm, nhà văn Võ Phiến có viết cho tôi một lá thư tay về cái ý nghĩ “vớ vẩn” đó của tôi đấy. “Ông Võ Phiến viết gì cho cậu vậy? Tôi muốn đọc được không?” Muốn đọc thật à? Lần tới tôi sẽ cho ông đọc. Nhưng ngay lúc này thì chưa được. Ừ, tối rồi, không cà phê nữa. Bây giờ tôi đưa ông đến một quán cơm Ý, tôi muốn uống một ly rượu đỏ với ông trước khi chia tay.

Mùa đông, mặt trời đi ngủ sớm. Bóng tối tràn ngập khắp bãi đậu xe trước quán cà phê Peet’s coffee. Và lạnh…. “Đúng, cậu vớ vẩn thật!” Bạn tôi nói.



NGUYỄN XUÂN HOÀNG
Tháng 12, 2009

Tiểu Sử của Nguyễn Xuân Hoàng

                                             

Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng sinh ngày 7 tháng 7 năm 1937 tại Nha Trang (Khánh Hòa). Mệnh chung ngày 13 tháng 9 năm 2014 tại San Jose, California USA

– Theo học trường trung học Võ Tánh (Nha Trang)  và Petrus Ký (Sài Gòn).
– Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Đà Lạt, khoa Triết (1958-1961)
– Nguyên cựu Giáo sư Triết tại các trường trung học Ngô Quyền ở Biên Hòa (1961-1962), Petrus Ký ở Sài Gòn (1962-1975) và Trường Sơn, Lê Bảo Tịnh, Huỳnh Thị Ngà, Thăng Long, Văn Hóa, Nguyễn Thượng Hiền, Regina Pacis
– Tổng thư ký tòa soạn tạp chí Văn ở Sài Gòn (1972-1974).

– Năm 1984, rời Việt Nam, định cư ở Hoa Kỳ từ 1985
– Năm 1986-1997, tổng thư ký báo Người Việt Daily News (California).
– Năm 1989-1994, kiêm tổng thư ký tạp chí Thế kỷ 21 (thuộc công ty Người Việt).
– Năm 1994-1996, thuộc ban biên tập  tạp chí Văn Học.
– Tháng 9 năm 1996, chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Văn do Mai Thảo bàn giao
– Tổng thư ký báo Việt Mercury trực thuộc nhật báo San Jose Mercury News của Hoa Kỳ từ tháng 11 năm 1998 đến tháng 11 năm 2005.
– Chủ bút tuần báo Việt Tribune 2006-2014.
– Phụ trách một trang blog cá nhân qua trang mạng Việt Ngữ của đài VOA (Tiếng Nói Hoa Kỳ), phần lớn về đề tài văn học nghệ thuật (http://www.voatiengviet.com/section/nguyen-xuan-hoang-blog-page/2711.html)
– Ngoài ra, ông cũng từng là giảng viên (lecturer) giảng dạy môn Văn học Việt Nam đương đại tại Đại học California-Berkeley.

Tác phẩm của Nguyễn Xuân Hoàng đã xuất bản gồm:
* Tập truyện ngắn
Mù sương (1966)
Sinh nhật (1968)
* Truyện dài
Bụi và rác (1996)
Khu rừng hực lửa (1972)
Kẻ tà đạo (1973)
Người đi trên mây (1987)
Sa mạc (1989)
* Các thể loại khác
Ý nghĩ trên cỏ (tiểu luận, 1971)
Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu (tùy bút, 1974)
Căn nhà ngói đỏ (tạp ghi, 1989)

Ngoài ra, ông còn một số tác phẩm chưa xuất bản, đó là: Lửa (truyện dài), Ai cũng cần phải có một bà mẹ (tùy bút), Sổ tay văn học…

  

                                   

 

                                         

                    

                              

Tiễn, nhớ anh Nguyễn Xuân Hoàng

Bùi Văn Phú – 01.10.2014

Bây giờ anh đã thanh thản bên kia thế giới. Tôi sẽ chẳng còn được đọc email hay nghe anh nhẹ nhàng than thở mỗi khi cơn đau dằn vặt: “Anh đau quá Phú ơi!”.

Biết anh đau, tôi chỉ an ủi, hỏi thăm anh uống thuốc gì và cầu xin Trời Phật cho anh có sức chịu đựng, cho gia đình tìm được cách chữa trị. Nhìn mái đầu bạc trắng, đôi mắt thoáng buồn, tôi thường chia sẻ với anh niềm tin vào sự an bài của Thượng Đế vì nào ai biết được ngày giờ ra đi.

Hay tin anh mất, tôi tìm đọc lại tạp bút “Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu”. Trong đó là văn chương lãng mạn của Nguyễn Xuân Hoàng qua nhiều mối tình, nhưng dành cho Vy (Trương-gia Vy) – sau này trở thành người bạn đời của anh từ 1974 đến nay – là nồng nàn nhất, hơn cả cho Vân, cho Trâm nào đó.

Cuốn sách xuất bản lần đầu, ở Sài Gòn, vào năm 1970 khi anh đã có danh trong làng văn học. Hai năm sau tôi mới biết đến tên anh, nhưng là qua sách giáo khoa, qua những bài ôn thi về tâm lý học, đạo đức học, luận lý học của môn triết lớp 12.

Thời đó tôi mê đọc Tuổi Ngọc, không biết đến Văn nên không có cơ duyên đọc Nguyễn Xuân Hoàng. Tôi thích truyện của Duyên Anh, thơ Phạm Thiên Thư, Mường Mán, Từ Kế Tường.

Đọc lại bài tùy bút “Bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu” và cũng là tựa của tập sách của anh, với lãng mạng của tình yêu – như có thực trong đời sống – không triết lí nhức đầu, tôi bồi hồi xúc động nhớ anh.

“Vy yêu, em có còn nhớ cái lối quảng cáo của người Nhật về những sản phẩm đặc chế của họ. Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Đâu Cũng Chỉ Có Hai Ta. Ừ, cũng chỉ có hai ta.”

“Ngày mai, tôi sẽ phải vào bệnh viện trở lại. Những dấu hiệu tái phát của căn bệnh cũ đang bắt đầu lộ diện và đang hành hạ tôi. Bạn tôi bảo: “Mày chưa chết được đâu. Đừng sợ. Sống thì khó chứ chết thì ai mà chẳng có phần.”

Đó là những dòng chữ của anh, viết năm 1968, cho chị Vy khi hai người đang yêu nhau. Đó là trầm tư về cuộc đời, về cơn bệnh, có thể chỉ là trong tưởng tượng, mà anh đang đối diện. Hay là một điều anh tiên đoán trước?

“Sống thì khó” nhưng qua nửa thế kỷ anh đã sống với nhân cách để được bạn bè quí mến.

Những lúc café với nhau tôi hay hỏi anh về buồn vui dạy học, về sự tinh nghịch của học trò và chia sẻ với anh những kỉ niệm dạy học của tôi ở châu Phi, ở Mỹ. Tôi cũng thường muốn nghe anh nói về những tác phẩm, những nhân vật hay những người thầy vang danh một thời: Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng, Vĩnh Để, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Trọng Văn, Ngô Đình Lệ Thủy, Nguyễn Văn Kỷ Cương, Tôn Thất Trung Nghĩa, Oriana Fallaci, Trùng Dương, Mai Thảo, Phạm Duy. Gợi chuyện để anh chú tâm kể, quên đi cơn đau đang râm ran trên từng đốt xương.

Lúc đó anh nói có đốt xương sống đè lên dây thần kinh làm đau, chứ chưa biết bệnh gì. Sau những thử nghiệm khoa học, các bác sĩ xác định được là chứng ung thư xương.

Hơn năm qua anh đã phải chống chọi với căn bệnh. Qua nhiều lần chữa trị bằng hoá chất, bằng quang tuyến nhưng cơ thể anh không còn chịu đựng được nữa.

Sáng thứ Bảy 13/9/2014 anh ra đi, sau 77 năm ở chốn dương trần.

Tang lễ, nghi thức tưởng nhớ và lễ hoả táng đã được cử hành vào cuối tuần qua tại Oak Hill Memorial Park. Tro than được an vị tại chùa Liễu Quán ở San Jose.

Bây giờ anh không còn phải sửa bài cập nhật của tôi, nhiều khi liên tục vì mang tính thời sự vào những phút trước khi làm xong báo để đưa sang nhà in vào chiều thứ Năm.

Tôi sẽ không còn nhận được email của anh: “Hôm nào Phú xuống, mình đi café nhé.”

Ngày còn anh, thỉnh thoảng tôi xuống San Jose, gặp nhau, chúng tôi thường ăn phở Tàu Bay, rồi qua quán Starbucks, cả hai nơi đều gần tòa soạn Việt Tribune trên đường Oakland Rd., con đường đã trở nên thân quen với tôi từ khi tòa báo đặt ở đó tám năm qua.

Trước khi có Việt Tribune, mỗi lần từ Berkeley xuống thung lũng hoa vàng thỉnh thoảng tôi ghé trụ sở báo San Jose Mercury News, trên đường Ridder Park Drive để tìm mua những số báo cũ đặc biệt về Việt Nam. Tòa soạn Mercury News không xa Việt Tribune sau này là bao. Khi Việt Mercury ra đời năm 1998, có anh về làm tổng thư ký, tôi cũng thường ghé đây lấy báo.

Nhưng lúc đó chưa thân với anh. Những năm đầu của Việt Mercury, anh mời tôi cộng tác, nhưng tôi từ chối vì tôi và nhiều người trong giới báo chí vùng San Jose quan ngại sức mạnh tài chánh của tập đoàn Mercury News, là báo mẹ của Việt Mercury, sẽ gây hệ quả đưa đến sự đình bản của những tờ báo kiểu gia đình do người Việt làm chủ.

Năm năm sau khi Việt Mercury ra đời, các báo tiếng Việt không chết mà vẫn tiếp tục phát triển. Tôi bắt đầu cộng tác với Việt Mercury năm 2003.

Trái với lo lắng của giới truyền thông Việt ngữ vùng San Jose, tờ Việt Mercury không giết những báo tiếng Việt khác mà tự thân nó cũng không sống được lâu vì trả lương theo tiêu chuẩn cao cho gần 20 nhân viên, không thu được quảng cáo trong cộng đồng người Việt vì giá đắt gấp ba, bốn lần so với các báo khác. Không sinh lời, tờ báo đình bản vào cuối năm 2005.

Sau khi Việt Mercury đình bản, anh không về Quận Cam, tiếp tục ở lại San Jose, cùng chị Vy ra tuần báo Việt Tribune.

Tôi cộng tác với anh ngay từ đầu và đến nay đã được 438 số. Số 437 phát hành khi anh còn ở cõi dương trần. Việt Tribune số 438 là để “Tưởng mộ Nguyễn Xuân Hoàng”.

Sáng Chủ nhật viếng anh lần cuối trước giờ đóng nắp áo quan. Mọi người nhìn anh, gửi theo anh hoa hồng vàng, hoa lily trắng.

Tôi đặt bên anh đoá hoa vàng, kèm theo tờ Việt Tribune số 438 để về nơi cõi khác anh đọc những gì bạn bè, gia đình đã nhớ đến anh, viết về anh với kỉ niệm, với văn chương. Đinh Cường, Trần Trung Đạo, Từ Kế Tường, Trương Xuân Mẫn, Andrew Lưu, Đinh Từ Bích Thuý, Đức Tuấn, Phùng Nguyễn, Trần Vấn Lệ, Nguyễn Hoàng Tuấn, Trịnh Y Thư, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Hưng Quốc và nhiều người nữa, không chỉ trong giới văn chương mà từ nhiều góc của đời sống.

Mong anh, ở trên mây, luôn nhớ đến đứa con tinh thần, đứa con của công chúng được anh và chị Vy khai sinh, được nhiều thân hữu trong làng báo, chốn văn chương, trong cộng đồng và giới thương mại góp phần nuôi dưỡng.

Anh ra đi, được nhiều người thương mến đến tiễn. Bạn bè truyền thông như Đỗ Quý Toàn, Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, Phạm Phú Thiện Giao, Đoàn Thanh Liêm, Đỗ Vẫn Trọn, Thư Sinh, Đinh Quang Anh Thái, Nguyễn Văn Khanh, Vũ Bình Nghi, Thanh Thương Hoàng, Trần Đệ, Nguyễn Tường Tâm, Nguyễn Xuân Nam, Huỳnh Lương Thiện, Quỳnh Thi, Quốc Bảo, Nghê Lữ, Huy Phương, Nguyên Khôi, Lý Kiến Trúc, Mỹ Lợi, Hạnh Dương.

Là thầy giáo suốt quãng đời ở Việt Nam, trước năm 1975, nên nhiều học trò cũ từ Pétrus Ký, Ngô Quyền, Regina Pacis đến chào anh lần cuối.

Nhiều người liên quan đến chính quyền Việt Nam Cộng hoà cũng đã viếng anh, gửi lời phân ưu. Cựu Tư lệnh Không quân Đại tá Nguyễn Xuân Vinh, các cựu bộ trưởng Nguyễn Đức Cường và Hoàng Đức Nhã, cựu thẩm phán Trần An Bài, cựu Trung tá Nguyễn Mộng Hùng.

Đến chào vĩnh biệt anh có những dân cử: Nghị viên Madison Nguyễn, Nghị viên Sam Liccardo, Giám sát viên Cindy Chavez, Thị trưởng Milpitas Jose Esteves. Có người của cộng đồng như qúi ông Hoàng Cơ Định, Hoàng Thế Dân, Chu Tấn, Đỗ Hùng, Nguyễn Tấn Thọ.

Kiều Chinh, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Du Tử Lê, Phan Nhật Nam, Đỗ Vẫn Trọn, Lữ Quỳnh, Hải Phương, Chinh Nguyên, Đông Anh, Đào Hải Triều, Phạm Ngọc, Trần Quảng Nam, Tú Minh, Nguyệt Cầm, Hạnh Trần, Đồng Thảo, Trịnh Thanh Thuỷ của giới văn học nghệ thuật.

Nhã Ca và Trần Dạ Từ đặt bên anh thêm hai đóa hoa, thay mặt cho Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến.

Ý Lan hát cho anh nghe lần cuối, như thay lời mọi người ngậm ngùi tiễn anh: “Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi, còn gì đâu nữa mà khóc với cười…”

Bây giờ anh đã ở trên mây. Nơi đó, gặp lại Mai Thảo, Phạm Duy, Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Nguyễn Đức Quang, Nguyễn Chí Thiện, Vũ Ánh, Trương Trọng Trác, Nguyễn Mộng Giác anh em lại tiếp tục bàn chuyện văn học, sinh hoạt báo chí.

Xin chia tay
Và nếu là mãi mãi
Thêm một lần
Rồi mãi mãi chia tay

Mượn ý thơ Lord Byron để vĩnh biệt anh. Luôn mãi nhớ anh.

                                              Bùi Văn Phú, Nguyễn Xuân Hoàng

Sống đến cuối đời như một nhà văn

“Khí thiêng nay đã về thần.” Nguyễn Du

Chưa từng thấy ai quảng giao như Nguyễn Xuân Hoàng. Sự quảng giao không chỉ nằm ở điểm có nhiều người quen biết Hoàng, và Hoàng biết họ tường tận từ công ăn chuyện làm đến tánh tình cũng như những hành xử với người chung quanh mà còn ở điểm họ yêu quí dầu Hoàng chẳng giúp cho họ gì nhiều trong khi sự thân thiết rất là giới hạn, sự bộc lộ, kể cả sự vồn vã như không bao giờ có.
Có thể là nụ cười hiền của Hoàng. Có thể là cái chào nửa thân thiện nửa xa cách nghiêm trang, khiến người nhận cảm thấy mình gần gũi với Hoàng. Khó tánh trong sự giao thiệp, ít nói với người lần đầu mới gặp, không đưa ra ý kiến về những điều có thể tranh cãi không đi đến đâu, vậy mà ai gặp Hoàng cũng cảm nhận sự thân thiện, cảm thấy Hoàng là bạn của mình. Bạn thân nữa là khác!

Khuôn mặt đẹp trai với dáng nho nhã cao ráo chăng?
Cử chỉ với bộ điệu toát ra vẽ Tây của mấy anh học ban Triết chăng?
Sự chừng mực vừa phải khi tiếp chuyện, tánh hiền lành, không xốc nỗi của người trí thức chững chạc chăng?
Cái hay là người ngoài thấy tất cả những điều đó ở Hoàng.

Về trường Petrus Ký đầu năm 1968, sau khi ở trường Nguyễn Đình Chiểu một thời gian rồi một cơ quan khác, rồi Bộ Giáo Dục, tôi là lính mới của GS môn Triết học, Hoàng đã ở đây nhiều năm rồi, tôi lại là người không được đào tạo chánh qui, tốt nghiệp cử nhân Triết Tây, là con đường mở ra cho nghiên cứu là chánh dạy học là phụ, không phải được đào tạo chuyên để đi dạy như những Giáo Sư tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm ban Triết, tôi như có mặc cảm nên miễng cưỡng nhận hai lớp 12, một A và một B, chỉ là nửa số giờ cần thiết cho cả tuần. Sợ tôi buồn, Hoàng an ủi và nói rằng ở đây thầy giáo môn học cao kỳ nầy coi vậy mà dư, số giờ còn lại trong tuần phụ trách môn Việt Văn càng dễ ăn. Có cảm tình với Hoàng từ đó và cùng một lứa bên trời lận đận (VHC), chúng tôi thân nhau ngay.
Khóa Quân Sự 6/68 của tất cả giáo chức Miền Nam cùng học chung quân trường Quang Trung 9 tuần, Hoàng nổi bật lên trong số đông và ngay cả trong nhóm làm tờ báo của khóa. Tôi bắt đầu đi chơi với Hoàng và các bạn văn của anh nhiều hơn sau đó. Thân nhau như là bạn đồng nghiệp, bạn du hí chớ không phải là bạn văn vì tôi chưa thích sáng tác, và cũng chẳng bao giờ bàn chuyện văn nghệ đương thời với Hoàng và các bạn viết văn của Hoàng như Đặng Phùng Quân,  Huỳnh Phan Anh,  Hoàng Ngọc Biên,  Sơ Dạ Hương, Nguyễn Đình Toàn….

Thời gian sau đó cũng vậy, ngồi đồng ở LaPagode cà phê, tán gẩu xen lẫn việc đọc/viết lăng nhăng, tụ tập ở nhà Hoàng trên con hẻm ở đường Yên Đổ lắm lần kéo xì còm… cũng là bạn cùng nghề bán cháo phổi mà thôi. Tôi hiện diện với bạn nhưng là cái bóng mờ ít ăn, ít nói trong đám. Hoàng nói Sâm nó là Đồ Nho không phải Đồ Tây, nó thích ngồi nghe. Sau câu nói là tiếng cười dòn như để chữa lửa.

Người nghe không giận, không bực mình, biết rằng người nói chỉ cốt nói cho vui bạn, vui nhóm. Và chúng tôi vẫn thân thiện. Sau nầy ít gặp nhau hơn sau khi tôi chuyển đi khỏi trường về dạy ở trường khác, nhưng khi gặp nhau vẫn thân thiết mầy tao như thường.
Chuyện mầy tao của hai đứa, hôm qua chị Vy có nói Hoàng như không mầy tao với ai hết ngoài với anh Sâm. Nhớ lại có lần, cách đây hơn 10 năm nhà báo Lê Huỳnh Mai của Canada tỏ sự ngạc nhiên với tôi: Biết hai người thân nhau, nhưng không ngờ hai anh mầy tao với nhau nghe ngộ ngộ nhưng mà thấy thân thiết, ít có của người lớn tuổi.

                

Nguyễn Xuân Hoàng & Nguyễn Văn Sâm

Quốc nạn 75 trùm lên đất nước. Ai nấy cuống cuồng ra đi.
Hoàng đi nhiều lần và bị bắt bị tù cũng lắm. Nhiều lần Hoàng kể về một câu chuyện ‘lạnh toát mồ hôi nhưng kết thúc nhẹ nhàng’ kèm theo tiếng cười cuối cùng chấm dứt bằng cái chép miệng: Đời thiệt ngộ!
Năm đó tao bị bắt ở Rạch Giá, mình liệng hết giấy tờ tùy thân. Họ thẩm vấn cả ba bốn tuần lễ. Thẩm vấn thôi không đánh đập gì, nhưng mà căng thẳng lắm, khiến mình lo sợ bị quy thêm tội khác ngoài tội vượt biên. Họ thay đổi thẩm vấn viên nhiều lần, mỗi lần thường là hai người. Có lần kia thẩm vấn là hai công an một nam và một nữ, người nữ còn trẻ, đẹp nhưng thiệt nghiêm trang, ghi ghi chép chép liên tục. Hỏi những chi tiết về gia thế (giả) của mình. Mình cũng trả lời (xạo) nhưng cố gắng nhớ những điều đã nói trước đó.
Hai ngày sau lại bị thấm vấn nữa. Lần nầy chỉ có nữ công an kia mà thôi.
Công việc vẫn bình thường.
Nửa chừng cô ta nghiêm mặt nhưng nói thiệt nhỏ:
Chào thầy Hoàng!
Mình lạnh tóc gáy. Vậy là họ biết hết rồi.
Mình ngồi im. Một lúc lấy lại bình tĩnh, mình hỏi thiệt thân mật:
Cô hồi trước học Triết với tôi?
Vâng! Thầy dạy rất sinh động, lâu rồi em vẫn còn nhớ nhiều điều thầy dạy.
Mình thấy nhẹ nhàng với câu nói của cô ta. Chắc là cô ta được đào tạo ở Sài Gòn, sau nầy thoát ly hay là con cháu gì đó của họ.
Thầy có thể cho biết tại sao lại vượt biên trong khi nước nhà đã thống nhất?
Tôi dạy Triết như cô biết. Và tôi viết văn. Không được dạy Triết. Không được viết văn. Thấy những điều xảy ra trước mắt như có chất nổ trong mình khiến tôi như muốn bị nổ bung. Vượt biên sống cảnh đời khác may ra bụng tôi không bị bể.
Mình cố cười nhè nhẹ cho không khí không khó thở.
Cô ta xếp lại hồ sơ:
Thầy đừng nói với ai chuyện hôm nay.

Từ đó mình không bị kêu lên hỏi cung nữa, được đối xử tử tế hơn và được thả về sớm.
Tôi hỏi:
Có gặp lại người đẹp không?
Vẫn là cái câu trả lời trách móc kiểu bạn bè thân thiết mà tôi thường gặp ở Hoàng khi không muốn trả lời:
Mầy… Tiếng mầy kéo dài đùa cợt ngay cả thời gian bịnh tình hành hạ mấy tháng gần đây.

Tôi nghĩ số may của Hoàng do anh ngửng cao đầu xác nhận mình là nhà giáo, mình là nhà văn. Không được làm thầy giáo, không được làm nhà văn, anh chỉ còn cách bỏ đi. Điều đó cộng với cái may gặp được học trò do mình dạy ở Sài Gòn. Trong hoàn cảnh cũng tương tợ, nhà giáo, nhà thơ Tạ Ký, cũng là thầy của trường Petrus Ký đã chết trong tù vì nhà thơ Tạ Ký không có cái may như nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.

Hoàng đến Mỹ 1985, định cư ở Virginia, than lạnh, buồn, ít bạn bè, tìm người đồng sở thích hợp tánh càng khó kiếm.
Tôi khuyên bạn nên về California vì ở đó hơn đâu hết thích hợp với người văn chương trong khi khí hậu cũng dễ chịu cho người  VN vốn ưa nắng ấm. Hoàng chần chờ 1, 2 năm rồi cũng khăn gói quả mướp xuôi về Viễn Tây. Sự nghiệp làm báo và viết lách ở hải ngoại của Hoàng bắt đầu phát triển từ đây, lên cao nhứt trong những năm làm cho tờ Viet Mercury.

Số làm báo đeo đẳng Hoàng tới những ngày chót của đời. Tờ báo Viet Tribune của vợ chồng Hoàng-Vy không khó khăn tài chánh lắm nhưng chỉ đủ cho gia đình sinh sống nếu sử dụng thiệt ít nhân viên. Và Hoàng là người làm nhiều nhiệm vụ, dịch tin, viết tin, chọn bài layout, ngoại giao… Tôi từng thấy Hoàng nhiều lần, dầu khi bịnh trở nặng, đi phải chống gậy, cũng ngồi trước máy tính đọc và sửa bài cho số báo tới, bận bịu nhứt là ngày thứ Năm, ngày ra báo.
Đó là nhiệm vụ đã đành nhưng cũng là niềm đam mê tuyệt cùng của một nhà văn, nhà báo yêu nghề. Tôi nói Hoàng nên nghỉ dưỡng sức, để công việc cho em nào đó trong tòa soạn lo thì đươc trả lời là không yên tâm, vả lại mình thích làm chuyện gì đó liên quan tới tờ báo để tự an ủi là cơn bịnh chưa vật ngã mình, chưa tấn công được cái đầu văn chương của mình. Nụ cười nửa miệng cố hữu không thành tiếng ở những trường hợp nầy mới thấy sự vui làm việc là niềm an ủi tinh thần, những lúc đó Hoàng trông phấn chấn hẳn ra, anh uống thuốc không miễn cưỡng như những lúc khác và chịu ăn món gì đó mà ai đem đến hay mời mọc.

Ở Nam Cali lên thăm bạn khi nào rỗi rãnh hay khi nghe bạn ra vô nhà thương, tôi đến nhà Hoàng, gặp ngày sắp đem báo đi in lần nào cũng vậy, tôi và anh bạn trẻ Nguyễn Tuấn Khanh cũng đều có thể dễ dàng chở Hoàng đi ăn gì ở đâu đó, không nhiều nhưng có ăn và Hoàng vui vẻ chuyện trò hay lắng nghe. Lần đi với Hoàng Ngọc Biên gần đây, Hoàng nói thiệt nhiều và nhắc lại một số kỷ niệm về đời sống văn nghệ của mình ngày xưa với tờ báo Văn hay những tác phẩm đã xuất bản. Sự yêu thích làm việc, tiếng gọi của tờ báo khiến bạn không thấy sự hành hạ thể xác của bệnh, Hoàng vui hẳn, mặt thêm chút sinh khí, đi đứng cũng như ngồi ăn lâu không mấy gì khó khăn.
Sau những lần như vậy Nguyễn Tuấn Khanh thường nói: Anh Hoàng say mê làm báo, sự say mê đó khiến anh quên mình đang bịnh. Anh chỉ nhớ mình là một nhà văn đương hành nghề nhà báo.
Sau nầy, khoảng hai tháng gần đây, ngồi lâu không được nữa, không được  lo cho tờ báo nữa, Hoàng nằm nhiều hơn, bạn bè họa hoằn lắm mới kéo được bạn ra phòng ngoài, ngồi ăn chút đỉnh, uống chừng hai ba ngụm cà phê, bánh croissant là thứ Hoàng thích nhứt từ thời trẻ trên Đà Lạt tới giờ, vậy mà anh cũng chỉ ăn ơ hờ! Hoàng  thường ngồi thẳng, nghe nhiều, chỉ nói một hai tiếng, cười nhẹ góp vui khi bạn bè nhắc chuyện tầm phào thời trai trẻ xa xưa.

Vài lần cả bọn ngồi uống cà phê  Peet’s coffee hay Starbucks, dầu rằng lúc nầy bịnh Hoàng đã nặng và thường đau nhức nhiều, đôi khi tâm sự rằng: ra ngoài với bạn than đôi lời cho hả hơi, không dám than ở nhà sợ bà Vy buồn lo tội nghiệp. Ôi tình cảm đáng yêu của người chồng đầy tràn như biển đông, tới phút cuối vẫn dành cho người vợ 40 năm của mình một sự cảm thương vô hạn.

Sau khi đọc bài của Sơn, cựu học sinh Petrus Ký về tình trạng bịnh của Hoàng, sáng thứ sáu tôi bắt xe đò lên San Jose, lật đật tới Nursing home nơi Hoàng nằm, trước mắt tôi là hình ảnh của một người đang ở giai đoạn cuối cùng của cuộc đời. Hoàng nhắm nghiền mắt, thỉnh thoảng mở ra ngó vào khoảng không vô hồn, mặt không biểu lộ tình cảm, chỉ là phản ứng của sự co cơ do thuốc hành làm giật mình từng cơn …
Chị Vy nói lớn: Anh Sâm lên thăm anh, anh biết thì bóp tay anh ấy cho anh ấy vui. Vy lập lại  lần  thứ hai thì tay tôi bị bóp không phải một mà hai ba cái. Tôi vui vì biết bạn mình còn dính dáng đến cuộc đời dầu chân đã đặt lên bên kia bờ của tử vong. Tôi nói vài câu thương bạn, đến thăm là mong bạn buông xả, thanh thản, ‘tao thương mầy, mầy hiểu thì bóp tay tao’.
Và Hoàng đã bóp tay tôi hai cái nữa. Mạnh và ấm. Nắm tay bạn thiệt lâu. Nhìn những chỗ bầm đen trên mu bàn tay và khuỷu tay trái, tôi đau lòng quá, không có chuyền nước biển, không có ống trợ thở Oxy, không có gắn sẵn dụng cụ để tim chích khỏi tìm mạch máu… hình như bạn tôi đã có một quyết định quan trọng về sự ra đi gần kề của mình.
Vy giải thích: Anh Hoàng ký giấy đồng ý không cần tiêm thuốc nữa, chỉ chích morphine giảm đau.
Tôi quay mặt ra ngoài cố nén tiếng thở dài và lén nuốt hơi thở. Bạn mình chỉ còn lại từng giờ. Tôi nói “Tao về, mai lại vô thăm mầy trước khi về lại Orange County.”

Cặp mắt Hoàng vẫn mở nhưng vô hồn thiệt tình, hai hố mắt sâu hoắm, mắt bên mặt đen bầm quầng thâm do bị té mấy ngày trước. Đôi môi Hoàng mấp máy, cục cổ hình như di động, miệng mở ra như cố nói một câu dài, tôi cúi xuống thiệt gần nhưng không nghe được âm thanh nào phát ra. Bạn tôi muốn nói gì đó với tôi, linh hồn bạn vẫn còn hiện hữu, ý thức bạn chắc chắn là còn và đang tranh đấu với sự lấn chiếm của u minh nhưng thân xác bạn lại đương trên đường bỏ cuộc. Tôi nhìn bạn, bi thiết, não nùng, con người ở cuối cùng cuộc đời thiệt là thiểu não, nhỏ đi, ốm o, hốc hác, nét tinh anh tháng trước  vẫn còn ít nhiều phãng phất, nay đã hoàn toàn biến mất! Thân xác đời tạo cho một con người đã thua cuộc căn bịnh, chút linh hồn còn hiện diện trong những cố gắng bóp tay người đối thoại hay mấp máy đôi môi là chút ánh sáng le lói của hoàng hôn đời trước khi tắt ĩm.
Tôi có cảm giác Hoàng nói lời từ giã đời, từ giã bạn, dầu thâm tâm tôi muốn Hoàng sống thêm ngày nào hay ngày nấy. Tôi nói lời từ giã bạn, bóp tay bạn và nói mầy bóp tay tao đi, nói hai ba lần nhưng tay Hoàng không động đậy gì nữa trong tay tôi. Chắc Hoàng đã mệt và cảm thấy đủ.
Tôi từ giã Hoàng-Vy, hẹn hôm sau sẽ đến thăm lần nữa. Vậy mà chưa hết một vòng quay thời gian hò hẹn thì Hoàng đã vội vã ra đi.

Biết sinh ly tử biệt cũng là chuyện thường tình, nhưng tim tôi như nhói lên đau nghẹn.
“Hoàng, sao mầy không cho tao và Khanh gặp mầy thêm hôm nay? Cõi phù sinh tuy tạm bợ nhưng sao mầy không ở lại thêm mấy giờ nữa cho tao khỏi lỡ hẹn với bạn và xuôi Nam trong tiếc nuối?”
Khanh nói: Anh Hoàng hai tuần trước còn đọc mấy trang đầu quyển sách Bước Đường Cải Lương của em. Lần cuối đến thăm anh ấy ở nhà, trên đầu giường vẫn còn quyển sách.
Tôi nghĩ đọc không phải vì sách hay dở gì, đọc là hành động thường xuyên đã trở thành quán tính của nhà văn. Sa Mạc với nhân vật Kha là phiên bản của con người tác giả, trong khi đó cuộc sống của Hoàng là phiên bản của một nhà văn đích thực yêu tha thiết đời sống văn nghệ của mình.
Nhà văn tới lúc ra đi thì ra đi thôi. Dứt khoát. Tuy nhiên trong cái gạch nối khoảng giữa hai dòng sinh-tử, nhà văn cũng có cái kiêu hãnh để ngửng mặt bay vào cõi vĩnh hằng mà không đắn đo bịn rịn, bởi vì đi hay ở cũng là một thoáng mây trời rong chơi. Nguyễn Xuân Hoàng ở trong trường hợp đó!

Nguyễn văn Sâm
San Jose, Sept 13, 2014

 Văn Quang – Viết từ Sài Gòn ngày 27.9.2014

Chỉ trong 7 ngày, 3 người bạn ra đi

(Nguồn: VienDongDaily.Com – 27/09/2014)

Tôi hy vọng chia sẻ bài này với bạn đọc đã từng phải vĩnh viễn chia tay với những người bạn thân trong đời. Nhưng chỉ trong một tuần lễ, vỏn vẹn 7 ngày mà có tới 3 người bạn thân ra đi trong khi mình ở cái tuổi gần đất xa trời hơn thì làm sao tránh khỏi chạnh lòng, bỗng cảm thấy cuộc đời ngắn ngủi và vô thường quá chừng!
Văn Quang


Nguyễn Xuân Hoàng và Văn Quang 10 năm trước

Chỉ trong vòng 7 ngày vừa qua, ba người bạn tôi “ra đi”. Tất cả đều kém tuổi tôi, thậm chí có ông mới chỉ 58 tuổi mới ra đi ngày 20-9, một ông 76 ra đi ngày 12-9 và một ông 77 ra đi ngày 13-9. Trong khi ngày 21-9 là ngày sinh nhật thứ 82 của tôi. Lẽ ra trong số những người này, tôi phải là kẻ ra đi trước tiên mới đúng… luật “già trẻ”. Nhưng trên đời này bao giờ cũng có những “ngoại lệ” đau lòng.

Ở đây, tôi không phân biệt “văn nghệ lớn hay văn nghệ nhỏ” và với tôi cũng chẳng có thứ hạng nào trong văn học nghệ thuật cả. Ông nào làm được gì cứ làm, suy tính làm gì tới những chuyện vớ vẩn đó. Chuyện đáng nói là anh sống với mọi người ra sao, thế thôi. Đã là bạn, ông nào tôi cũng kính trọng và thương nhớ dù là tướng hay là lính cũng là con người cả thôi. Văn hay võ, chẳng có gì quan trọng. Miễn là họ đã sống với tôi và trong tôi như thế nào. Một anh bạn tù, đôi khi tôi chẳng còn nhớ anh ta làm nghề gì, ở đâu, nhưng vẫn có những phút giây khiến tôi nhớ mãi đến một thái độ, một hành động, một câu nói ân tình của người đó.

Tôi hy vọng chia sẻ bài này với bạn đọc đã từng phải vĩnh viễn chia tay với những người bạn thân trong đời. Nhưng chỉ trong một tuần lễ, vỏn vẹn 7 ngày mà có tới 3 người bạn thân ra đi trong khi mình ở cái tuổi gần đất xa trời hơn thì làm sao tránh khỏi chạnh lòng, bỗng cảm thấy cuộc đời ngắn ngủi và vô thường quá chừng!

Về người ở xa, anh Nguyễn Xuân Hoàng

Với ba người bạn vừa ra đi, mỗi người đi một cách khác nhau. Tôi muốn kể đến người ở xa trước. Đó là anh Nguyễn Xuân Hoàng 77 tuổi ở San Jose. Anh kém tôi 5 tuổi và thật sự tôi không thể nhớ quen biết anh từ bao giờ. Trước năm 1975, tôi và anh chưa quen biết bởi mỗi người làm việc trong một môi trường khác nhau. Anh là nhà giáo “chính hiệu”, còn làm báo đối với anh lúc đó chỉ là nghề tay trái. Còn tôi, làm việc trong quân đội.

Tôi nhớ khi mới gặp nhau lần đầu ở Sài Gòn, có lần Nguyễn Xuân Hoàng hỏi tôi:

– Hồi xưa (trước năm 1975) anh đã từng làm chủ bút mấy tờ báo Quân Đội, lại là sĩ quan trừ bị, anh có đủ điều kiện xin giải ngũ, ra Bộ Thông Tin, xin cái giấy phép làm tờ nhật báo rồi lao vào nghề hoặc cho thuê manchette cũng được vài trăm ngàn một tháng, tha hồ sống khỏe mà chẳng phải làm gì.

Tôi phải giải thích:

– Đáng lẽ tôi được giải ngũ theo luật định, nhưng lại cũng theo luật định, tôi được giữ lại Quân Đội vì lý do “sĩ quan chuyên môn không có trường đào tạo”. Thời kỳ đó Quân Lực VNCH có đủ các trường như Pháo Binh, Thiết Giáp, Truyền Tin… nhưng không hề có trường nào dạy báo chí và truyền thông. Thế là cứ ở với quân ngũ dài dài và suốt đời vẫn chỉ là sĩ quan trừ bị. Vả lại sau một thời gian phục vụ trong quân đội, tôi thấy yêu cuộc đời quân ngũ và bằng lòng với tuổi trẻ của mình.

Hoàng cười:

– Và cũng tại hồi đó các cô gái Sài Gòn đều là “em gái hậu phương, thương anh trai tiền tuyến”. Đúng không?
Tôi không phủ nhận tâm trạng này nhưng chỉ là một phần trong đời sống của tôi.

Sau này, khi anh NX Hoàng làm Tổng Thư Ký cho tờ báo Việt Mercury ở Mỹ, tôi bắt đầu hợp tác với báo anh làm. Từ đó chúng tôi hiểu nhau và dễ dàng thông cảm với nhau. Đôi khi có dịp về Sài Gòn, không lần nào anh không tìm gặp tôi cùng vài người bạn.

Có buổi chiều chúng tôi đi bộ trên những con đường đầy bóng cây cổ thụ, anh nói:
– Không bao giờ ngờ lại có ngày đi với Văn Quang trên những con đường xưa như thế này.
Anh dốc bầu tâm sự về đủ thứ chuyện, kể cả chuyện tình cảm riêng tư, có lẽ tôi là người hiểu rõ anh hơn hết những người bạn ở đây. Tôi không nhớ anh về Sài Gòn bao nhiêu lần, có lần anh và chị Trương Gia Vy, vợ anh, cùng về và cùng đến nhà tôi ăn vài món gia truyền của gia đình tôi.

Chị Vy là “con cháu nhà đại gia” mà tôi biết khi thân phụ chị là một vị dân biểu rất nổi tiếng ở Hạ Nghị Viện VNCH mà phóng viên của Đài Phát Thanh Quân Đội có vài lần phỏng vấn. Phải nói thật là chúng tôi cũng tìm cách vận động để ngân sách của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đưa ra Quốc Hội được ông cùng một số dân biểu ủng hộ, không bị cắt xén như những tổng cục khác.

Chị Vy có đặc tính của phụ nữ miền Nam, thật thà, đôn hậu, thực tế trong khi Nguyễn Xuân Hoàng lại có tính lãng mạn của mấy anh nghệ sĩ với những mơ ước tưởng như không bao giờ với tới được. Có lẽ chính vì vậy họ hợp thành một cặp rất đẹp đôi cho đến cuối đời.


Đằng Giao, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Xuân Hoàng ở quán Cà Phê Ân Nam Sài Gòn

Chị Vy, Ng Xuân Hoàng cùng bạn bè ở nhà Văn Quang năm 2004

Những ngày sau cùng

Khi anh Hoàng và chị Vy làm tờ báo Việt Tribune riêng của mình, tôi vẫn hợp tác, ngoại trừ thời gian tôi bị “hỏi thăm sức khỏe,” bị “cấm viết ra nước ngoài” và bị phạt vì tội “vi phạm internet,” cái thứ tội mà tôi không thể hiểu rõ đó là tội gì.

Hoàng điện thoại hỏi thăm nhưng thời gian đó điện thoại và internet nhà tôi bị cắt hết, anh hỏi thăm qua bạn bè. Hoàng rất thông cảm nhưng cũng chẳng thể làm gì hơn. Sau đó, tôi lại tự mình đứng lên, “tự mình tha tội cho mình” và lại tiếp tục con đường tôi phải đi.

Hoàng lại giục tôi gửi bài cho báo anh. Bài hàng tuần tôi viết cho khá dài nên tôi nói Hoàng cứ “tự do” xén bớt cho hợp với báo của mình. Tôi hoàn toàn tin ở anh. Có điều rất lạ là Hoàng thường tỏ ra buồn chán, tôi không thể hiểu hoàn toàn lý do nào. Sau một thời gian tôi mới biết Hoàng bị bệnh khá nặng.

Trong thời gian vài năm sau này, thỉnh thoảng tôi nhận được một cái mail của Hoàng, ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa của một căn bệnh “chán chường”. Thỉnh thoảng tôi điện thoại thăm hỏi, anh còn nói chuyện được năm ba phút. Nhưng lần sau cùng, cách đây khoảng hơn một tháng, khi tôi gọi, Hoàng bắt máy, nhưng chỉ nói được đúng một câu sau cùng “Tôi mệt quá anh ơi!” Tôi vội vàng cúp máy và thăm dò bệnh tình Hoàng qua những người bạn ở San Jose. Và điều tôi hiểu là Hoàng sẽ phải vĩnh viễn từ giã cuộc đời trong một ngày không xa.

Tôi hồi hộp chờ đợi một tin buồn sẽ đến, một thứ tin buồn được báo trước. Rồi tôi cũng nhận được điện thoại của người bạn ở San Jose báo tin này ngay sau khi Hoàng từ trần vào lúc gần 11g sáng ngày 13-9. Tôi chỉ kịp gửi đến chị Vy vài hàng chia buồn bởi tôi biết lúc này chị chẳng còn thì giờ,chẳng còn tâm trí đâu mà đọc.

Hàng ngày vào internet, tôi đọc được rất nhiều lời phân ưu, thương tiếc của rất nhiều bạn bè anh ở khắp nơi trên thế giới. Có lẽ ít có người nào dù ở bất kỳ thành phần nào được bạn bè yêu quý đến thế, ngoại trừ những ông “chính khách” thì toàn là những thủ tục chia buồn cho đúng phép xã giao, buồn đấy mà chưa chắc đã là buồn hay vui nữa. Với Nguyễn Xuân Hoàng, bạn “mày tao” cũng có, bạn xưng là anh, xưng là em cũng có, đàn ông đàn bà, già trẻ đủ cả trên khắp các trang báo, các trang web, các diễn đàn… Một người ra đi như thế thật hiếm. Anh phải sống như thế nào mới được tiễn đưa như thế.

Hoàng sống chân thật, chan hòa với bản tính điềm đạm, bình dị và nhún nhường, chưa bao giờ tỏ ra mình là một “nhà văn lớn” hay “một cái gì đó” quan trọng trong xã hội. Ở Hoàng, tôi nhận thấy anh luôn tỏ ra “Tôi chỉ là một con người rất tầm thường.” Đó chính là phong cách làm nên một nhà văn lớn.
Nhiều lần tôi đã định viết về anh nhưng đã có quá nhiều bạn anh viết về anh rồi, nhất là cuộc đời và tác phẩm của anh. Cho nên tôi vẫn ngần ngại. Nhưng cuối cùng, đến hôm nay tôi cảm thấy cần phải viết đôi dòng về anh với những cảm xúc không thể cưỡng lại và nỗi tiếc thương sâu sắc. Ở đây tôi chỉ nói đến tình cảm anh chia sẻ cùng tôi suốt chặng đường dài. Tôi mất một người bạn đúng nghĩa, vĩnh biệt Nguyễn Xuân Hoàng nhưng tôi biết chắc rằng trong cuộc đời còn lại của tôi luôn có hình ảnh anh ở bên.

Nguyễn Xuân Hoàng, viết, như một kiếm tìm bản ngã, khác

Du Tử Lê01/10/2010 – nguồn: dutule.com


Du Tử Lê, Trần Duy Đức, Nguyễn Xuân Hoàng

Là một nhà văn nổi tiếng của miền Nam từ những năm cuối thập niên 60,  Nguyễn Xuân Hoàng có lẽ là nhà văn có ít tác phẩm nhất so với những người cùng thời với ông, như Nguyễn Mộng Giác, Phan Nhật Nam, Cung Tích Biền,…

Bởi vì, mỗi tác phẩm, với Nguyễn Xuân Hoàng, là một công trình văn chương tổng hợp hai yếu tính: cách viết hay kỹ thuật viết và, không khí truyện.

Chúng ta có thể nói, Nguyễn Xuân Hoàng là một nhà văn thận trọng với tất cả mọi điều ông viết xuống, mà không phải e ngại rằng, đã có một vội vàng nào đó, qua ghi nhận ấy.

Mới đây, trong một bài viết, như một bài viết, nhằm trình bày quan điểm riêng của họ Nguyễn, nhiều hơn là một tuểu luận văn chương, đó là bài viết nhan đề:

“Tưởng Tượng và Hiện Thực,” đăng tải trên nhật báo Người Việt, số Chủ Nhật, số đề ngày 4 tháng 11 năm 2001.

Mở đầu bài viết của mình, tác giả “Bụi và Rác” viết:

“Có lần tôi được nghe một ‘ông bạn cầm bút’ bảo: ‘Này ông, tôi biết aty X. chưa bao giờ ở Hà Nội một ngày mà sao dám viết về Hà Nội. Tôi đã sống cả một thời tuổi trẻ ở đó mà tôi còn chưa viết nổi về nó, thế mà…!’

“Nhận xét của ‘ông bạn’ thật đơn giản như hai với hai là bốn. Người ta không thể viết về con người hay sự việc mà người ta không biết. Không biết thì không thể viết. Đó là chân lý.

Nhưng ngay sau đó, tác giả dùng chính mình làm dẫn chứng về mới liên hệ máu, thịt giữa nơi chốn sinh sống và, sự thể hiện trong văn chương, rằng: ông đã ở Mỹ hơn mười năm, nhưng ông chẳng biết được bao nhiêu về đời sống, sinh hoạt của nước Mỹ, ngoài cái không gian nhỏ bé là quận hạt Orange County, và, cũng chỉ một mảnh nhỏ, rất nhỏ, của Orange County, bát ngát. Theo họ Nguyễn thế hệ nhà văn ở tuổi năm mươi trở lên, sinh sống tại Hoa Kỳ, gặp hai bức tường ngăn chận to lớn là ngôn ngữ và tuổi trẻ.

Những người cầm bút ở độ tuổi ba mươi, tất nhiên không gặp trở ngại này. Nhưng vẫn theo họ Nguyễn thì, tuy nhiên, văn chương của họ cũng chỉ có thể chinh phục người bản xứ bằng một khi họ quay về nguồn cội của họ. “Việt Nam trong phần sâu thẳm của trái tim họ sẽ là sức hút của tác phẩm họ với người đọc.”

Trở lại với tương quan kinh nghiệm đời sống và sự hình thành nhân vật của tác phẩm, tác giả “Kẻ Tà Đạo” xác nhận bằng những dẫn chứng trích dẫn từ những nhân vật trong tác phẩm của các tác giả ngoại quốc cũng như Việt Nam. Từ Turgeniev với tác phẩm “Cha và Con,” hay Pasternak với tới tác phẩm “Dr. Zhivago,” tới “Đồng Cỏ” của Nguyễn Đình Toàn, hay “Mùa Biển Động” của Nguyễn Mộng Giác, Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đã cho thấy những nhân vật trong các tác phẩm của những nhà văn đó, ít nhiều, đều là những nhân vật trong tầm quan sát, nếu không phải là những người sống kề cận, quanh quẩn các nhà văn. Ông gọi đó là những kẻ từ đường phố, trong đời sống đi vào trang giấy. Ông viết:

“Người cầm bút nào chẳng xây dựng hình tượng có trong cuộc sống, thậm chí đôi khi nhân vật trong tác phẩm mang cả da thịt của chính tác giả nữa.”

Nhưng họ Nguyễn cũng nêu vấn nạn đâu là sự khác biệt giữa nhà văn và một người thợ chụp hình, kẻ thâu nhận mọi việc một cách khách quan vô ngã như một chiếc máy. Chính xác và trung thực?

Để trả lời câu hỏi này, tác giả “Người Đi Trên Mây” viết:

“Hãy trở lại Turgeniev với cuốn ‘Cha và Con.’ Ông nói ấn tượng mà con người thầy thuốc tỉnh lẻ đã giúp ông sáng tạo nhân vật Bazarov thật mạnh mẽ, nhưng đồng thời vẫn chưa phải là yếu tố làm thành tác phẩm. ‘Cha và Con’ chỉ chào đời sau khi ông đã để trí tưởng tượng sáng tạo hoàn tất tác phẩm của ông.

(……)

“Có thể nói, mặc dù nhiều người cầm bút có cùng chung một kinh nghiệm, nhưng chính trí tưởng tượng sáng tạo của họ đã làm tác phẩm của mỗi người mang một khuôn mặt riêng, một vóc dáng riêng, một chiều sâu khác với những tác phẩm khác.

“Tưởng tượng sáng tạo cũng làm cho bút pháp của nhà văn này khác với nhà văn kia. Bút pháp là tác giả.

“Mặt khác, lời chỉ trích của ông bạn cầm bút trên, dường như cũng không thể giải thích được sự hình thành tác phẩm nghệ thuật trong nhiều trường hợp. Thử hỏi kinh nghiệm nào, con người nào đã giúp Jules Verne viết được ‘Hai ngàn dặm dưới đáy biển,’ Nguyễn Tuân viết được ‘Chùa Đàn,’ George Orwell với ‘Trại Loài Vật’…?

(……)

“Tôi đã sống ở Saigòn khá nhiều năm, ít nhất cũng là trên hai mươi năm, thế mà sao muốn viết một bài về thành phố này khó thế!

“Thành ra yêu cầu của ông bạn cầm bút nói trên có vẻ như chỉ đáp ứng có một yếu tố. Để hoàn tất một tác phẩm nghệ thuật, yếu tố đó quá mỏng. Đòi hỏi đó chỉ cốt yếu cho những người theo chủ nghĩa tự nhiên. Bởi vì trong văn học nghệ thuật bỏ quên cá tính sáng tạo, người viết chỉ còn một thể loại để theo là hoàn thành những thiên phóng sự cho những trang báo tin tức thời sự, xa hơn là những bài ký, ký sự, hồi ký, ghi chép… Nhưng ngay cả trong những thể loại này, hình như người đọc cũng không bằng lòng với vai trò chụp ảnh của người ký giả. Thiếu một bút pháp riêng biệt, thiếu một trí tưởng tượng sáng tạo, những trang viết của ông ta chỉ là những trang chữ ‘vô bản sắc, nhạt nhẽo, buồn bã.”

Để hỗ trợ cho quan điểm “vai trò của trí tưởng sáng tạo” của mình, tác giả “Căn Nhà Ngói Đỏ” đã dẫn chứng những phát biểu qua tác phẩm mang tính xác quyết của Pautovsky, với tác phẩm “Bông hồng Vàng;” Saint Exupéry với “Le Petit Prince,” Garcia Marquez với “Trăm Năm Cô Đơn;” Dante với “Thần Khúc”…

Nguyễn Xuân Hoàng cũng đề cập tới sự phân loại hiện thực theo nhà văn Nathalie Sarraute, khi bà nói có hai loại hiện thực. Một loại là hiện thực nhìn thấy được nơi xã hội mà nhà văn đang sống, và loại hiện thực thứ hai, là hiện thực phóng chiếu từ hiện thực đời sống. Loại hiện thực thứ nhất, theo Sarraute không thể làm thành tiểu thuyết.

Nơi cuối cùng bài tiểu luận văn học, có thể nhìn, như một phản ánh quan niệm văn chương của mình, Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng kết luận:

“Hãy viết bằng tiếng nói, bằng trái tim của mình. Hãy nói bằng cổ họng của mình. Đừng để cái giọng nói của người khác trong cổ họng của mình. Đừng để giọng nói của mình phát ra từ bất kỳ cổ họng một người nào khác. Hình như Turgeniev đã có lần nói như vậy.”

Những người theo dõi hành trình văn chương Nguyễn Xuân Hoàng, sẽ dễ dàng nhận ra rằng, ngay nơi tác phẩm thứ nhất, hay bước khởi hành đầu tiên trên dặm trường chữ nghĩa, với tập truyện “Mù Sương” xuất bản năm 1966, rồi “Sinh Nhật” năm 1968, họ Nguyễn đã cho thấy mối bận tâm lớn lao ông dành cho tác phẩm của mình, không hề là đề tài, hay cốt truyện. Mọi nỗ lực lao lung với văn chương của họ Nguyễn là bút pháp, là cách viết.

Người ta còn nhớ, cuối thập niên 50, khi trả lời câu hỏi đặt ra cho chính mình, câu hỏi “văn chương là gì?” Nhà văn được coi là lớn nhất thế kỷ 20, Jean Paul Sartre đã trả lời một cách ngắn gọn, nhưng dứt khóa, quyết liệt, rằng: “Văn chương là bút pháp.”

Nguyễn Xuân Hoàng, qua tất cả mọi tác phẩm của mình, dường cho thấy, ông có cùng một quan điểm với tác giả “La Nausée.”

Bên cạnh đó, họ Nguyễn cũng cho thấy, vẫn qua những tác phẩm của ông, điều ông đã nói trong tiểu luận “Tưởng Tượng và Hiện Thực” rằng: “…thậm chí đôi khi nhân vật trong tác phẩm mang cả da thịt của chính tác giả nữa.”

Và, với Nguyễn Xuân Hoàng, phần “da thịt của chính tác giả” không chỉ “đôi khi” mà, gần như nó luôn có mặt một cách nóng hổi niềm hân hoan hay nỗi ngậm ngùi của chính nó nữa.

Sau đây, qua giọng đọc Hạnh Mới, chúng tôi trân trọng kính mời quý thính giả thưởng thức một trích đoạn từ truyện ngắn Chuyện kể trên đồi cam,” của Nguyễn Xuân Hoàng, đăng tải trong tuyển tập “20 Năm văn học Việt Nam Hải Ngoại 1975-1995,” như một phần “da thịt của chính tác giả,” với bút pháp rất Nguyễn Xuân Hoàng, mà, tôi muốn được gọi là “Nguyễn Xuân Hoàng, viết như một kiếm tìm bản ngã, khác.”

Du Tử Lê

Khi một cây bút ra đi

Blog / Nguyễn Hưng Quốc (http://www.voatiengviet.com/archive/blog-nguyen-hung-quoc/latest/1778/1782.html)

Một người quen mất: Buồn. Khi người quen ấy lại là một nhà văn/nhà thơ, hơn nữa, một nhà văn/nhà thơ mình yêu thích: càng buồn hơn nữa. Cũng là người quen cả, nhưng với nhà văn/nhà thơ, qua tác phẩm của họ, bao giờ chúng ta cũng cảm thấy gần gũi hơn, thân mật hơn, do đó, việc ra đi của họ, dù muốn hay không, cũng làm chúng ta buồn rầu nhiều hơn.

Không những buồn rầu, tin tức về cái chết của một nhà văn/nhà thơ bao giờ cũng có vẻ gì như bất ngờ. Ngay cả khi chúng ta biết họ đã lớn tuổi hoặc bệnh hoạn lâu ngày, chúng ta vẫn cứ sửng sốt như thường. Lý do chính là vì một người cầm bút dường như không có tuổi. Đọc các tác phẩm của họ, dù chúng được viết lúc họ đã cao niên, chúng ta cũng thường có cảm giác như tâm hồn họ vẫn còn rất trẻ thơ. Để có thể chìm đắm miên man trong thế giới tưởng tượng. Để có thể rung lên những xúc động khẽ khàng và tinh tế trước một cái đẹp có khi rất nhẹ nhàng, thoáng qua trong cuộc sống.

Tác phẩm của họ, ở khía cạnh này, cũng chính là con người của họ. Tôi tiếp xúc khá nhiều với giới cầm bút. Nhiều người lớn tuổi hơn tôi, già giặn và uyên bác hơn hẳn tôi, vậy mà, nhiều lúc, tôi có cảm tưởng như họ là em tôi. Ở họ thỉnh thoảng có cái gì như hồn nhiên, như ngơ ngác, như yếu đuối. Trước, lúc tôi còn sống ở Paris, hầu như năm nào, vào đầu mùa thu, nhà văn Mai Thảo cũng tìm cách bay sang Paris, để, theo lời ông, ngắm lá vàng trên các đường phố. Những lúc ấy, tôi và ông hay đi loanh quanh cà phê cà pháo. Mỗi lần chia tay, thường ở một ga xe điện ngầm nào đó, bao giờ tôi cũng dặn dò ông hết chuyện này sang chuyện khác. Tôi biết ông rất giỏi tiếng Pháp. Tôi biết ông rất rành rẽ Paris. Thế nhưng, nhìn gương mặt ông, ánh mắt ông và dáng đi lênh khênh của ông, tôi lại sợ vu vơ là ông sẽ lạc. Nghĩ lại, tôi thấy cái sợ ấy thật buồn cười. Nhưng lần gặp lại sau, tôi lại có cảm giác y như vậy. Dưới mắt tôi, ông như một đứa em còn rất khờ khạo.

                     Nguyễn Hưng Quốc & Nguyễn Xuân Hoàng

Với Nguyễn Xuân Hoàng, nhiều khi tôi cũng có cảm giác ấy. Anh lớn hơn tôi gần 20 tuổi. Lúc tôi còn là một đứa học trò trung học ngơ ngác và ngơ ngáo ở Đà Nẵng, anh đã là một thầy giáo và một nhà văn nổi tiếng ở Sài Gòn. Nhưng những lần gặp anh, ngồi lê la cà phê và chuyện trò với anh, tôi vẫn thấy ở anh có nét gì mơ mộng và hồn nhiên như một đứa trẻ.

Từ góc độ thuần tuý văn học, cuộc đời Nguyễn Xuân Hoàng có thể được xem là thành đạt: ở miền Nam, trước năm 1975, mới ngoài 30 tuổi, anh đã là tổng thư ký của Văn, tờ tạp chí văn học xuất sắc nhất hồi ấy; ra hải ngoại, anh lại tiếp tục làm chủ bút những tờ báo, từ thời sự đến văn học, nổi tiếng nhất của cộng đồng. Các cuốn sách của anh cũng được nhiều người khen ngợi. Nhưng anh lại rất khiêm tốn. Trong những lần trò chuyện, tôi chưa bao giờ bắt gặp ở anh một nét tự mãn nào cả. Lúc nào anh cũng than thở là chưa viết được như anh mong muốn. Có lần, sau khi khen Hoàng Ngọc-Tuấn và tôi, anh hạ giọng; “Nhìn bọn em, anh mới thấy thế hệ của bọn anh cái gì cũng lớt phớt, sách tiếng Pháp đọc được một chút, sách tiếng Anh đọc được một chút, chẳng có cái gì biết thật sâu cả.” Tôi không ngạc nhiên về lời khen của anh. Nhưng tôi ngạc nhiên về cách khen. Anh không nhất thiết phải tự hạ mình và thế hệ của mình xuống đến như vậy. Nhưng càng nói chuyện với Nguyễn Xuân Hoàng nhiều, tôi càng nhận ra đó là tính cách của anh. Anh không gồng mình. Thậm chí, nhiều lúc anh tự bêu xấu chính mình. Bởi vậy, bạn bè anh hay đùa là anh có tật hay than thở.

Bây giờ, Nguyễn Xuân Hoàng đã theo gót Nguyễn Mộng Giác, Thanh Tâm Tuyền và Mai Thảo đi vào cõi khác, nhiều người gọi là cõi vĩnh hằng. Cũng như với mấy người kia, nghe tin anh mất, tôi sửng sốt và buồn nhưng tôi lại không thấy hụt hẫng chút nào cả. Nhiều người hay nói đến những khoảng trống mênh mông để lại sau cái chết của những nhà văn hay nhà thơ lớn. Tôi không nghĩ vậy. Với tôi, cái chết của những cây bút lớn, ngay cả những người tôi ít nhiều quen biết, vẫn không gây nên một sự hụt hẫng nào cả. Lý do là, dù họ mất đi, tác phẩm của họ vẫn còn lại, hơn nữa, còn gần gũi hơn vì chúng không bị ngăn cách bởi tác giả nữa. Trước, đọc sách, có khi chúng ta nghĩ đến con người đã sáng tạo nên những cuốn sách ấy. Sau, chúng ta chỉ thấy sách, chỉ thì thầm tâm sự với sách. Chúng ta được giải phóng khỏi tác giả để được tự do thong dong với chữ nghĩa.

                              
Chính vì vậy, nghe tin Nguyễn Xuân Hoàng mất, tôi với tay lên kệ, lấy tập truyện ngắn Căn nhà ngói đỏ của anh để đọc lại. Đó là cuốn sách tôi thích nhất của anh. Trong đó có nhiều truyện ngắn thật hay. Tôi tin truyện Tự truyện một người vô tích sự” của anh là một trong những truyện ngắn hay nhất trong nền văn  học Việt Nam ở hải ngoại từ sau năm 1975. Hay ở kỹ thuật. Hay ở văn phong. Truyện đầy ắp chi tiết, như một cuốn tiểu thuyết được nén lại.

Với những truyện như thế, tôi nghĩ anh không mất. Tôi tin là chỉ có trong lãnh vực văn học nghệ thuật mới có những người mang kích thước bao trùm cả ba chiều thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai. Với quá khứ, họ tạo ra được cả một thời đại để chúng ta có thể nhận diện được “những người muôn năm cũ”. Với hiện tại, họ là cả một thế giới mênh mông để chúng ta tha hồ ngao du. Và với tương lai, họ là một tinh tú lúc nào cũng bí ẩn và đầy thách đố để chúng ta phải không ngừng thám hiểm. Hiện diện trong ba chiều như vậy, các nhà văn và nhà thơ lớn vừa ở sau để làm di sản cho chúng ta, vừa là bạn đồng hành của chúng ta đồng thời cũng là những kẻ đứng trước, đâu đó, chờ đợi chúng ta: chúng ta gặp họ trong từng bước chân. Đến lúc chúng ta biến mất, họ vẫn còn.

Tôi không muốn gọi Nguyễn Xuân Hoàng là nhà văn lớn. Nhưng tôi tin một số truyện của anh, đặc biệt là truyện ngắn, sẽ còn được đọc và đọc lại. Lâu dài.

                                                         Bài viết (pdf)

Trích “Nguyễn Xuân Hoàng, Người Rong Ca Buồn” của Quỳnh Giao

… Đọc truyện, Quỳnh Giao thường hay tìm vào cốt truyện, nhất là phần hư cấu của câu chuyện. Như một khán giả đi xem phim loại kinh dị nghẹt thở, mình dễ tính chờ đợi tác giả hay đạo diễn dẫn dụ vào những gút mắc éo le hồi hộp, để chờ đợi họ khéo léo gỡ ra, vào những phút sau cùng. Nguyễn Xuân Hoàng không viết truyện theo lối đó.

Đặt câu chuyện trong bối cảnh thời sự của đất nước, ông dàn trải cốt truyện ngay từ đầu.

Nói cho đúng hơn, truyện ông viết gần như không có cốt chuyện, trong ý nghĩa là nó có thể  chấm dứt vào bất cứ đoạn nào. Vậy mà người đọc vẫn không buông tác phẩm khi chưa tới trang chót. Mà tới rồi, chúng ta vẫn còn chờ đợi quyển thứ ba, đó là tâm trạng của người viết này. Vì nội dung câu chuyện nằm ngay trong cách viết và cách kể của Nguyễn Xuan Hoàng.

Nó cứ bình thản như một bài kinh buồn, như một chuỗi tràng hạt toàn một màu đen. Đóng tập sách lại, cảm giác vu vơ trống rỗng vẫn còn theo đuổi mình mãi.

Biết tác giả từng là giáo sư dạy triết ở quê nhà, và cũng là một trong những cây bút có khuynh hướng đẩy văn chương tới những chân trời mới, người ta có thể chờ đợi ông mời các triết gia tên tuổi của Tây của Đức vào tác phẩm của mình, như những phông cảnh của một câu chuyện thời thượng.

Đàng này, Nguyễn Xuân Hoàng viết như kẻ rong ca thời Trung Cổ, mỗi nơi ngừng chân giãi bày một chuyện và lại dẫn ta ra một cảnh khác, chuyện khác, gặp người khác.  Như không có định hướng, như một người đi trên mây, trong nghĩa đen của câu nói.

Đóng tập sách lại, cái triết lý lớn của câu chuyện, nếu Quỳnh Giao bạo gan dùng chữ đó, chỉ là sự buồn thảm của kiếp người. Đó là sự buồn thảm của Trần Lâm Thăng giữa những người bạn cũng bất đắc chí trong một thành phố chưa mất tên.

Sau đó cũng vẫn là sự buồn thảm của Trần Lâm Thăng giữa những người chiến thắng từ bên kia chiến tuyến bước qua, để rồi cùng chia xẻ một nhà tù trong một kiếp người. Những nhân vật nổi danh hay khét tiếng của văn học hay chính trị, có ẩn hiện đây đó, thì cũng chỉ là những bóng mờ làm nổi bật thêm cảnh đen tối chung.

Quỳnh Giao tin rằng sang đến tập ba, Trầm Lâm Thăng của chúng ta cũng sẽ lang thang trên xứ lạ, nhớ Uyên, xa Quỳnh, hay lại say mê một người tình thứ ba thứ tư nào đó mà vẫn không có hạnh phúc. Những sầm uất của Bolsa hay rực rỡ của Paris kinh đô Ánh Sáng cũng vẫn chỉ là những phông cảnh xám đục của một kiếp người buồn thảm.

Cái nét riêng trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân Hoàng là gây được sinh khí trong lời kể, lôi cuốn người đọc lần qua ngần ấy nẻo đam mê và khốn khổ, để trở về với một tiếng thở dài.

Biết vậy mà ta vẫn nín thở tìm đọc, chính là do nghệ thuật của tác giả.

Quỳnh Giao
Tháng Sáu, 1993

                                                    Mời đọc toàn bài viết (pdf)

                         

 Trần Dạ Từ, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Quỳnh Giao (buổi ra mắt sách của Võ Phiến)



                 

T r o n g  đ ê m  t r ắ n g

Suốt đêm không nhắm mắt
nhớ bạn đã xuôi tay
chăn trắng trùm kín mặt
lạnh ngắt một xác người

khuya về khuya. im vắng
rừng đen sậm thấy gì
sáng gần sáng cũng vậy
mùa này sáng chậm thôi

bật ngọn đèn trên đầu
lật qua vài trang sách
Câu chuyện của dòng sông
Thành Tôn vừa gởi tặng

những tiếng” Om“ bàng bạc
trên khắp những tiếng hát
của dòng sông. Tôi niệm thầm
Om Mani Padme Hum Hrih

Nam Mô Đại Từ Đại Bi
Quán thế Âm Bồ Tát
Cứu khổ cứu nạn
ngồi niệm thầm trong đêm

cho Hoàng ngủ yên bình an
Hoàng đã Về Hoàng đã Tới .

Virginia, September 14, 2014

Đinh Cường

Đinh Cường và Nguyễn Xuân Hoàng – cùng mừng sinh nhật tháng 6, 2014 – San Jose, California

                     

Mây ngừng bay

Chia tay anh Nguyễn Xuân Hoàng

cũng đành thôi, nắng tắt rồi
mặt trời đã lặn ngày vui đã tàn
một vì sao – Nguyễn Xuân Hoàng
vừa rơi vào cõi vĩnh hằng sáng nay

cũng đành thôi, mây ngừng bay
trái tim ngừng đập, bàn tay vẫy chào
biết đời là giấc chiêm bao
mà sao lòng vẫn thấy đau vô cùng

cũng đành cạn một dòng sông
người đi đi mãi và không trở về
bên kia là phía hư vô
trăm năm còn lại bóng mồ hư không

Phạm Cao Hoàng

Virginia, September 13, 2014

 Thêm nén hương đưa tiễn

dành riêng Nguyễn Xuân Hoàng

thế là ông đã thua tôi
mau hồn lẹ xác trốn đời thế gian
ông thăng nghe nói nhẹ nhàng
như một chiếc lá sớm vàng đầu thu
giấc ngủ dài thiếu giọng ru
nhưng nơi xa ấy mẫu từ đợi ông
sống đời ông từng bềnh bồng
ra đi thanh thản như không đúng rồi

thế là ông đã hơn tôi
mau hồn lẹ xác rong chơi cõi trời
không còn nằm níu giọt hơi
chờ đợi phút đóng cuộc đời tài hoa
không còn phải nhớ gần xa
không còn thương tiếc tình qua mỗi ngày
ông đi chắc không phủi tay
người thân bè bạn xót cay tiễn đường

sớm nay tôi dậy thắp hương
lạy thinh không giữa nỗi buồn vẩn vơ
thật tình không định làm thơ
ông xui tôi viết ngu ngơ thế này
vén màn nhìn gió đang bay
trời còn tối lắm ngọn cây mù mù
âm gì văng vẳng hình như
giọng ông gọi nhỏ tôi từ mênh mông

tôi thường nhớ rất viển vông
sớm nay đặc biệt nhớ ông thôi à
nhớ nụ cười nhẹ như là
có mang hương của loài hoa thân tình
nhớ cặp mắt thật thông minh
nhớ dáng đi đứng lung linh nhịp nhàng
nhớ nắm tay bắt dịu dàng
nếu là con gái tôi tan  lâu rồi

thế là ông đã lên trời
nhanh hơn chúng bạn đồng thời với ông
tôi đang mở mắt theo dòng
sáu tám vớ vẩn phiêu bồng tìm ông
không nhìn thấy giữa mênh mông
chỉ là lòng cảm thấy gần mà thôi
ông đi thật sự đi rồi
tôi còn tiếp tục nằm ngồi chờ phiên

thong dong nghe nhé bạn hiền
chắc đám bè bạn thành tiên đang chờ

Luân Hoán
4giờ 43 sớm 14-9-2014 – đêm còn lặng yên – Montréal

Luân Hoán & Nguyễn Xuân Hoàng

  Trích bài “Giã Biệt Nhà Văn Nguyễn Xuân Hoàng” của Trần Chí Phúc

… Khi nhà văn Võ Hồng sinh trưởng Tuy An Phú Yên nhưng cuối đời ở Nha Trang mất tháng 4 năm 2013 thì tôi có trích những dòng chữ của nhà văn này viết về các quán cà phê ở Tuy Hòa và thêm một vài ý riêng của mình gởi cho Viet Tribune thì anh bảo là sẽ sửa đổi đôi chút và đưa lên trang Blog Nguyễn Xuân Hoàng trên VOA. Bài viết Võ Hồng Và Những Dòng Chữ Kỷ Niệm Tuy Hòa cũng là một kỷ niệm văn chương của tôi với anh.

Tôi nhớ có một lần email bài viết và hỏi thăm sức khỏe thì anh trả lời là thời gian không còn nhiều và đau đớn lắm. Tôi hỏi anh có sợ chết không thì anh bảo là chỉ muốn ra đi sớm vì đau quá. Bạn bè báo chí có tới thăm và chụp hình với anh. Lần cuối cùng cách đây mấy tháng, tôi một mình ghé viện hồi phục sức khỏe thấy mấy người y tá đang chăm sóc anh. Trên cái bàn đầu giường có máy laptop, anh bảo là mặc dù bệnh nhưng vẫn chăm lo bài vở cho Viet Tribune.

Bằng hữu văn nghệ khắp nơi kéo về thăm anh, các học sinh trung học một thời học môn Triết do anh dạy tổ chức những buổi vinh danh thầy giáo Nguyễn Xuân Hoàng. Tôi nhớ câu nói của chị Trần Thị Diễm Phúc chủ bút tuần báo Diễm ở Quận Cam rằng thời còn thanh niên ở Nha Trang và Sài Gòn thì Nguyễn Xuân Hoàng rất được các cô gái mến yêu. Thử tưởng tượng ra thập niên sáu mươi, giáo sư trung học môn Triết đẹp trai và với ngôn ngữ văn chương triết lý trên bục giảng thì anh là thần tượng của bao nhiêu nữ sinh.
Cách đây mấy năm , thấy anh ngồi ăn trưa với một giai nhân, sau đó hỏi thì anh bảo đó là một độc giả ái mộ bay từ phương xa tới San Jose để trò chuyện. Tôi tỏ lời thán phục sự thu hút của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng thì anh mỉm cười.

Bản tính hiền lành, thoái mái cho nên nhà văn nhà báo Nguyễn Xuân Hoàng được bằng hữu văn nghệ quí mến. Nhắm mắt lại tôi vẫn nhớ giọng nói của anh mang âm hưởng xứ Nẫu- gồm ba tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa; chất giọng quen thuộc vì tôi là dân Tuy Hòa Phú Yên. Lễ hỏa táng anh sẽ diễn ra, có thể tro cốt sẽ rải ở biển Nha Trang, thành phố du lịch nổi tiếng của Việt Nam.

Có bài ca Nha Trang nổi tiếng của nhạc sĩ Minh Kỳ là người Huế định cư ở vùng này : “Nha Trang là miền quê hương cát trắng, có những đêm đêm vọng về, ầm ầm tiếng sóng xa đưa”. Nha Trang Khánh Hòa có nhân tài nghệ thuật là nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. Anh từ giã nhân thế nhưng tên tuổi còn vang vọng trong lòng người ở lại.

Quận Cam 13/9/2014
Trần Chí Phúc

                   

Đứng : Thư Sinh, Nguyễn Tường Tâm, Phạm Bằng Tường, Nguyễn Hoàng Duyên, Huỳnh Lương Thiện
Ngồi : Trần Chí Phúc, Nguyễn Xuân Hoàng, Trương Gia Vy, Trương Xuân Mẫn ( Ảnh: Trương Mẫn )

                                                      Mời đọc toàn bài viết (pdf)

 Trích bài viết: Đôi lời gửi Nguyễn Xuân Hoàng của Giao Chỉ, San Jose – 22/06/2014

Giọt nắng cuối chiều chưa vội tắt, mà lời từ biệt đã lên môi.

Câu thơ chẳng biết của ai mà ghi lại cũng chẳng biết có đúng không. Nhưng thực sự rất gần với hoàn cảnh của ông thầy dạy Triết, Nguyễn Xuân Hoàng. Anh Nguyễn Xuân Hoàng cũng là nhà văn tên tuổi trên văn đàn và báo giới. Tổng thư ký báo Văn, báo Người Việt, Viet Mercury và Viet tribune hiện nay tại San Jose. Mấy tháng nay anh bị đau rất nặng, phải ra vào nhà thương nhiều lần. Thân hữu chúng ta ai cũng biết và hết sức ngậm ngùi. Mới đây bác sĩ Ngô Thế Vinh có viết về tiểu sử và bệnh tình của anh Hoàng.

Tôi xin kể thêm về chút tình cảm riêng tư như sau. Anh được cô Vy, vợ Hoàng đưa về nhà như là giọt nắng cuối chiều. Nắng chiều chưa tắt, nhưng trước sau cũng đến lúc phải hoàng hôn. Từ nhà thương cô Vy điện thoại qua nước mắt. Pa báo cho Măng biết là Stanford quyết định cho nhà con về nằm nhà để chờ. Bác sĩ và nhà thương ở đây chịu thua rồi. Con đang ký giấy nhận chàng về. Con về trước đến nhận giường điều trị nhà thương cho đưa tới. Xe nhà thương sẽ chở Hoàng về chiều nay. Nói Măng không còn gì phải lo nữa. Không cần cấp cứu. Xe nhà thương chuyến về không phải mở đèn và thổi còi. Con sẽ không còn phải gọi 911 nữa. Sau cùng thì chàng cũng trở về với em trong những ngày sau cùng.
….

                    

Giao Chỉ Vũ Văn Lộc & Nguyễn Xuân Hoàng

Đối với anh Nguyễn Xuân Hoàng, cá nhân tôi chỉ hơn anh 7 tuổi, mãi mãi chỉ là thân hữu. Quê hương thân phụ Hoàng ở Nam Định, quê tôi cũng Nam Định. Nếu có họp hội đồng hương thì sẽ ngồi cùng bàn. Hoàng là giáo sư viết văn, dậy triết. Tôi suốt đời đi linh. Dù là cầm bút, nhưng văn tôi dưới đất, văn của Hoàng trên trời, Người đi trên Mây. Người lính đi bộ. Cõi trần gian đã không gặp nhau. Cõi văn chương cũng không gặp nhau. Không có dịp cùng nhau tâm sự. Không cùng ngồi uống cà phê để làm thơ. Không ở bên nhau uống rượu mà làm báo. Chúng tôi chỉ biết nhau tại San Jose. Tôi viết báo, Hoàng duyệt qua rồi cho đăng. Duyên nợ thấm thoát cả chục năm dài. Nhưng sao vẫn còn đủ cho tình cảm tràn đầy.
….


Nói chuyện bệnh tật nhà thương mãi cũng chán, tôi thay đổi không khí nói rằng vừa mới thấy tấm hình giáo sư Nguyễn Xuân Hoàng chụp với các em nữ sinh trung học Ngô Quyền ở Biên Hòa. “Anh” giáo sư triết lại là nhà văn đứng chung với các cô học trò lớp 12. Quả thực là một bức hình đẹp và tình không thể chịu được. Ông thấy trẻ tuổi, đẹp trai muốn nằm trong vòng tay học trò là được ngay thôi. Bây giờ anh Lộc nhìn mà còn thấy ghen tức. Ngày xưa lúc anh đang lội rừng mà thấy cậu Hoàng sung sướng như thế này thì sẽ giận đời bất công biết chừng nào.

                   Hoàng và Vy, ngày xưa

Giữa văn chương và dạy học Hoàng thấy thế nào. Nguyễn Xuân Hoàng cho biết Văn là ý nghĩa chính của cuộc đời. Đi dậy chỉ là phụ. Cô Vy nói thêm. Nhưng cái phụ nuôi cái chính. Dạy học mới có tiền nuôi vợ con và nuôi văn chương. Mà lại là thầy dậy có giá. Nhiều trường trả tiền gấp đôi. Tôi nói, nếu như vậy cậu Hoàng sống trọn vẹn quá rồi. Hoàng nói, em có phàn nàn gì đâu. Ra đi không sợ, chỉ sợ đau và sợ cô Vy khóc. Vy lấy tay gạt nước mắt nói rằng. Con có khóc đâu..

Khi ta ra đi, có anh sợ ít có anh sợ nhiều. Nhưng tất cả kẻ đi người ở, ai cũng có nỗi buồn như nhau. Nguyễn Xuân Hoàng may mắn lấy vợ trẻ. Trong tiếng khóc có cả tiếng cười.

Giao Chỉ, San Jose

                                                  Mời đọc toàn bài viết (pdf)

Gởi vời theo

Hoàng Xuân Sơn

                         

 Nguyễn Xuân Hoàng, Hoàng Xuân Sơn – San Jose, California 2012

vàng câu tình cũ
gởi vời theo đời
[Từ Công Phụng – Mắt Lệ Cho Người]

Mấy tháng trước khi Nguyễn Xuân Hoàng từ giã cõi đời, chúng tôi – Đinh Cường, Nguyễn Xuân Thiệp, Hoàng Xuân Sơn. . . có gởi cho anh những bài thơ mới viết về tình bạn như một chút thân tình sưởi ấm trên giường bệnh. Có 1 bài của HXS anh Hoàng ngỏ ý thích, nay xin mượn ý Từ Công Phụng gởi vời theo chút mắt lệ cho người trên đường về miên viễn

[trích điện thư của anh Nguyễn Xuân Hoàng:
Monday June 2 2014 – Thơ cậu HXS một màu xanh tình ái, tôi thích quá!!! Bạn ơi sương nắng đã già, còn nhau một bản tình ca cuối mùa. Buồn quá cậu Sơn à!!! – NXH ]

Bạn bè. tranh tối. và sáng

khi về trân trọng anh em
bằng hữu một dúm bạn bè nghìn cân
mà đời dẫu có phù vân
mây còn chuyển hóa lập phân tình đầy
hôm qua thấy bạn rất gầy
mà mình bộ nhớ lóng rày không yên
thoạt hình. nhớ nhớ quên quên
bánh xe lãng tử qua miền thùy dương
đóa chiêm bông nghệ rất vàng
dưới sâu cồn vực lên ngàn bãi xanh
đời chiều vẫn cứ loanh quanh
gặp hôm nay đã. mai đành chia xa
bạn ơi. sương nắng đã già
còn nhau một bản tình ca cuối mùa

2 juin 2014

Nhớ khoác áo

mặc thêm. không lạnh cậu Hoàng
đường đi về cuối dặm ngàn xa xôi
mặc áo thêm. bận thêm. gầy
chút hương trần nguội ôm đầy thân xương
về chưa. về thôi cậu Hoàng
mây khuya đã tạnh sớm buồn đã giăng
bàn tay. luồn dưới chéo khăn
chào quên phố thị một lần đi xuôi

Hoàng Xuân Sơn
16 septembre 2014

 Nha Trang Trong Mắt Tôi

NGUYỄN XUÂN HOÀNG
(Tặng những người Nha Trang)

                                    
1.

Mỗi chúng ta ai mà chẳng có một quê hương. Khi bỏ nước ra đi, chúng ta mang theo trong lòng một [những] khuôn mặt, một giọng nói, một màu áo, một tiếng rao quà … mà chúng ta không hề ngờ tới. Chỉ khi nào trái tim ta đau buốt vì thương cảm, hoặc nổ tung ra vì hạnh phúc ta mới chợt nhớ ra quê hương đang ở trong lòng ta. Cũng có khi quê hương sống dậy vì một chút nắng, hay một giọt mưa, một bãi cát [vàng] hay một con sóng biển, một mầu trời hay một tiếng nói mang âm hưởng của vùng quê ta, … lúc đó ta biết rằng không có chi ngăn nổi trí nhớ nóng bỏng của ta làm hiện ra những hình ảnh cũ. Bởi vì thật bất ngờ, đôi khi chỉ thoảng một “mùi hương” cũng đủ khơi dậy trong ta biết bao kỷ niệm quê hương.

Đối với tôi, thời tiết giá buốt những ngày cuối đông đầu xuân ở California gợi lại trong tôi biết bao điều về thành phố quê hương, nơi đã nhìn tôi lớn lên, đã thêu dệt trong tôi biết bao mộng ảo, đã đày đọa tôi tới chín tầng địa ngục.

Nhatrang, đó là một thành phố của tình yêu và chia biệt, thành phố của những mối tình mùa hè, của những con sóng biển vô tình, những con dã tràng trên cát, những dấu chân bị nước cuốn đi không để lại một vết tích nào như thể trước đó nó không hề tồn tại …

                 

2.

Tôi là người có hai quê: cha tôi ở bên Thành, mẹ tôi ở N.H. Nhatrang nằm ở giữa. Đường đi lên Thành-Citadelle gần, nhưng đường từ Nhatrang đi N.H. xa hơn, cách nhau tới hai ngọn đèo, đèo Rù Rì và đèo Rọ Tượng. Mẹ tôi người Minh Hương. Và N.H. có thể nói là thị trấn của những người Minh Hương. Tính chất Minh Hương ấy hiện lên rất rõ trong những ngày lễ lạc. Cả một thị trấn chiếm một khúc ngắn trên quốc lộ Một và tỉnh lộ Hai Mươi Mốt này gặp ngày lễ lớn người ta thấy bay rợp trời những lá cờ Trung Hoa, họa hoằn lắm mới thấy một vài lá cờ Việt Nam . Và ngay cả những người dân sống trên con lộ chính này cũng là những người Hoa. Bà dì tôi đúng là một người Hoa, Hoa một trăm phần trăm, Hoa từ mái tóc ngắn kiểu “bôm bê” đến giọng nói, từ cách sống đến lối nghĩ, từ quần áo của bà mặc đến lối trang trí nhà cửa … Thế nhưng mẹ tôi, lạ thay không có chút mảy may Tàu. Trái lại bà có cái vẻ bề ngoài của một phụ nữ tây phương hơn là một người Á đông. Chỉ có y phục, cách ăn uống, cách dạy con, sự xuề xòa, giọng nói của bà là Việt Nam mà thôi. Bà giống một phụ nữ Việt nghèo khổ hơn là một người Hoa giàu có. [Những người Hoa trong thị trấn nhỏ này chỉ có người giàu chớ không có người nghèo].

Nhưng thời gian tôi ở với mẹ và cha tôi ít hơn là thời gian tôi ở với chú thiếm tôi ở thành phố Nhatrang. Và làng Quang Thạnh, quê của cha tôi, nơi tôi còn có những thân thích ruột thịt khác, những ông chú hiền lành, những ông bác khó tính, những bà cô khắc nghiệt, những người anh em họ hàng cùng lứa tuổi tôi gần gũi một cách nhạt nhẽo,… Tôi là một người khách lạ trong ngôi nhà trọ.

Cô Tám tôi, tên Hương là một người đàn bà khắc nghiệt. Bà có một hàm răng rất trắng, rất nhỏ và rất khít. Bà không ăn trầu như những người phụ nữ cùng thời với bà. Cô có một ngôi nhà lớn năm gian, đầy những bàn ghế tủ trang thờ bằng gỗ cẩn xà cừ, sạch sẽ như lau như ly, với một vườn cây ăn trái rộng như một khu rừng. Bà có hai người con gái, nhưng mỗi lần gặp tôi bao giờ bà cũng bảo “mày có muốn về ở với cô không?”. Tôi thưa với bà là tôi không hề muốn ở với bà, và tôi cũng chưa hề có ý định sống dưới một mái nhà với bà. Tại sao, tôi không biết. Mặc dù cô có hai người con, tôi có cảm tưởng như cô tôi không chồng, bởi vì tôi cũng không bao giờ nhìn thấy bóng ông Dượng tôi, và tôi cũng chẳng bao giờ nghe bà nói về ông Dượng của tôi. Tôi muốn biết tại sao nhưng không bao giờ dám hỏi. Cô tôi thường nói: “Tao muốn một đứa con trai cho nó ấm nhà ấm cửa. Mày có muốn làm con tao không?” Và tôi nhớ câu trả lời dứt khoát của tôi lúc đó là “Không!” “Tại sao?” Tôi không biết trả lời cô tại sao, nhưng tôi biết là tôi rất không thích cô. Hình ảnh của cô còn trong trí nhớ tôi đó là một phụ nữ nhỏ thó, ăn mặc rất sạch sẽ gọn gàng, da dẻ hồng hào và “ưa kiện tụng”. Gần như suốt đời cô là một chuỗi tháng năm lên toà xuống huyện. Hai người con gái của cô, mà tôi gọi là em, là những đứa bé gái xinh đẹp dễ thương. Sau này lớn lên, đôi khi tình cờ gặp lại hai cô em tôi, hai thiếu nữ duyên dáng, lạnh lùng, nhìn tôi như nhìn một người xa lạ.

Gần như cả ngôi làng đó chỉ gồm toàn những người trong dòng họ nhà tôi. Cái bánh xe nước trong phim “Chúng Tôi Muốn Sống” do Lê Quỳnh đóng với Mai Trâm và Thu Trang thuộc vùng đất nhà từ đường phía cha tôi.

Tôi không ở với cha tôi, mà cũng không ở với mẹ tôi. Tôi xa gia đtình từ nhỏ. Tôi ở nhà chú tôi vì cha tôi muốn tôi ở nhà quê, và vì mẹ tôi muốn tôi “phải đi học”. Chú tôi làm việc ở toà tỉnh Nhatrang, lúc đầu nhà ở đường Hoàng Tử Cảnh, sau dọn về đường Yersin. Ông chỉ là một công chức thường, lương ba cọc ba đồng, còn thiếm tôi thì vì sức khoẻ kém, gần như chỉ suốt ngày quanh quẩn trong nhà lo cho đàn con. Vậy mà chú thiếm tôi phải nuôi thêm một miệng ăn ngoài một đàn con gần mười đứa, không một lời than văn. Chú thiếm tôi rất thương tôi, những đứa em tôi, con của chú thiếm tôi, cũng tử tế với tôi như một người anh ruột. Nhưng tôi sớm nhận ra mình chỉ là một đứa bé lạc loài, một kẻ ăn nhờ ở đậu, một miệng ăn gây nhiều khó khăn cho một gia đình đông đúc. Và thế đó mà tôi lớn lên, lớn lên trong một đời sống tâm hồn khốn khổ, giữa một thành phố thơ mộng và đẹp đẽ là Nhatrang. Tôi không ở lâu trong một ngôi nhà nào. Mỗi nhà chứa tôi trong một thời gian ngắn. Tôi là đứa bé báo cơm, một cậu học trò thiếu sách vở, một thằng nhóc lẫn vào những đứa trẻ bụi đời… Ở lớp học ra, tôi không biết về đâu. Ngọn đèn buổi tối vàng om không chiếu sáng những trang chữ. Những bữa cơm nuốt trong vội vã, đôi đuã không biết thế nào là cá và thịt. Đêm luôn luôn dài hơn ngày. Bóng tối bao giờ cũng nhiều hơn ánh sáng.. Mọi người cười cười nói nói với tôi, nhưng mỗi câu nói cho tôi biết tôi là gánh nặng của gia đình nơi tôi ở trọ. Ai cũng nói “con ở đây, cứ tự nhiên như nhà của con”, nhưng người nghe đủ thông minh để nhận ra “con là gánh nặng mà ta không bỏ xuống được…” Những cuốn sách mượn của bạn, những tập vở xin của một thầy giáo, những cây bút nhặt được từ một đống rác… và…. Tôi hiểu vì sao tôi yêu những khóm dương trên biển hơn ngôi nhà, yêu bãi cát trên biển hơn chiếc giường tôi nằm chung với một đứa khác mỗi đêm…

3.

Nhatrang, thành phố của biển xanh, và cát trắng, của rừng dương, rừng dừa, của Hòn Chồng, Cầu Đá, của cầu Hà Ra, Xóm Bống, của Tháp Bà, của Lương Sơn, Đồng Đế, …Nhatrang, thành phố ấy bao giờ cũng dính chặt vào trí nhớ tôi.

Ngôi trường tiểu học là thiên đường của tuổi thơ, nơi đã cho tôi những tình bạn trong sáng mà giờ đây khi hồi tưởng lại tôi vẫn thấy ấm áp cả trái tim. Những Đoàn Lân, Lê Văn Quyền, Tôn Thất Lưu, Trần Lâm Cao, và Hà Thúc Nhơn, Duy Năng, Trần Ngọc Bích, Dương Hồng Ngọc, Trương Hồng Sơn, Nguyễn Đức Sơn, Huỳnh Tấn… những người bạn gái như Bích Ngô, Bích Hường, Hoàng Thị Ngọc Táo, Minh Nguyệt, …những ông anh bà chị như Như Phú, Tuý Hoa, Dạ Khê, Nguyễn Hữu Trí, …những đứa em Hoàng Bắc, Ngọc Trúc, Liên Châu, Chúc, …và cả những người “yêu” Odette, Bạch Mai, Bích nếu tôi được phép gọi như thế. Những bạn ấy có người vẫn còn ở thành phố này nơi tôi đang sống, cũng có người đang ở những tiểu bang khác, những quốc gia khác…. Có người còn sống có người đã chết, nhưng dù đang có mặt tại đây nơi xứ lạ quê người, hay vẫn còn ở quê nhà bao giờ gặp lại hay nhắc đến cũng đều gợi lại trong tôi những tình cảm tốt đẹp, trong sáng, và thơ dại, như thể chỉ có trong những chuyện cổ tích hơn là ngoài đời.

Nhatrang, tên gọi đó với tôi không phải chỉ một thành phố, đó là một gia đình. Không phải gia đình được định nghĩa là một tổ ấm gồm cha mẹ con cái và anh em. Gia đình tôi trong những ngày cắp sách đến trường là những ngôi nhà luôn luôn thay đổi. Có khi là nhà bà Dì trên Xóm Mã Lạng; có khi là nhà bà Cô ở Rạch Rau Muống. Có khi là nhà ông Chú ở Hoàng Tử Cảnh. Nếu những bữa cơm gia đình tôi đói tình thương thì chính những giờ học làm tôi no nê kiến thức và tình cảm. Những ông thầy bà cô tôi là những khuôn mẫu đẹp đẽ không bao giờ phai trong trí nhớ tôi. Cả một thành phố Nhatrang là gia đình tôi. Lớp học, bãi biển, rừng dương, bầu trời, ngọn gió, tình bạn,…. Đó mới chính là gia đình tôi…

4.

Nhatrang, thành phố đó đã dạy cho tôi bài học đầu tiên về lòng nhân ái. Ông chú bà thiếm tôi là những người nhân ái như thế. Những người con của chú thiếm tôi cũng là những người nhân ái như thế. Nhưng tôi giống như một con vật bị săn đuổi vì thiếu cha, thiếu mẹ, chui rúc vào những hang động của tuổi thơ. Bãi biển đẹp nhất trên thế giới là nơi tôi tìm đến những ngày trốn học. Núp dưới bóng những gốc cây dừa, nằm giữa lùm cây trong rừng dương, hay ẩn mình trong hốc đá Hòn Chồng, tôi khám phá ra đời sống là một chuỗi những hạnh phúc và đớn đau, hay những đớn đau-hạnh phúc. Tôi thấy sự cô đơn trong đám đông và thấy cả nỗi ấm áp tình người trong sự cô độc. Tôi không phải là học sinh giỏi. Tôi càng không phải là một học sinh thông minh. Tôi chỉ là một đứa bé thấy thích thứ gì thì cố mà đi tìm hiểu cho ra thứ đó. Thủa đó tôi không tìm ra chữ nào phù hợp với suy nghĩ của tôi, nhưng gần đây tôi giật mình đọc được tựa đề một cuốn truyện dịch từ tác phẩm của Colleen McCullogh, The Thorn Birds, mà tôi rất “thích”: Tôi là một trong “Những con chim ẩn mình chờ chết”.

Tôi vẫn còn nhớ những ông thầy bà cô của tôi, những người đầu tiên dạy tôi đọc chữ, những người dạy tôi cách hiểu nghĩa và nhắc đến Nhatrang là nhắc đến một thành phố với lòng biết ơn của những đứa con. Thầy Cung Giũ Nguyên dạy tôi lòng yêu văn chương, thầy Điểm hội hoạ dạy tôi lòng yêu mầu sắc, thầy Dưỡng dạy tôi thế nào là âm nhạc, …Biển Nhatrang dạy tôi thế nào là vẻ đẹp và sự tàn bạo của thiên nhiên. Nó cũng dạy cho tôi sự nhỏ bé của con người trước sự vĩ đại của trời đất. Biển Nhatrang là một cuốn sách mà tôi sẽ đọc hoài trong suốt cuộc đời tôi. Ðọc tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung tôi thích nhất là câu “ngoài trời còn có trời”, tôi nhìn ra “ngoài biển còn có biển.”

5.

Tôi xa Nhatrang đã lâu. Lâu lắm. Tôi đã đi nhiều nơi, nhiều thành phố, nhiều nước. Tôi đã gặp gỡ nhiều người. Những người thông minh, khôn ngoan, đẹp đẽ, giàu có, sang trọng. Những người nghèo khó, vô gia cư, vô nghề nghiệp. Những người tha phương cầu thực. Tôi đã sống với họ, đã chia xẻ nỗi đau với họ. Tôi khám phá ra hình như tôi gần gũi hơn với những ngưòi cùng khổ. Tôi cũng là nạn nhân của bọn người hãnh tiến, bọn ăn xổi ở thì. Nhưng thật ra, họ giàu hay họ nghèo, họ có chức tước danh vọng hay họ chỉ là những người thường dân vô danh …bao giờ tôi cũng yêu thương họ. Yêu thương những con người bị đọa đày và tội nghiệp cho sự hãnh tiến của những kẻ số đỏ. Yêu thương sự chân thật lòng nhân ái của người này, và tha thứ những dối trá lọc lừa của người kia. Yêu thương cả những người trưóc đây từng chà đạp lên nỗi đau khổ của tôi. Cũng như tôi đã từng yêu thương những lằn roi xé thịt của cha tôi nhiều lần giáng xuống thân thể run rẩy của tôi, yêu thương những giọt nước mắt của mẹ tôi từng khóc vì tôi làm mẹ khổ.

Chính thành phố Nhatrang với biển khơi mênh mông của nó, rừng dương xanh đầy gai góc của nó, …đã trở lại với tôi. Nhatrang ở trong trái tim tôi. Nó nhắc tôi nhìn ra sự phù du và phù phiếm, nó chỉ cho tôi “ngoài trời có trời”, “ngoài biển có biển”. Chiều nay, tôi đi một mình đến Huntington Beach, một chút biển ở Cali để tìm ra một chút biển Nhatrang. Trên chiếc cầu bắc cao trên bờ cát một buổi tối tôi đã nhìn thấy biển đêm, nhìn thấy quê hương tôi mờ mịt. Tôi quên mất quá khứ, tôi không có tương lai. Và hiện tại? Tôi là “con chim ẩn mình chờ chết”…

Nguyễn Xuân Hoàng
California 1 tháng Ba, 1996

  Một Số Hình Ảnh Gia Đình & Bạn Hữu

   Youtube hình ảnh do Nguyễn Thị Thêm, cựu học sinh Trung Hoc Ngô Quyền thực hiện

  Nguyễn Xuân Hoàng và gia đình 2014

                

   NV Hoàng Khởi Phong, NS Phạm Duy, NB Ngô Vương Toại, Nguyễn Xuân Hoàng

               

    NV Nguyễn Mộng Giác, NT Trần Dạ Từ, NV Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng

                                

  Đinh Cường, Nguyễn Xuân Hoàng, Châu Văn Thọ, Hoàng Khởi Phong – 1995

 

NV Nguyễn Mộng Giác, HS Nguyễn Đồng, HS Nguyễn Thị Hợp, Nguyễn Khoa Diệu Chi, Thụy Khuê, N X Hoàng 1990

            

  HS Nguyễn Trọng Khôi, NV Trần Nghi Hoàng, Nguyễn Xuân Hoàng, HS Đinh Cường

           

NV Nguyễn Viết Khánh, Huỳnh Lương Thiện, NV Hoàng Khởi Phong, LS Nguyễn Tâm, NS Nguyễn Đức Quang, N.X Hoàng

                           

    NT Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Hoàng

       

    Nguyễn Xuân Hoàng, ÔB Ca sĩ Anh Ngọc

    

GS Nguyễn Xuân Hoàng, đứng thứ 3 từ trái và đứng giữa 2 giáo sư Dương Ngọc Sum, Nguyễn Thanh Liêm và các đồng nghiệp và cựu học sinh Petrus Ký

                                

 GS Đào Kim Phụng, ÔB Nguyễn Xuân Hoàng

 

  ÔB Nguyễn Xuân Hoàng và cựu giáo sư, học sinh trường Trung học Ngô Quyền 2011

     

Đứng từ trái: ÔB Nguyễn Vy Khanh, 2 con trai + NX Hoàng, NT Song Thao / Ngồi từ trái: ÔB NS Trường Kỳ, NV Trang Châu, NT Lưu Nguyễn, NT Bắc Phong

   

Hoàng Đìmh Bình, Nguyễn Xuân Hoàng, Trịnh Thanh Thủy, Hoàng Ngọc Tuấn, Đặng Thơ Thơ, Ng. Thị Thanh Bình

      

 ÔB Nguyễn Xuân Hoàng, NS Đăng Khánh, NS Từ Công Phụng …

                   

   NV Bích Huyền, NS Việt Dzũng, MC Uyển Diễm, Nguyễn Xuân Hoàng

                    

  LS Nguyễn Hữu Liêm, NV/HS Trương Vũ, Nguyễn Xuân Hoàng, NV Tiêu Dao Bảo Cự 

          

  HS Trương Thị Thịnh, HS Nguyễn Trọng Khôi, Nguyễn Xuân Hoàng

                                              

  NV Phạm Công Thiện, Nguyễn Xuân Hoàng 1988

                           

   Nguyễn Xuân Hoàng, NV Doãn Quốc Sỹ

                         

   NS Nguyên Bích, NS Từ Công Phụng, NS Ngô Thụy Miên, Nguyễn Xuân Hoàng

                

  Hoàng Ngọc Nguyên, NV Bùi Văn Phú, Nguyễn Xuân Hoàng, Hồ Quốc Đăng

               

 NV Huy Phương, Nguyễn Xuân Hoàng, NT Thanh Thương Hoàng, NV Phương Duy

                         

  Gia đình Cổ Ngư & ÔB Nguyễn Xuân Hoàng

                         

   Nguyễn Xuân Hoàng, NV Trần Doãn Nho, NV Trần Hoài Thư

      

ÔB Nguyễn Xuân Hoàng & Báo Người Việt: Phan Huy Đạt, Phạm Phú Minh, Đỗ Quý Toàn, Đinh Quang Anh Thái …

Từ trái: Thành Tôn, GS Nguyễn Văn Sâm, NV Phạm Phú Minh, Đạm Thạch, Nguyễn X Hoàng, Nguyễn Tà Cúc, NV Viên Linh, Đỗ Việt Anh, NT Trần Yên Hòa, Trần Văn Nam, Trúc Chi

                                      

  Nguyễn Xuân Hoàng, HS/NV Khánh Trường

          

 ÔB Nguyễn Xuân Hoàng, Laurianne Le, HS Võ Tá Đồng (vẽ chân dung NXHoàng)

 Chung quanh… Bụi, Rác, Và Nỗi Đau!

Phan Nhật Nam

1963- Trường Trung Học Ngô Quyền, Biên Hòa vào giờ tan học buổi trưa. Đám học sinh khi qua cổng mất cách huyên náo thường lệ, cụ thể với những nữ sinh đệ nhị cấp, lớp thiếu nữ đang thành những nhân dáng riêng với tuổi học trò đang độ lớn, đến mức trưởng thành, rộ nở. Bởi ngay cổng đang đứng trấn bởi một gã sĩ quan cấp thiếu úy. Áo quần hoa nhảy dù với những hình khối màu nâu, đỏ ngang dọc mạnh mẽ, độc đáo, chiếc mũ đỏ đội lệch và điếu thuốc lá trên môi. Gã trẻ tuổi còn nguyên vẻ của người mới rời khỏi giảng đường, trường học, dẫu cố làm ra dáng cứng rắn, lính tráng. Viên thiếu úy nhìn săm sắp, tìm kiếm… Đám học sinh chợt ngưng câu chuyện, hạ thấp giọng thì thầm khi đi qua. Cũng bởi, người tỉnh nhỏ đã nhiều lần chứng kiến những hành vi mạnh mẽ quá độ của những gã lính trẻ sống nay, chết mai. Thành phố nằm trong khu bản lề của chiến khu D, chiến khu Hắc Dịch, Rừng Lá, vùng xôi đậu Tân Uyên, Tân Tịch … của những tỉnh Bình Dương-Biên Hòa-Long Khánh-Phước Tuy, nên dân chúng thường chứng kiến xe GMC chở quan tài lính phủ Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ qua thành phố. Cảnh tượng gây nên thương cảm xót xa. Người chết trận phần đông là con em gia đình trong khu phố. Người ta báo cho nhau những tin chết chóc. Trung sĩ X Biệt Động Quân cháu ông Tám Mg đầu đường Công Lý. Thiếu Úy Q, anh cả con của gia đình em bác Hai L ngoài Cù Lao Phố. Tuy nhiên, gã thiếu úy hẳn là người xứ lạ đến đây tìm kiếm một điều gì. Hiệu Trưởng Bảo thân hình chắc nịch vạm vỡ, nhân dáng của một võ sĩ hơn là nhà giáo tiến tới tự tin: Xin lỗi, thiếu úy tìm ai? Gã sĩ quan đổi sắc mặt, vất vội điếu thuốc, lột chiếc nón đỏ xuống cầm tay ấp úng. Thưa thầy! Hiệu trưởng Bảo thoáng ngạc nhiên: Anh học tôi ở đâu? Thưa, thưa em không học thầy, nhưng em học thầy B, thầy H.. bạn của thầy; em học Phan Châu Trinh, nhưng thầy hỏi oral em kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp đầu tiên ở Đà Nẵng năm 1958. Hiệu Trưởng Bảo cười vui: Thế hôm nay cậu đến đây có việc gì? Em đến tìm anh Hoàng, Nguyễn Xuân Hoàng, người Nha Trang, học trên Đà Lạt đến đây dạy.

Vào đến văn phòng, Hiệu Trưởng Bảo lớn tiếng: Hoàng à, có ông thiếu úy nhảy dù nầy đến tìm toa.

Khi đã ngồi nơi quán T. Hg ở bờ sông, giáo sư Hoàng rạng rỡ: Quái, tôi đi đâu cũng gặp cậu (Chữ “cậu” có nghĩa thân mật, ngang hàng, không có ý kẻ cả, đàn anh. Hoàng không hề có tính nầy). Ngày xưa sáng tắm biển ở Nha Trang cũng thấy cậu; lên Đà Lạt cũng có, rồi nay gặp lại ở Biên Hòa nầy. Làm sao cậu biết tôi dạy ở Ngô Quyền?

Tôi (Anh hơi ngần ngại trước xưng hộ “anh/em” do biết rõ Hoàng không thích làm “đàn anh” với bất cứ ai. Anh nhớ danh xưng “thầy” với Hiệu Trưởng Bảo). Tôi đọc thơ của thầy từ học trò của thầy.
– Học trò nào của tôi mà cậu quen?

– Cô học trò giỏi Việt Văn nhất trường Ngô Quyền do được thầy dạy nên đoạt giải thưởng văn chương Lễ Hai Bà Trưng!

– A! Lê Th. Dg

– Đấy cô nhỏ đó, cô ấy đọc thơ của thầy nên tôi mới hỏi ra.

-Thơ làm sao? Hoàng có vẻ thú vị.

Thơ làm từ ngày thầy và tôi còn trên Đà Lạt… Bài, “Đà Lạt mưa hoài nên Đà Lạt buồn. Tôi mang mối sầu trong lòng hiu quạnh…”

Hoàng cười trống vắng: Vớ vẩn bỏ xừ. À nầy cũng lạ, tôi với cậu là hai tuổi khác nhau, làm hai việc khác nhau, mà lại hay gặp nhau và mỗi lần gặp là một lần có chuyện.

– Chưa chắc, lần nầy có chuyện gì đâu? Anh cũng nghĩ đến một chuyện gì đó nhưng  không rõ?

– Có rồi! Tôi sắp đổi về dạy Sài Gòn!

– Như vậy là chuyện tốt vì Biên Hòa, Sài Gòn cách nhau chỉ 30 cây số. Biên Hòa  chỉ là ngoại ô của Sài Gòn. Biết đâu tôi lại đổi về những tiểu đoàn ở Sài Gòn thì lại gặp thầy mấy hồi.

Khi đưa anh về cổng Căn Cứ Không Đoàn 33, cổng chung vào Tiều Đoàn 7 Nhẩy Dù, giọng Hoàng bỗng nhiên chùng xuống ân cần: Cậu cẩn thận nghe không. Súng đạn vô tình. Tội lắm. Tôi ăn cà-rem V.Hg. nhà ông Đg. H, anh họ của cậu từ 1950! Cẩn thận nghe cậu Nam.

Anh không có anh trai. Không chị gái. Nên anh cần thương yêu huynh đệ/bằng hữu như một an ủi, bù trừ.

1973- Sau thời gian trầy thân khắp mọi vùng đất của miền Nam với cách người lính tác chiến thực thụ, nay anh được về làm lính thành phố với nhiệm vụ trong Ban Liên Hợp Quân Sự, Tân Sơn Nhất. Từ  Tháng 10, 1973, Hà Nội phổ biến Nghị Quyết 21 công khai đánh chiếm Miền Nam bằng vũ lực, xé bỏ Hiệp Định Ba Lệ 1973. Phái đoàn gọi là Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam VN tức chính phủ của Mặt Trận giải phóng miền Nam theo lệnh Hà Nội kéo dài những phiên họp không mục đích, không nội dung. Anh được rảnh rỗi nên thường về Sài Gòn tiếp tục sự nghiệp “cầm cái ly” thay vì cầm khẩu súng. Quán Chợ Đũi với những bạn rượu thuộc thành phần khác hẳn với những hảo hớn giang hồ nhà binh từ bao lâu quen mặt, quen tính. Đấy là ông Đoàn “càn” nổi tiếng “càn” từ hồi Trại Định Cư Phú Thọ sau di cư năm 1954; người thành danh từ Đại Học Xá Minh Mạng; đấy là giáo sư Thảo với cách ăn nói thắm thiết đôn hậu; là ông thầy dạy toán lừng lẫy do đã có Chứng Chỉ Toán Đại Cương (MG) từ trước năm 1960… Danh sĩ quanh bàn rượu còn có những tên tuổi kiệt liệt như nhà giáo thi sĩ Tạ Ký, đến chai bia thứ ba thì xỏa đầu tóc bạc, nhìn trân ra khoảng tối với đôi mắt ráo hoảnh thay tiếng thét im lặng; đấy là nhà vận động cách mạng (cách mạng thứ thiệt/rất bản lãnh) Nguyễn Liệu, Hiệu Trưởng Quảng Ngãi Nghĩa Thục, một cơ sở giáo dục hoàn toàn miễn phí, thách đố chế độ gọi là “xã hội chủ nghĩa” của cộng sản Hà Nội. Bàn rượu cũng có người điên sáng suốt một cách thông tuệ mà một thế kỷ văn chương/thi ca/triết học Việt Nam khó có người ngang tầm, cân sức (kể cả “sức điên/tỉnh” rất đáng kính phục), Bùi Giáng. Tay ôm con mèo và tay cầm ly rượu không phân biệt.  Và cuối cùng người thường xuyên ngồi bên anh với nét mặt hòa nhã, vui hòa nhưng cách biệt; tham dự nhưng đứng ngoài; nồng nàn góp chuyện nhưng kín đáo giữ lại phần riêng tư. Hoàng hay ngồi cạnh anh nói câu ân tình vừa phải:  Rồi tôi với cậu thế nào cũng gặp nhau mà thiệt.

Chúng tôi luôn có với nhau. Sáng 30 Tháng 4, 1975, từ Công Trường Lam Sơn, trước Tòa Đô Chánh anh lên yên, nhấn mạnh bàn đạp, động tác không chủ đích đi dọc đường Lê Văn Duyệt, qua Chợ Đũi, nơi các bạn hôm qua hằng vui vầy, sống động… Anh nhìn vào bàn ghế lổng chổng trống không. Anh đạp dài theo Lê Văn Duyệt giữa giòng âm động dồn dập của Sài Gòn đang hồi tẩm liệm với nhịp chày vồ dộng mạnh xuống trăm, ngàn quan tài. Mà quả thật có nhiều quan tài của những người vừa chết. Đến trước cổng trại Nguyễn Trung Hiếu, hậu cứ  Tiểu Đoàn 1 Dù có một xác con trẻ trần truồng không biết ai ném ra từ bao giờ lên mặt đường. Một cô gái mặc áo dài trắng nữ sinh đi đến, gác chiếc xe đạp mini cạnh lề đường, bình thản, thành thạo đưa máy ảnh lên, lấy góc cạnh chụp thây đứa trẻ chết. Cô gái nhỏ giải thích sành sõi: Chụp để làm chứng tội ác Mỹ-Ngụy trước khi bọn chúng rẫy chết!

Anh vào Cư Xá Sĩ Quan Bắc Hải nay đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, trước 1972 là Tư lệnh phó Sư đoàn Dù. Chuẩn Tướng Hậu đang trải bản đồ trên mui xe jeep, bàn tính với viên sĩ quan nhảy dù có nhiệm vụ an ninh cư xá. Khi biết lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh, ông vất tung chiếc bản đồ, gầm lên lời nguyền rủa. Nhưng viên thiếu úy trả lời quyết liệt: “Tôi không đầu hàng, tôi với trung đội sẽ ra bến tàu tiếp tục chiến đấu”. Thiếu úy Huỳnh Văn Thái tập họp trung đội, hô nghiêm, xếp hàng, ra lệnh di chuyển. Trung đội lính ra khỏi cư xá theo lối cổng Đường Tô Hiến Thành, rẽ vào Nguyễn Tri Phương, đi về phía chợ Cá Trần Quốc Toản, hướng bến tàu. Nhưng những Người Lính Nhẩy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái không ra đến bến Bạch Đằng, khi tới đến bùng binh Ngã Sáu Chợ Lớn, họ xếp thành vòng tròn, đưa súng lên trời đồng hô lớn.. Việt Nam Cộng Hoà Muôn Năm! Con chết đây cha ơi! Và những trái lựu đạn tiếp nhau bừng bực nổ sau lời hô vĩnh quyết cùng đất nước Miền Nam. Anh chụp hình những người lính nhảy dù của Thiếu Úy Thái với mùi máu người đọng trên cánh mũi, nơi tròng mắt.

Anh đi qua biên giới tử sinh nầy với mặc cảm phạm tội – Tội sống sót. Không hiểu anh đã về đến nhà theo lối nào, nhưng quả thật đây thật là đoạn đường dài nhất, gớm ghê nhất anh vừa đi qua với cổ đắng, miệng khô rốc, trí óc vỡ loãng trỗng không. Có bóng người đứng trước nhà đường Hồ Biểu Chánh, Phú Nhuận. Hoàng lao tới, chụp ghi-đông xe anh rít lên tiếng kêu không che dấu. Tại sao! Tại sao… Mầy còn lại ở đây! Tại sao! Anh biết Hoàng lo sợ cho anh chứ không phải vì bản thân. Anh nhìn xuống che dấu giọt nước mắt muốn rơi. Gió thổi những tấm giấy căn cước bọc nhựa của những người di tản lăn lóc trên mặt đường.

Những năm sau khi yên lành ở Mỹ, mỗi dịp Tháng Tư anh nhớ lại Lần Thật Chết Quê Hương. Cũng chỉ một lần Hoàng “mầy/tao” với anh.

Ba. 2013/2014. Anh không thể nghĩ đây là dạng hình sáng/đẹp/vững chắc/cân đối của người thanh niên đứng trước biển Nha Trang sáng sớm trong thập niên 50. Anh phải tự chứng nhận lại về Người Viết Văn/Làm Báo/Dạy Học với dánh dấp rất đàn ông mà cũng thuần hậu, giản dị của thập niên 60, 70. Nhân dáng mà phần đông những nhân sự trong báo giới/văn giới/học giới Sàigòn thường ngụy trang dưới những hình thái quá độ/dáng kịch/rất dễ nhận. Còn chăng là ánh mắt bình thản của một người biết mình là ai. Người rất biết rõ mình ở nơi đâu. Anh cầm cánh tay gầy yếu của bạn. Anh nghe Hoàng kêu lên tiếng đau trong Ngày 7 Tháng 9: Đau quá! Đau nơi sườn! Nam gọi Vy hộ mình! Đau quá! Anh nghe bạn kêu đau và đột nhiên nhớ rất rõ những lời viết về bằng hữu mà anh làm trong đêm tuyết phủ ở Minnesota mười mấy năm trước…

Bạn đã mang tiếng Kẻ Tà Đạo
Cho Đi Trên Mây cũng chưa cao
Hãy Ngồi Lên Cỏ
Ngôi Nhà Ngói Đỏ
Chung quanh,
Bụi,
Rác,
Và..
Nỗi Đau!

Hóa ra, anh và Nguyễn Xuân Hoàng dù rất khác nhau về nhiều điểm nhưng quả đã chung một điều – Cả hai chưa hề nói với nhau về văn chương, chữ nghĩa, có lẽ trong thâm tâm anh và Bạn đều hiểu rõ tính giới hạn/phù hư/không thực của văn tự – Không đủ sức chuyên chở, bày tỏ Sự Thật Vô Hạn của Nỗi Đau. Đau quá!


Phan Nhật Nam

Nha Trang-Đà Lạt-Biên Hòa-Sàigòn-Cali
(Sáu-mươi năm trước của 13/9/2014)

NGUYỄN XUÂN HOÀNG,

Nhà văn lững thững trong đời

Chúng tôi quen nhau khi cả hai cùng dạy môn Triết ở năm cuối Trung học tại trường Petrus Ký Sàigòn cuối thập niên 1960. Ngoài giờ dạy, Hoàng ít xuất hiện ở trường, anh bận bịu lo chuyện bài vở cho tờ tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng ở đường Phạm Ngũ Lão, anh dạy tư nhiều nơi. Tôi rảnh rang hơn vì ngoài giờ dạy chẳng làm gì khác hơn là lo cho xong cái Cao Học mà cha Thanh Lãng luôn hối thúc phải hoàn thành. Thỉnh thoảng lái xe vô trường, ghé phòng Giáo Sư kiếm người đánh cờ tướng, tôi gặp Hoàng loáng thoáng giữa những giờ đổi lớp. Chúng tôi chào nhau, thân thiện nhưng không thân thiết.

Rồi cả lứa chúng tôi cùng đi thụ huấn quân sự chín tuần ở Quang Trung dành cho Giáo chức cấp 3, khóa 6/68 DBTĐ. Nơi đây tôi có dịp gặp Hoàng thường xuyên hơn, cũng chỉ mầy tao chuyện quân trường mà chẳng nói gì đến văn chương chữ nghĩa. Hoàng có nhiều bạn, anh có vẻ được đồng nghiệp nể trọng và thích kết thân dầu anh ít nói. Tướng cao, ốm, đẹp trai, tóc dầy bồng bềnh, anh có dáng của một nghệ sĩ với nét mặt lúc nào cũng như đăm chiêu lo lắng, có khi ngồi bên nhau cả bọn chục đứa, tôi ít nghe Hoàng nói, vậy mà sao bạn bè vẫn thích. Có lẽ từ thái độ tự tin của anh trong lời nói, trong cử chỉ vung tay hay cả trong thái độ dứt khoát đứng dậy trước, bước ra khỏi sự ồn ào của nhóm.

Sau thời gian thụ huấn quân sự, chúng tôi gần gũi nhau hơn. Thỉnh thoảng có ghé nhà Hoàng rút canh xì phé còm giữa những đồng nghiệp cùng lứa tuổi. Vài lần bạn bè rủ rê vào quán La Pagode, để nghe những nhà văn thời thượng lúc đó bàn tán chuyện văn chương Tây phương hay tình hình văn học Sàigòn. Tôi nghe mà không thấm về văn chương đương thời vì còn mãi mê với chuyện văn chương Nam Bộ 1945-1954, nên chuyện bàn luận ở đây chỉ vào tai nầy lọt qua tai kia. Công việc viết lách của Hoàng và các bạn văn buổi đó tôi đón nhận trong lơ đãng, hờ hững hờ…

Chúng tôi ít liên lạc từ khi tôi đổi đi trường khác. Mãi cho đến tháng tư đen quốc nạn đổ lên đầu dân Việt, bạn bè tứ tán lao đao. Trong thời xa cách đó, thỉnh thoảng tôi theo Đặng Phùng Quân đến La Pagode, thấy Hoàng đã ngồi đó với nhiều người, chỉ trao đổi bâng quơ “mầy lúc nầy khỏe không, thầy đồ Nho?” Tôi được gọi là Đồ Nho để phân biệt với các bạn văn trong nhóm của Hoàng là Đồ Tây như Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Quốc Trụ, Hoàng Ngọc Biên, và có thể thêm Nguyễn Đình Toàn. Những nhà văn đương làm mưa làm gió trên văn đàn Sàigòn lúc đó với phong cách văn chương mới theo kiểu viết của nouveaux romans hay anti roman. Họ viết với nhiều đoạn phân tích nội tâm thiệt tỉ mỉ, câu văn phá cách, không cần theo văn phạm thường, nhân vật đi vào chiều sâu tâm hồn, những sinh hoạt, hành vi của nhân vật chỉ là thứ yếu.

                          Khi 2 giáo sư gặp lại, từ trái: Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Văn Sâm.

Tôi xa lạ với loại văn chương nầy, nói rõ hơn là tôi không thấu đáo nó nên không mấy thích khi thưởng thức, nói gì đến sáng tác kiểu đó. Và tôi đứng ngoài việc sáng tác văn nghệ, chỉ quan sát bạn bè mình vẫy vùng với bút mực. Hoàng ở trong nhóm đó trong một chừng mực nhứt định. Anh được sự chú ý của người đọc dầu viết ít, được coi là một tác giả thông minh, có chiều sâu tư tưởng.

Thời cuộc đẩy chúng tôi đi xa hơn vào dòng xoáy đảo điên của đất nước, tôi vượt biên qua Mỹ và Hoàng cũng lững thững sau đó vài năm, định cư ở miền Đông với gia đình, tôi gởi thơ chia vui với bạn và mách nước người viết như Hoàng nên đến vùng Sàigòn Nhỏ của California, nơi đó anh sẽ có dịp phát triển tài năng bằng viết lách hay làm việc liên quan xa gần đến báo chí. Và bạn tôi đã về làm việc suốt thời gian dài cho công ty Người Việt, một thời gian mà sau nầy tôi nghĩ là uổng phí đối với một nhà văn vì phải bận bịu những chuyện chuyên môn ngoài văn chương. Thời gian nầy Hoàng chẳng in được bao nhiêu quyển. Tâm sự với tôi, Hoàng cũng tỏ ra là tiếc mình bỏ lỡ đi những tháng ngày đáng lẽ nên viết vì còn nhiều sức sáng tạo. Bây giờ thì hết rồi. Tao muốn buông thả hết mọi chuyện, kể cả đời sống nầy.

Câu nói như tiếng thở dài, tôi nghe mà thương bạn quá. Tôi không hiểu tại sao bạn mình lại thả dốc nhanh đến như vậy? Tôi hỏi gặng “Chán đời à?” “Không, tao vẫn vậy, vẫn sống và làm việc của đời, nhưng không coi trọng cái đời của mình, chẳng quí nó nữa”. Anh hờ hững nhấn mạnh. Nếu bây giờ ngã ra chết liền, tao vẫn không có gì phàn nàn, không tiếc rằng đã bỏ cuộc đời quá sớm. Đời sống có những cái kỳ quặc của nó. Giải quyết cách nào cũng làm cho mình đau lòng vì không bao giờ mình vừa ý.” Hình như Hoàng triết lý ngay cả trong đời sống thường nhật. Và rất nhạy cảm. Tôi nhìn dáng đi của anh, lững thững, nhận ra ngay được trong đám đông với cái áo thun và quần Jean xanh muôn thuở.

Nhìn mái tóc bạc trắng của bạn gần đây, bạc như những nhà hiền triết nhưng vẫn còn bồng bềnh như một nghệ sĩ, dáng gầy gò hơn trong chiếc ghế rộng thinh, tôi cảm giác Hoàng cô đơn ngay với chính mình!

Trong một truyện ngắn mới đây, truyện Vô Đề, in trong tập “Quê Hương Vụn Vỡ” tôi đã lấy hình ảnh và những phát biểu của Hoàng, nhào nặn với hình ảnh một nhà văn khác để tạo nên nhân vật Ngữ. Thế giới chung quanh cung cấp cho ta muôn ngàn hình ảnh, nhà văn nào dùng nó nên cám ơn đời và cám ơn nhân vật cụ thể đã cho ta chi tiết đó.

Trong số năm mươi truyện ngắn của tôi chỉ có một truyện viết cách nay hơn hai mươi năm tôi có lời đề tặng ba người bạn mình là Đặng Phùng Quân, Viên Linh, Nguyễn Xuân Hoàng. Những người bạn văn thân thiết cho tôi tấm gương đã đi hết đời mình với văn chương. Với sự chân thành tha thiết, không lợi dụng văn chương, coi nó là phương tiện áo cơm, buông thả.

Truyện của Hoàng khó đọc, ta không thể nuốt trơn tru một mạch như những tác phẩm lem nhem, làm bội thực người đọc. Các nhân vật tiêu biểu trong ngòi viết của anh cũng khó mà nhận dạng được ở ngoài đời. Đó là những con người lững thững như tác giả của nó, đứng trong đời nhưng bất cần đời, giải quyết những vấn đề coi như thiệt là quan trọng nhưng với cử chỉ hững hờ, như bất cần…

Tác phẩm văn chương lúc nào cũng nằm một trong hai đối cực: loại khó nuốt và loại dễ tiêu. Loại dễ tiêu thường xuyên được đương thời nhắc đến, luôn luôn là đa số, kể về độc giả lẫn số lượng in ấn.

Nhưng loại khó nuốt bao lâu nay được giới nghiên cứu coi chính nó là tác nhân của sự tiến bộ văn hóa của dân tộc.

Bạn tôi là cây viết loại đó. Viết với thái độ nghiêm chỉnh thận trọng, nhưng với tâm trạng lững thững, như anh đã lững thững trong cõi đời…

Nguyễn Văn Sâm
(Victorville, CA May 09-2012)

                              

     

                                

 Nhà Văn Nguyễn Xuân Hoàng từng giữ chức Thư Ký Tòa Soạn của Tạp Chí Văn từ 1972 đến 1974

“Ở với họ nhưng không theo họ”

Giáo Sư Nguyễn Xuân Hoàng

… Tôi chỉ biết chứng minh một điều: Petrus Ký là một nhân vật lớn của đời sống văn hoá của chúng ta, của Việt Nam. Chúng ta hãnh diện về Ông, hãnh diện là người được theo học trong ngôi trường mang tên Ông, hãnh diện là những hậu duệ của một con người tài ba lỗi lạc.

Mới đây, trong một bài viết khác của Trần Ngọc Thạch, “Petrus Ký, Nhà Bác Học Đa Năng, Nhà Ái Quốc Khả Kính” gọi Petrus Ký là nhà chính trị chịu nhiều cay đắng: Triều đình Huế chống Tây, mà tiên sinh làm việc với Tây; triều đình Huế cấm đạo mà tiên sinh là người Thiên Chúa ngoan đạo; triều đình và hầu hết các sĩ phu phản kháng việc dùng chữ Quốc ngữ mà tiên sinh là nhà văn hoá tiên phong phát triển chữ Quốc ngữ; trong lúc triều đình Huế và đa số sĩ phu muốn duy trì bút lông để vẽ “Thiên-Trời, Địa-Đất” thì tiên sinh nhất định phổ thông hoá việc dùng bút thép để cải tạo dân sinh theo đà tiến hoá của khoa học và kỹ thuật Tây phương.

                             

 Nhà Bác Học Petrus Trương Vĩnh Ký

Trước sức ép cực kỳ khắt khe của một xã hội phong kiến, Petrus Ký đã chọn cho mình một phương châm, một kim chỉ nam:
Sic vos non vobis/Ở với họ nhưng không theo họ.

Tôi nhớ sau khi đưa ra những lời buộc tội Petrus Trương Vĩnh Ký của những tác giả mà tôi có được từ Phạm Quỳnh, Mẫn Quốc, đến Tô Minh Tùng,… và sau đó với những công trình văn hoá và nhân cách lớn lao của Petrus Ký… tôi nói là những người đi sau đã đến lúc nhận ra một điều là suốt cuộc đời của Petrus Trương Vĩnh Ký, Ông chỉ hiến dâng đời Ông và trí tuệ Ông cho quê hương và tổ quốc. Câu châm ngôn Sic vos non vobis là ngọn đuốc soi con đường Ông đi. Và Ông luôn trung thành với nó. Chúng ta không có quyền khen Ông, chúng ta chỉ có lòng ngưỡng mộ Ông thôi.

Tôi hãnh diện là một học sinh trường Petrus Ký, hãnh diện là người học trò nhỏ của Petrus Trương Vĩnh Ký…

  Mời đọc toàn bài viết (pdf)  – trong Đặc San Petrus Ký 2014, Hội Ái Hữu Petrus Ký Bắc Cali thực hiện

                    

Trên Bục Gỗ của Ngôi Trường Yêu Quý

Giáo Sư NGUYỄN XUÂN HOÀNG

(Trích trong “ĐẶC SAN PETRUS KÝ 2014” do Hội Ái Hữu Cựu Học  Sinh Petrus Ký  Bắc California thực hiện. Bài này cũng là từ truyện dài “Bụi và Rác”, chương 5 của Nhà Văn Nguyễn Xuân Hoàng)

Người đầu tiên cho tôi hay rằng tôi đã được Sở Giáo Dục thành phố cho phép “thôi việc” là Sự, “hiệu phó” của Hiên. Sự người Nam, tập kết ra Bắc từ năm Năm Tư, lấy vợ Bắc.

Cả hai đều là giáo viên cấp ba. Chồng dạy toán vợ dạy Việt văn. Sự nói tiếng Nam trăm phần trăm, giọng không lơ lớ như những người tập kết đã “sống ngoài Bắc hai mươi nhăm năm.” Chị Tâm thì khác hẳn chồng. Chị là người Bắc rặt, Hà Nội thứ thiệt. Chị là cháu cụ Ngô Tất Tố: Chậm rãi, nhỏ nhẹ, dịu dàng, chị biết lắng nghe người khác nói và cũng biết nói điều gì khi cần nói. Sự thì xốc vác, năng động, cởi mở.

“Ðơn xin thôi của anh đã được chị Sáu Nỡ, giám đốc Sở Giáo Dục chấp thuận. Anh nghĩ sao mà xin thôi?”

Tôi nhìn Sự dò xét ý nghĩa câu hỏi của anh ta. Tôi chưa biết trả lời sao. Có nên nói rằng tôi không thể là loại người làm công việc xoay một vòng một trăm tám mươi độ trên chính nơi bục gỗ mà trước kia tôi đã từng làm chủ? Có nên nói rằng trước kia tôi chỉ là một người dạy học bất đắc dĩ, giờ đây việc đó còn bất đắc dĩ hơn, một triệu bất đắc dĩ hơn trước chăng? Phải chi tôi là người dạy Toán, Lý Hóa, Sinh vật, thì có thể tôi sẽ dễ dàng hơn khi đứng nói trước mặt các em những điều trắng mà mới hôm qua mình còn nói là đen?

Ðứng ở lan can hành lang, chúng tôi cùng ngó ra sân trường. Tôi thấy mình sao quá xa lạ ngay giữa khung cảnh quen thuộc từ bao nhiêu năm nay. Từ sau ngày Ba Mươi Tháng Tư đến nay, lòng tôi không bao giờ yên, trái tim tôi không bao giờ ngưng lo âu hồi hộp. Tôi sợ những câu hỏi, và tôi thấy mình lúng túng khi tìm câu trả lời.

“Mừng quá phải không?” Sự hỏi tiếp khi thấy tôi lặng thinh hơi lâu.

“Cảm ơn anh đã cho biết tin. Nhưng bao giờ thì tôi được chính thức nghỉ?”

“Giấy đã về chỗ ông Hiên rồi. Có lẽ nội sáng nay ông Hiên sẽ đưa cho anh. Và từ ngày mai anh có thể… có thể…”

Sự không nói hết câu. Tôi không hiểu ý anh ta muốn gì. Tôi quay lại, nhìn Sự. Sự hơi thấp hơn một người Việt Nam trung bình. Da mặt anh đen sạm, hai con mắt sáng, giọng nói rổn rảng.

“Có một điều tôi muốn nói với anh, ông Hiên đã làm một bản báo cáo về anh cho sở. Bản báo cáo không tốt về anh, nhưng có lẽ nhờ đó anh đã được cho nghỉ việc theo ý muốn của anh.”

Bất ngờ, Sự mở cặp đưa cho tôi tờ “pelure” của bản lót giấy than đại khái viết rằng tôi là một người “phóng đãng”, cuộc sống của tôi không thể thích ứng với một nhà giáo, và càng không thể thích hợp với một nhà giáo xã hội chủ nghĩa trong chế độ cách mạng. Nhà trường cách mạng không cần một nhà giáo kiểu Trần Lâm Thăng. Bản báo cáo còn ghi sự liên hệ của tôi với gia đình ông Phan, một nhân vật phản động của chính trị tại miền Nam. Tôi không chờ đợi những lời tốt đẹp của Hiên viết về tôi. Tôi hiểu tôi là “thứ” người gì. Nhưng tôi không ngờ y viết về tôi kiểu đó.

“Nếu không ở được thì nên tìm cách đi đến một chỗ tốt hơn.”

Sự nắm cánh tay tôi giật giật rồi bước đi.

Tôi nhìn theo anh không biết có phải thật là chính Sự nói những lời đó không. Tôi ngó xuống tay mình. Tờ giấy pelure vẫn còn đó.

Thật tình tôi có mừng khi hay tin được nghỉ việc, nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy lòng mình xót xa, như thể có một con dao nào khá bén lịm đang cứa từ từ một phần thân thể mình.
ôi đi chậm rãi dọc theo hành lang, trở lại phòng giáo sư. Tôi ngồi xuống chiếc ghế sát bên cửa hông. Ðám đất nhỏ vừa được mấy thầy cô giáo xới lên trồng rau. Một chuồng heo vừa mới được rào giậu. Những cái đó thật xa lạ với ngôi trường mà tôi đã từng có mặt hơn mười lăm năm nay, từ một đứa “học trò nhưng không sách cầm tay” ngồi ở dưới bàn học kia, đến lúc đứng trên bục gỗ này nhìn lại tuổi trẻ của mình.

Hai câu đối trước cổng trường, cây phượng trong sân che mát trạm của người gác dan, nơi có chú Phẩm hiền lành cục mịch như một củ khoai mở cửa cho chúng tôi mỗi sáng. Phòng y tế nơi có bác Thử làm việc người gầy nhom gầy nhách, nhưng lúc nào cũng tươi cười chăm lo sức khỏe cho cả trường. Thầy Ái dạy Pháp văn ăn nói lưu loát hoạt bát, ông Tổng giám thị Chương ưa nói chuyện thời sự, và còn bao nhiêu kỷ niệm đang quanh quẩn ở góc sân, ở vòm cây, ở mái ngói, ở đợt nắng sắp vào hè, ở cơn mưa dầm, ở khói lựu đạn cay tỏa đầy sân trường khi các em xuống đường.

Không, có thể tôi không phải là một người dạy học hội đủ những điều kiện của một người thầy tốt theo quan niệm Khổng Tử, nhưng tôi chắc chắn là lòng tôi tràn đầy niềm yêu mến công việc của tôi. Tôi hiểu tôi phải làm gì khi đứng trên bục gỗ. Tôi biết tôi cung cấp điều gì cho học sinh của tôi: những kiến thức tối thiểu cho việc thi cử và những bất đồng giữa trang sách và đời sống. Tôi yêu các bạn đồng nghiệp của tôi, các em học sinh mà tôi chỉ gặp mỗi năm một lần rồi đi qua ngưỡng cửa vào đại học, rất ít khi ngoái đầu lại. Chắc chắn các em đã mang theo trong lòng những điều đồng ý và bất đồng ý với tôi qua những gì tôi trình bày. Nhưng điều đó có hề gì. Ðiều mà lòng tôi muốn gửi đến các em là con người và những giới hạn của nó: sự đau khổ, nghèo đói, dốt nát, bệnh tật và nhất là cái chết. Tôi muốn các em chia sẻ cùng tôi bài học làm người. Bài học ấy chúng tôi cùng học, không ai dạy ai.

Nhưng mà tôi vui, vì tôi biết rằng từ nay tôi sẽ không còn phải đứng trên bục gỗ nói những điều hoàn toàn trái nghịch với những gì tôi đã từng nói trước đây cũng trên cái bục gỗ ấy. Tôi sẽ không còn phải đêm đêm chong đèn biên chép cái gọi là “giáo án” để sáng mai vào lớp đọc từng chữ như một học sinh không thuộc bài. Tôi sẽ không còn phải,… không còn phải,… không còn phải…

                                                                       Bài viết (pdf)

 Giáo Sư Nguyễn Xuân Hoàng (thứ tư từ bên phải) và một nhóm học sinh lớp 12 ở Trung Học Petrus Ký năm 1971

    Trích bài: “Một Chặng Đường Văn Chương” của Ngô Nguyên Dũng

                                              

 Ngô Nguyên Dũng

Niên khoá 1968-1969, đậu xong Tú tài một, tôi được vào trung học Pétrus Ký học lớp đệ nhất. Giảng dạy môn triết học là một giáo sư trẻ vừa tốt nghiệp đại học sư phạm Đà lạt, khoa triết, kiêm văn sĩ đang được nhiều độc giả trẻ ngưỡng mộ: Nguyễn Xuân Hoàng.

Tôi chú ý đặc biệt đến ông, vì từ năm học lớp đệ ngũ tôi đã bắt đầu tập tễnh viết văn, làm thơ thiếu nhi gởi đăng trang Búp-bê do nhà văn Duyên Anh phụ trách trong nhật báo Sống. Giữa thập niên 1960, tôi khởi sự dọ dẫm làm quen với sách báo văn học ảnh hưởng đậm nét trường phái văn chương tây phương đang được giới độc giả trẻ tuổi ở Sài gòn ưa chuộng.

Cho tới lúc đọc được văn chương Nguyễn Xuân Hoàng, một lần nữa, tôi khám phá thêm một khuynh hướng sáng tác khác: tính đẹp của tư tưởng bi quan ẩn trong chủ nghĩa hiện sinh. Ở tuổi mười tám, tôi tìm đọc văn ông, ngoài vai trò độc giả, còn với tâm trạng tò mò của một đứa học trò, hy vọng nhặt ra những mảnh vụn tâm tư ẩn náu giữa những dòng chữ về con người và đời sống của người thầy mà tôi mến mộ. Tôi tìm thấy không nhiều, mà vặt vãnh như những mẩu giấy ráp một bức ảnh lỗ chỗ nhiều mảng trống.
Với cương vị giảng viên môn triết, Nguyễn Xuân Hoàng là một người thầy linh động hoạt bát. Ông dẫn dắt tuổi trẻ chúng tôi bước vào ngôi nhà triết học tây phương với những luận lý, tâm lý và đạo đức học cổ điển. Thầy Hoàng là người trẻ nhất, dáng vẻ hào hoa và diện mạo điển trai nhất trong ban giáo viên lớp mười hai của chúng tôi.
Là văn sĩ, Nguyễn Xuân Hoàng đã khai mở trong tâm thức tôi những cánh cửa bước vào cõi chữ nghĩa huyễn mộng. Cuối năm 1969, tôi rời nước du học. Bạn tôi biết tôi để ý tới văn chương Nguyễn Xuân Hoàng, cho nên mỗi khi có tác phẩm mới ấn hành của ông ở quê nhà, đều gởi cho tôi. Từ đó, những “Ý Nghĩ Trên Cỏ”, “Khu Rừng Hực Lửa”, “Kẻ Tà Đạo”, “Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Đâu” rắc mầm trong tâm tư tôi những chồi cây. Trong “Khu Rừng Hực Lửa” tôi đã gạch dưới vô số câu và những chương tâm đắc.

    Mời đọc toàn bài viết (pdf)

Văn Chương, Triết Học và Nguyễn Xuân Hoàng

Tôi chọn đề tài này vì anh bạn đồng môn Petrus Ký thu bài viết cho Đặc San trường Petrus Ký, năm 2014 để chào mừng GS. Nguyễn Xuân Hoàng sớm khỏi bịnh. Tôi nộp bài “Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, Văn Chương và Quê Hương” trước đây xong, bạn Đại yêu cầu viết thêm một bài nữa, tôi đùa là tôi ghiền viết lắm, và với bạn Đại thì viết cho thầy Hoàng mau hết bịnh vậy. Tôi sẽ lan man ngòi bút qua 3 tiêu đề chính nêu trên tựa, các bạn Petrus Ký nhé.

Tôi theo học lớp 12B4, thầy Hoàng dạy lớp 12B1, cách lớp tôi không bao xa. Tôi không học lớp thầy, tôi nghe nói vị thầy dạy lớp của tôi môn triết đã không còn nữa. Chính vị thầy tên Liêm đã trao truyền ý niệm về nhóm existentialisme ngày xưa. Xin cám ơn thầy Liêm dạy triết (không phải thầy Nguyễn Thanh Liêm hiệu trưởng, chỉ trùng tên mà thôi). Dù đi ban toán nhưng chẳng hiểu sao tôi lại mê sinh ngữ, văn chương và triết học. Hai lãnh vực sau đấy là phạm trù chuyên môn của thầy Nguyễn Xuân Hoàng.

Văn học hay nhà văn cần hai yếu tố: Tự Do và Dấn Thân, dấn thân yêu và trung thành với ngòi bút, đam mê với văn chương. Nguyễn Xuân Hoàng là nhà văn mà lại gắn bó với triết học, và tư tưởng tự do như quan điểm văn học được Sartre làm nổi bật. Khi xác định viết trong trách nhiệm của ngòi bút, chọn lựa chủ đề, Nguyễn Xuân Hoàng thiên về chủ đề đời sống và nhân bản, theo tôi ẩn chứa triết lý nhẹ nhàng, hiền hòa, không cường điệu, không đại ngôn và không sáo ngữ.

Hãy đọc tiếp Nguyễn Xuân Hoàng mô tả kỷ niệm xưa có những yếu tố ảnh hưởng đời ông: Đà Lạt, Văn Chương và Triết Học:

“Chưa hết niên học, tôi quyết định bỏ lớp, vì một lý do mà khi có dịp tôi sẽ viết lại dưới hình thức một truyện ngắn. Tôi ghi danh thi vào ban Triết, Đại Học Đà Lạt. Kỳ thi có khoảng 300 thí sinh, nhà trường tuyển 28 người. Và tôi là người đội sổ. Có hai đề thi để chọn. Tôi không nhớ đề kia, vì nó dính dáng đến một triết gia mà tôi chưa bao giờ nghe tên (vì có học hành gì đâu!), tôi chọn đề với câu nói của André Gide, tác giả La Porte Étroite. Bài luận văn của tôi phải là một bài dở nhất thế giới. Tôi nghĩ, mình thi chơi không đậu thì thôi, vì tôi cũng đã thi vào một trường khác và tôi đã được nhận. Buổi học đầu tiên Linh Mục giáo sư Alexis Cras sau khi chào mừng cả lớp, đã gọi tên tôi đứng dậy cho Cha biết mặt và Cha mỉm cười nói bài luận văn của tôi là một trường hợp đặc biệt. Cha không giải thích thế nào là đặc biệt, nhưng tôi biết đó là một bài viết được vớt vì người viết chẳng có chút kiến thức giáo khoa nào về triết cả.”

Nguyễn Xuân Hoàng, ông thầy điển trai qua làn da hoa bưởi, nhân dáng bảnh bao mà tôi bắt gặp trong khu hành lang đệ nhất B trên lầu 2 của trường Petrus Ký lắm lần. Ông sang Mỹ muộn màng để cắp sách lại đại học để thi thố cấp bằng cao như nhiều bạn bè của ông, hay như những học trò của ông tại đây, tôi muốn ám chỉ cái đất nước này, “American land, the Land of Opportunity”. Sự nhiêu khê, ác nghiệt của cuộc sống xung quanh khiến ông ở ẩn, sống trong im lặng với sự nuôi dưỡng của văn chương theo 2 nghĩa đen và bóng. Tôi hiểu ông, tôi ước gì Nguyễn Xuân Hoàng sống lại những ngày niên thiếu tại Nha Trang tĩnh lặng và hồn nhiên không có bóng mây mờ xung quanh ông.

Theo Sartre thì tự do tư tưởng, tự do trong văn học là những khái niệm chính của nhà văn, nhà văn phải có hai yếu tố tự do và dấn thân (cam kết, éléments fondamentaux comme la liberté et de l’engagement) cho mục tiêu sáng tạo của nhà văn. Trong sự tự do sáng tạo nhà văn có tinh thần chấp thuận sự lựa chọn và phải ý thức trách nhiệm đối với sự lựa chọn đó. Đây là ý nghĩa của việc chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Tự do tức là dấn thân viết, hay dấn thân trong tự do viết,…. Và nếu nhà văn là người có tự do khi sáng tác, thì người đọc cũng phải là người tự do khi đọc tác phẩm. Và nhà văn là người tự do nói với những người tự do, mà chỉ có một đề tài tự do thôi.

Nếu hiểu định nghĩa “hiện sinh” đích thực theo tư tưởng của nhà văn Gordon E. Bigelow trong bài tham luận “A Primer of Existentialism”, văn chương hiện sinh vốn nhân bản, tôn trọng nhân vị, sự tự do được mưu cầu hạnh phúc của con người, không phải “hiện sinh” theo nghĩa phá hoại, băng hoại xã hội , hiện sinh tiêu cực, sai trái, “Make Love Not War”, những sai quấy yêu cuồng sống vội chống chiến tranh, hiện tượng và hậu quả tạo ra những teen mommies, những ấu mẫu thơ ngây, hay văn chương thiên lệch, nặng tính đấu tranh cho ác tính bị phê phán, chiến tranh giải phóng như Bác Sáu Rồng, Một ngày của bí thư tỉnh ủy, Chân dung một quản đốc, Bài ca khởi nghĩa, Ván bài lật ngửa, của cây bút Nguyễn Hiểu Trường (Trần Quang); hay Việt Nam máu và hoa, Gió lộng, Ra trận, Một Tiếng đờn, Ta với ta, Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật,… của Lê Tư Lành (Nguyễn Kim Thành). Văn chương không thể phục vụ kẻ áp bức, cổ xúy cách mạng bạo lực,… Hãy cách ly những loại văn tiêu cực này ra khỏi văn chương thuần lý con người (Men’s Morality, Vỉrtues of Perfection) theo Ben Franklin, đã trích dẫn.

Tôi cho là “có hiện sinh” trong văn chương Nguyễn Xuân Hoàng …

Việt Hải Los Angeles

                                                  Mời đọc toàn bài viết (pdf)

  Nguyễn Xuân Hoàng – một đời viết văn, làm báo, dạy học

Huỳnh Như Phương

                                                 

Thầy Nguyễn Xuân Hoàng và thầy Nguyễn Trọng Văn là hai người thầy giáo mà tôi quý mến cùng dạy lớp 12C3 của chúng tôi ở Trường Trung học Trường Sơn, Sài Gòn.

Thầy Nguyễn Trọng Văn dạy luận lý học (logic học), thuộc khuynh hướng “dấn thân”, thường cộng tác với các báo khuynh tả. Thầy Nguyễn Xuân Hoàng dạy tâm lý học, gần với khuynh hướng “viễn mơ”, làm báo thuần túy văn nghệ. Nhưng cả hai thầy đều để lại trong tôi những ấn tượng tốt đẹp về tư chất của người trí thức.

Dạo đó thầy Văn vừa có bài thuyết trình gây chấn động ở Trường Đại học Văn khoa “Phạm Duy đã chết như thế nào?”, sau đó được nhà xuất bản Văn Mới in thành sách.
Ý kiến của thầy gây ra tranh cãi: người tán thành thì đồng tình với việc phê phán người nhạc sĩ đã sửa lời những bài ca kháng chiến; kẻ phản đối thì cho đó là thái độ “chính trị hóa nghệ thuật” và bất công với người nghệ sĩ.
Hơn 40 năm sau, đọc lại những gì Nguyễn Trọng Văn viết về Phạm Duy, dễ thấy là cuộc đấu tranh tư tưởng trong hoàn cảnh cực đoan lúc đó đã dẫn đến những nhận xét nặng nề, nhưng tự trong thâm tâm người viết vẫn trân trọng tài năng của nhạc sĩ và muốn đặt Phạm Duy giữa lòng dân tộc.
Một lần, trong lớp tôi, chính thầy Văn đã say sưa nói về những kỷ niệm liên quan đến bài hát Tóc mai sợi vắn sợi dài của người nhạc sĩ tài năng ấy. Và thật là một nghĩa cử đẹp: sau hơn 30 năm, một trong những người đến thăm Nguyễn Trọng Văn nằm dưỡng bệnh tại nhà sau cơn tai biến chính là nhạc sĩ Phạm Duy khi mới hồi hương.
Thầy Nguyễn Xuân Hoàng thì khác. Thầy yêu nhạc Phạm Duy, cũng như Trịnh Công Sơn, và muốn tách con người nghệ sĩ Phạm Duy ra khỏi con người chính trị của ông. Nhưng thầy Hoàng thật ra không phải là nhà văn viễn mơ.

Trong cái năm 1972 nhiều biến động ấy, thầy nhận lời ông Nguyễn Đình Vượng thay nhà văn Trần Phong Giao điều hành tạp chí Văn trên cương vị thư ký tòa soạn.
Cũng năm đó, thầy viết một truyện ngắn có chất tự truyện nhan đề Cha và anh đăng trên tạp chí Vấn đề của Vũ Khắc Khoan, hoài nhớ về những ngày kháng chiến chống Pháp, trong đó trích lại mấy đoạn trong bài Bà mẹ Gio Linh của Phạm Duy. Vì việc ấy, tạp chí Vấn đề bị tịch thu và tác giả Nguyễn Xuân Hoàng bị gọi ra hầu tòa.
Không biết truyện ngắn đó có phải là cách đối thoại tế nhị của thầy Hoàng với thầy Văn hay chăng; nhưng dù không tán thành sự chọn lựa của đồng nghiệp, trong trường hai thầy bao giờ cũng nể trọng nhau.

Hai ông thầy đều cao ráo, đẹp trai theo cách riêng: thầy Văn râu quai nón, uy nghi, đường bệ, giọng nói chắc nịch, đi xe hơi Volkswagen tới trường; thầy Hoàng dáng thư sinh, pha một chút “bụi đời”, đi xe máy Lambretta, buổi chiều bao giờ cũng đến trường thật sớm, ngồi chờ ở văn phòng trước khi vào lớp.
Ngoài bài giảng, thầy Văn thích nói chuyện xã hội; thầy Hoàng chỉ nói chuyện văn nghệ, triết lý. Một lần, nhân nói về cuốn sách Nói với tuổi hai mươi của Nhất Hạnh, trong đó tác giả trao đổi thân ái với Phạm Công Thiện về vấn đề lý tưởng, thầy Hoàng đưa ra so sánh rất thú vị và sâu sắc về hai tu sĩ Phật giáo nổi tiếng này; thầy nói thầy yêu quý cả hai, nhưng nếu chọn lựa một hướng suy nghĩ tích cực cho cuộc đời, thì thầy chọn Nhất Hạnh.

Thầy Nguyễn Xuân Hoàng không thích uống rượu, có thể đó như một phản ứng với người cha nghiện rượu chăng? Vì nể nang tình bạn mà thầy hay ngồi với nhà thơ Tạ Ký ở quán rượu bên chợ Đũi.
Thầy chỉ thích cà phê, nhất là thích nhìn những giọt cà phê sóng sánh rơi xuống đáy ly. Rượu thường làm người ta hưng phấn, bốc lên; cà phê giúp người ta trầm tĩnh, đằm xuống.
Nguyễn Xuân Hoàng là người nghệ sĩ đích thực, nhưng tư chất nhà giáo đặt ra những giới hạn không thể vượt qua cả trong cuộc đời lẫn trong nghệ thuật. Hình như A. Camus bảo nghề giáo là chỗ sa lầy của nhà văn chính là theo nghĩa này.

  Mời đọc toàn bài viết (pdf)

 Huỳnh Như Phương

 Một Bài Thơ với Minh Họa &Thủ Bút Nguyễn Xuân Hoàng

               

 

                            

Trích bài “một cái gì rất Nguyễn Xuân Hoàng: sổ taycủa Trần Doãn Nho

“Đừng để tờ Văn chết!” Mai Thảo nói với Nguyễn Xuân Hoàng như thế.

Và Văn sống lại.Một đời sống khác.

Nguyễn Xuân Hoàng (NXH) nhận Văn từ Mai Thảo vào giữa năm 1996. Một trong những yêu cầu của Mai Thảo là giữ nguyên mục Sổ Tay vốn do Mai Thảo viết từ ngày ông tái bản Văn ở hải ngoại. Lúc đầu, NXH không đồng ý, muốn đổi thành Ghi Chép, nhưng chiều ý của Mai Thảo, bốn số tiếp theo 160, 161, 162 và 163 cho các tháng Chín, Mười, Mười Một và Mười Hai, 1996 do NXH làm chủ biên vẫn có mục Sổ Tay. Nhưng rồi với sự giúp sức và đóng góp nhiệt tình từ bạn bè và văn hữu, đầu năm Đinh Sửu (1997), Văn đổi sang bộ mới, được đánh từ số 1, số Xuân Đinh Sửu: Văn của Mai Thảo trở thành Văn của Nguyễn Xuân Hoàng. Và khác với ý định ban đầu, NXH vẫn duy trì “Sổ Tay”. “Đó là lúc tôi đã tìm một cách viết sổ tay của tôi”, anh cho biết. (Văn tháng 8/2004). Và Sổ Tay NXH đã đi song hành với Văn từ lúc đó cho đến ngày tự ý đình bản.

Lúc này đây, trong khi nghĩ đến NXH, đang ở cách tôi những ba múi giờ, không thể trực tiếp đến thăm anh được, tôi tìm gặp anh qua Văn. Những Văn, cuốn dày cuốn mỏng, có cuốn một tháng có cuốn ghép đôi hai tháng, đẹp nhất là hình bìa. Mỗi bìa là một tấm tranh, toàn là tranh có hạng. Cầm những Văn trên tay, tôi nhìn thấy công lao của một NXH đối với văn học. Tất cả, từ bìa đến “ruột”, tạo thành một thứ “chỉnh thể thẩm mỹ”, một chỉnh thể mà thấp thoáng đàng sau là cá tính của người chủ biên, theo cách nói của Nguyễn HưngQuốc[i]. Và với Sổ Tay, cá tính người chủ biên càng hiện rõ nét hơn, đầy đặn hơn. Qua Sổ Tay, NXH xuất hiện như một chân dung tươi, sống, đa dạng. Sổ Tay viết về người, về vật, về sự, về những chuyện linh tinh, lỉnh kỉnh. Viết ngay. Viết liền. Viết y như thể chúng như thế, ở đây, lúc này. Không thể khác. Đọc Sổ Tay như đọc lại cả một quảng đường, thậm chí cả một giai đoạn văn học, tìm lại được những khuôn mặt tưởng chừng như không còn hiện hữu, tìm lại những cảm giác tưởng chừng đã biến mất, tìm lại những ý nghĩ tưởng chừng như tan loãng trong thời gian.

Sổ Tay tràn đầy thao thức. Thao thức người. Thao thức chữ.

Các bạn ạ, nhớ Nguyễn Xuân Hoàng, cách hay nhất là tìm đọc lại Sổ Tay. Ở đó, ta luôn bắt gặp một NXH rất người, rất thân, rất bạn bè, rất văn chương. Một nhân vật luôn luôn có mặt ở đâu đó, thân tình và ấm áp, một kẻ rất như mọi người nhưng lại rất không giống bất cứ ai.

Đó là một thế giới riêng riêng chung chung lạ lạ quen quen …. Vào đó, nhấp một cốc rượu đỏ, đọc lại và biết đâu, bạn có thể tìm thấy lại chính bạn trên những dòng chữ mà NXH viết ra ở một lúc nào đó (không chừng, bạn đã quên bẵng mất rồi). Và cảm thấy cái quỹ thời gian (mà NXH đã đề cập đến đâu đó, đôi lần, trong Sổ Tay) chưa cạn, không cạn.

Vẫn còn đầy!


Trần Doãn Nho
(26/8/2013)

     Mời đọc toàn bài viết (pdf)

 HOÀNG

*SONG THAO

Dẫn: Bài viết về Nguyễn Xuân Hoàng sau đây được viết khi được tin Hoàng lâm trọng bệnh. Tháng 4/2014 tôi đã gửi Hoàng đọc bài này, và anh có nhuận sắc một số chi tiết. Ngày 24/4, Hoàng mail cho tôi: “OK. Mày sửa như vậy là tốt lắm”.

Hoàng và tôi là bạn “mày tao”. Kể cũng lạ. Thường thì bạn kiểu xưng hô “mày tao” với nhau là bạn từ thời còn đi học. Chỉ có những ngày thơ dại đó mới đủ thân tình để gọi nhau một cách sỗ sàng như vậy. Tôi vẫn còn mấy ông bạn thời đó. Ông thì từ hồi học tiểu học, ông thì từ hồi đệ ngũ đệ lục thời trung học. Ông nào ông nấy nay đã đầu bạc, răng long lại mọc thêm một cái chân gỗ hoặc chân sắt. Gặp nhau vẫn cứ “mày tao” khiến cho mấy bà nhăn mặt. Già rồi, ăn nói cho đàng hoàng kẻo tụi trẻ nó cười cho. Mặc, thấy mặt nhau vẫn cứ rổn rảng “mày tao”.
Trường hợp tôi với Hoàng có lẽ là hiếm. Hoàng là người duy nhất không học chung với tôi mà “mày tao”. Không, kể cũng có học chung. Khoảng cuối thập niên 1960, tôi với Hoàng đều cùng học tiếng Đức tại Trung Tâm Văn Hoá Đức Goethe Institut trực thuộc toà Đại Sứ Đức ở Sài Gòn. Cùng đi học nhưng chúng tôi chỉ gặp nhau ở ngoài sân vì không cùng chung lớp. Gặp nhau, cười toe, mỗi đứa một góc sân. Kể ra thì cũng là bạn học đó, nhưng hơi trễ, trước đó chúng tôi đã trót “mày tao” rồi. Hoàng cũng là bạn văn duy nhất mà tôi thoải mái “mày tao”. Không có trường hợp thứ hai.
Chúng tôi gặp và quen nhau vào những năm đầu của thập niên 1960, khi cùng cộng tác với tờ Văn Học của Phan Kim Thịnh, do Dương Kiền làm chủ bút, toà báo đặt tại nhà in của Nguyễn Ngọc Nhạ, em của ông Nguyễn Ngọc Linh, trên đường Lê văn Duyệt. Thường chúng tôi chỉ gặp nhau cuối tuần, ngồi tán dóc với nhau rồi giải tán. Vậy mà tôi với Phan Kim Thịnh, Dương Kiền thì “ông tôi” mà tôi với Hoàng lại “mày tao”. Chẳng hiểu tại sao.Tới bây giờ cũng vẫn chưa hiểu tại sao.
Ngày đó “cậu” Hoàng là một người được đời ưu đãi. Cao ráo, đẹp trai, nhà văn thời thượng lại còn là Giáo Sư Triết trẻ măng của trường trung học nổi tiếng Petrus Ký. Nhìn sang góc nào, cậu cũng vẫn sáng choang. Khỏi nói cậu là típ người hào hoa phong nhã, hoa hoét nở tưng bừng chung quanh. Sau một năm dạy ở trường Ngô Quyền, Biên Hòa, chắc Bộ Giáo Dục thấy nhốt một chàng nhà giáo như cậu ở tỉnh lẻ quá phí của trời nên đổi cậu về trường Petrus Ký. Gặp tôi, cậu Hoàng vui ra mặt.
Chúng tôi ít nhìn thấy nhau từ sau khi tôi thôi học tiếng Đức. Nói chi gặp nhau. Cho tới khi mất nước. Thời gian đó cậu Hoàng giữ tờ Văn, đường văn nghệ của cậu thênh thang. Cậu bận tíu tít, tôi cũng chẳng rảnh rang chi, cả hai hình như chẳng có ý tìm nhau để “mày tao”.
Hoàng dzọt được vào năm 1985, tôi cũng đi vào năm 1985. Hoàng qua Cali, tôi định cư ở Canada, hai phương trời cách biệt. Tôi bị cuộc sống giữ chân tới năm 1990 mới cầm viết lại. Còn Hoàng làm Tổng thư Ký cho tờ Người Việt của Đỗ Ngọc Yến. Có dễ tới cả mười lăm năm, chúng tôi chỉ nghe tin nhau. Tháng 4 năm 1989, Hoàng qua Montreal ra mắt tạp chí Thế Kỷ 21 mà anh làm chủ bút. Lúc đó Đỗ Quý Toàn còn định cư ở Montreal, là người đứng ra giới thiệu Hoàng với cử toạ. Tôi ngồi ở bên dưới, nhìn bạn mình trên bục cao, cứ ngỡ là chúng tôi chưa cách xa nhau bao lâu. Khi Hoàng  nhận ra tôi, anh chạy tới, vỗ vai (hơi mạnh tay), hỏi: “Mày ở đây à?”. Hoàng ký cho tôi cuốn Sa Mạc của anh do nhà Xuân Thu ấn hành trong cùng năm đó. Hoàng dặn tôi viết được gì gửi qua cho anh. Lúc đó cuộc sống khởi đầu lại nơi xứ người còn đang quất tôi tối tăm mặt mũi nên nào có viết được chi. Tôi ừ hử cho qua chuyện…

Mời đọc toàn bài viết (pdf)

                                   

  Song Thao & Nguyễn Xuân Hoàng (Boston – 2000)

Những con chim cánh đen đã trở lại

Gửi Nguyễn Xuân Hoàng và Vy

Những con chim cánh đen đậu trên nóc nhà đập đập đôi cánh
tiếng đập khô
anh nằm nghe như trong một giấc mơ/nó bay đi chưa em nhỉ.

Anh nghiêng đầu nhìn vào khoảng trống lặng im
hình như có đàn kiến vừa đi qua da thịt đánh thức anh dậy
hình như vo vo có cả tiếng ong bay
anh đếm thêm một ngày bắt đầu ngoài cửa sổ.

Anh nhìn xuống hai bàn tay mình
những ngón tay như những cây viết chì mòn
anh khua những cây viết chì trước mặt tờ giấy vô hình
anh muốn vẽ trên tờ giấy một bình minh
một bình minh có nắng lung linh và có em trong suốt.

Anh sẽ viết lên tờ giấy những điều mơ ước
ước gì cái chăn đừng rơi xuống đất
nếu có rơi anh cũng kéo được lên
anh chẳng hờn giận anh chẳng van xin
rồi tủi thân mình yếu đuối.

Anh sẽ viết lên tờ giấy ước gì ly nước không vơi
anh sẽ uống từng ngụm cho cuộc đời chậm lại
và em nữa suốt một đời vụng dại
anh chia cho em một ngụm rất ngọt ngào.

Anh sẽ viết thêm ước gì những viên thuốc nhiệm mầu
khi anh ngậm trên môi sẽ tròn như tiếng hát
tiếng hát cất lên sẽ nở thành một đàn bồ câu trắng
bay từ giường anh sang giường em
trên cánh chim có mang theo cả trái tim
mà nhịp đập đã nghe chừng rất lạ.

Anh sẽ viết lên tờ giấy ước chi anh tự mình ngồi dậy
anh sẽ đứng lên mở toang những cánh cửa đón bạn bè
anh pha trà rót rượu hả hê
cười cuộc đời là cơn mộng nhỏ
anh cũng sẽ gọi mây gọi nắng mùa hè
gọi thỏ sóc mang vào tận phía giường em
trả cho em mầm xanh của sự phục sinh
trả cho em cả buồn phiền cả những hân hoan
để em lại cười khóc, quơ tay vào trần gian hệ lụy.

Anh sẽ viết lên tờ giấy ước chi anh tìm lại được những ngôi làng
những trường học ở một quê nhà xa lắm
những con đường hai bên toàn cát trắng
nơi khi xưa anh anh đã thả bao nhiêu bài thơ
bao nhiêu trang bản thảo vào những đợt sóng nồng nàn
và cuối cùng những con chữ như dã tràng bị biển cuốn đi.

Ôi những ngón tay tôi
những cây bút chì mòn cào xước không gian
tờ giấy vô hình sao mà cũng rách
hàng cây đã khô
bão đã tàn
gió không về nữa
tôi lặng lẽ cúi đầu.
Thượng Đế hãy đến mang tôi đi
tôi chẳng hề oán trách.

Những con chim cánh đen đã quay trở lại
chúng đập đập những đôi cánh trên mái nhà
tiếng đập khô
vô cùng buồn bã.


Trần Mộng Tú

9/13/2014

           

 Vĩnh biệt Nguyễn Xuân Hoàng

Thêm một người rời Nhà Dưỡng Lão
Tay không còn vin nữa chiếc xe lăn
Không còn cần ai dìu đi từng bước chân
Con Hạc Vàng cõng người về chắc đã tới Trời Đâu Suất?

Tin Nguyễn Xuân Hoàng mất
Không gây ngạc nhiên mà sự thật là buồn
Mấy năm nay anh là thân chủ của Nhà Thương
Mấy năm nay anh nằm trên giường ngó mặt trời bên ngoài cửa sổ…

Và…vầng trăng khuyết, tròn, cũng làm anh nhớ
Anh nhìn trăng đầy vừa mới đó Trung Thu!
Anh đớn đau mấy cũng tươi cười
Khi bè bạn đến thăm đến hỏi…

Và…từ nay anh không còn nói
Thêm một lời từ tạ với ai…
Những người học trò luôn luôn nhớ Thầy
Người bạn trăm năm của đời anh đưa tay lau nước mắt…

Nhà Dưỡng Lão Mission De La Casa buổi trưa lất phất
Lá vàng bay Vĩnh Biệt Nguyễn Xuân Hoàng!
Hai hàng ghế ở nhà họa sĩ Nguyễn Đình Thuần [1]
Chúa Nhật này một cái để trống…

“Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng từng ngồi đây khi anh còn sống
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng vẫn ngồi đây khi anh không còn
Chúng ta còn nỗi buồn
Nỗi nhớ nỗi thương anh vô cùng vô tận!”

Bốn câu này kết thúc một bài Điếu Văn làm đen lòng tờ giấy trắng
Trời xanh bao la mở cửa cho chim Hạc Vàng bay
Nguyễn Xuân Hoàng đã thật sự thành Người-Đi-Trên-Mây [2]
Nhưng… Bụi Và Rác… [3] anh dọn cho đời chưa sạch!

Trần Vấn Lệ

[1] Nguyễn Xuân Hoàng từ San Jose về Orange County, thường ghé nhà họa sĩ Nguyễn Đình Thuần ở Santa Ana để gặp nhiều bạn bè.

[2], [3] Nhan đề 2 trong số nhiều tác phẩm của Nguyễn Xuân Hoàng.

Hãy Vượt Qua …

gửi anh Nguyễn Xuân Hoàng

… Buổi trưa ngồi cà-phê Starbucks với Nguyễn Xuân Hoàng
Nhắc bài viết Ban Mai trên Văn Chương Việt
Lòng yêu nước! Tại sao không?…

đọc đoạn thơ viết dở từ nhiều năm trước
khi Nguyễn Xuân Hoàng còn lái xe ra Starbucks
ngồi uống với nhau ly cà-phê đen
nói với nhau nhiều chuyện
những chuyện thường không vui
ngậm ngùi nhìn nắng xuống tàn cây
và mây bay trên núi Evergreen

anh bây giờ nằm yên một chỗ
chuyện nước non đâu còn nghĩ đến

những lần thăm anh
nhìn chị Vy bón anh từng muỗng cháo
tay chị run theo ngấn nước lưng tròng
chị ôm anh đứng dậy bước vào phòng
chỉ chị ôm anh thôi
vì tiếng trái tim anh chị là người thấu hiểu

Lần nào thăm anh về
lòng cũng nặng bầu trời mây
những đám mây không có dấu chân Hoàng
cầu mong anh vượt qua, vượt qua, vượt qua được …

Yết đế, yết đế, bala yết đế, balatăng yết đế…
câu chú ngày xưa Trịnh Công Sơn thường niệm
nay tìm thấy trong Nghĩ Từ Trái Tim của Đỗ Hồng Ngọc
gửi lại anh, Nguyễn Xuân Hoàng bình an nhé.

Lữ Quỳnh
San Jose, June 28, 2014

Nguyễn Xuân Hoàng & Lữ Quỳnh

Một tuần ở nursing home của Nguyễn Xuân Hoàng

Trưa thứ sáu tôi lên nhà thăm Nguyễn Xuân Hoàng thì được chị Vy cho biết chiều hôm qua anh bị té và chị đã đưa anh xuống nursing home ở đường Alvin, phòng số 115, anh Quỳnh xuống đó ngay, anh Hoàng mong bạn đến thăm lắm. Nhìn chị Vy xanh xao, vàng võ, tiếng nói nhẹ trong hơi thở, còn bị xỉu lên xỉu xuống mấy ngày qua, tôi đi mà lòng nặng nề, buồn bã.

Ở nursing home, anh Hoàng nằm phòng một giường, rộng rãi, sạch sẽ. Khi tôi đến, anh chưa tỉnh, mắt nhắm nghiền, bên mắt phải có quầng thâm nâu. Tôi cố đánh động, gọi tên nhưng anh không hé mắt. Nhân viên mang phần ăn trưa vào, thức anh dậy cũng không được, đành đặt khay thức ăn lên bàn rồi đi ra.

Vì nursing home nằm gần khu thị tứ, nên tôi dễ dàng đến thăm anh cách ngày.
Sáng thứ ba, trên đường đến bưu điện, tôi ghé anh. Gặp lúc nhân viên vào phòng, đập tay vào cửa thật mạnh để thức anh, anh mở mắt nhìn tôi, nói Lữ Quỳnh ngồi xuống ghế đi. Cô nhân viên hỏi tôi là gì của người bệnh, tôi nói là bạn, Nguyễn Xuân Hoàng còn nói thêm my friend. Rồi anh lại nhắm mắt, chìm vào giấc ngủ . Nhân viên sửa soạn đưa anh đi tắm.

Trưa thứ năm vào thăm thì sửng sốt thấy anh phải thở máy.  Hỏi người y tá ngồi trước cửa phòng, thì được biết anh thở yếu lắm, phải dùng máy trợ thở. Tôi đứng cạnh giường, nắm bàn tay anh, bàn tay ấm nắm  chặt tay tôi. Tôi có cảm giác như anh còn bóp nhẹ  tay tôi nữa. Tôi chờ anh bỏ tay ra, nhưng không, anh vẫn nắm chặt như không muốn rời. Không biết trong phút giây này anh nghĩ gì, lòng anh có thật sự thanh thản… Tôi đứng với anh một lúc lâu, nhẹ nhàng rút tay ra và nhìn anh vẫn yên bình trong giấc ngủ sâu. Lúc này tôi thấy bên mắt phải anh, vết bầm đen lan ra một khoảng lớn.

Trưa thứ bảy, nhận tin anh  ra đi lúc 10:50 sáng.  Không ngờ anh ra đi nhanh thế, dù biết ngày này không còn  dài lâu nữa. Hơn hai năm trước, khi tiễn Nguyễn Mộng Giác, anh viết: Thôi kệ! Ngủ yên nghe Giác. Trước sau gì thì bọn mình cũng gặp nhau thôi.
Và giờ đây hai anh đã gặp nhau ở cõi vĩnh hằng.

Nguyễn Xuân Hoàng ơi, anh hãy ra đi thanh thản nhé.
Bạn bè luôn nhớ anh với những buổi chiều ngồi cà-phê Starbucks  nhìn mây bay, cùng câu chuyện buồn nhiều hơn vui của cuộc đời hữu hạn, vô thường này.

Nam Mô Vô Lượng Thọ Như Lai.

Lữ Quỳnh

13.9.2014

 

Một Số Tranh Thân Hữu Vẽ Nguyễn Xuân Hoàng

                                           

 Ký họa của Họa Sĩ Duy Thanh – Sài Gòn 1972

                                        

                                

                                    Chân Dung Nguyễn Xuân Hoàng – Tranh: Trương Thị Thịnh

                                       

 Nhà văn Phạm Công Thiện vẽ Nguyễn Xuân Hoàng

                           

 Một số tranh của Họa sĩ Đinh Cường ở dưới vẽ Nguyễn Xuân Hoàng qua trí nhớ ở nhiều thời điểm:

                                  

                                   

                                  

                                    

                                    

                                 

Hai tranh của Họa sĩ Nguyễn Quang Chơn

                  

Họa sĩ  Nguyễn Trọng Khôi phác họa chân dung Nguyễn Xuân Hoàng

                                      

 Đinh Trường Chinh vẽ Nguyễn Xuân Hoàng qua trí nhớ

Nhớ Nguyễn Xuân Hoàng

Phan Ni Tấn

Sau gần 40 năm lưu lạc chốn quê người, những người bạn văn nghệ mà tôi quen biết cứ lần lượt bỏ đời mà đi.

Mùa hè năm 1987, vợ chồng họa sĩ Nghiêu Đề và họa sĩ Hiếu Đệ qua thăm xứ Lá Phong, ghé nhà tôi chụp vài tấm hình sau vườn rồi đi biệt tới hơn mười năm sau mới nghe tin họa sĩ Nghiêu Đề mất ngày 09/11/1998 tại San Diego, Hoa Kỳ. Hai năm sau đó, họa sĩ Hiếu Đệ mất ngày 16/04/2000 tại Hòa Lan.

Năm 1989, trong buổi ra mắt sách của tôi tại trụ sở báo Người Việt, Nam Cali, do nhà văn Mai Thảo và họa sĩ Khánh Trường tổ chức, trong phần văn nghệ nhạc sĩ Lê Uyên Phương ôm đàn hát một bài tình ca Bài Ca Hạnh Ngộ. Tôi mang tiếng hát của anh về Canada để… làm kỷ niệm đến tháng 6/1999 thì anh mất tại Irvine, Hoa Kỳ, sau nhà văn Mai Thảo một năm (Mai Thảo mất tại Santa Ana, Cali ngày 10/01/1998).

Sau đó, tác giả Tháng Ba Gẫy Súng” Cao Xuân Huy ra đi ngày 12/11/2010 tại Lake Forest, California. Gần đây một chút, cách đây 3 năm, ngày 27/3/2011 con chim đầu đàn của Phong Trào Du Ca Việt Nam, nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang qua đời tại Nam California. Rồi tháng 7 năm sau, 2012 nhà văn Nguyễn Mộng Giác mất cũng tại Nam Cali..Năm nay 2014, ngày 23 tháng 7, ca sĩ Quỳnh Giao lại ra đi tại Garden Grove. Bây giờ tới phiên nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.

Nhìn lại những bạn văn này đều sống và chết tại miền nắng ấm California này.

Năm 1985 Phong trào Hưng Ca được thành lập cũng là năm nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng cùng gia đình qua định cư tại Washington, D.C, Hoa Kỳ. Những lần Hưng Ca tổ chức đại nhạc hội hoặc ra mắt sách tại nơi này đều có mặt Nguyễn Xuân Hoàng.

Tuy nổi tiếng rất sớm ở bên nhà, qua đây nói chuyện với anh tôi nhận thấy tánh tình anh rất điềm đạm, khiêm nhường, nói năng từ tốn, nhỏ nhẹ không làm ra vẻ là một nhà văn tiếng tăm.

Tốt nghiệp ban Triết, Đại Học Đà Lạt năm 1962, nhưng Nguyễn Xuân Hoàng lại nổi tiếng là nhà văn, nhà báo hơn là nhà mô phạm từ những năm 1970. Năm 1972, Nguyễn Xuân Hoàng làm tổng thư ký tờ báo Văn Sài Gòn. Ngoài các tùy bút, tạp ghi, các tập truyện ngắn, truyện dài, tập truyện Mù Sương, Sinh Nhật là tác phẩm đầu tay của anh xuất bản tại Sài Gòn. Và hai cuốn truyện dài “Người Đi Trên Mây” và “Bụi Và Rác” là hai cuốn sách xuất bản cuối cùng của Nguyễn Xuân Hoàng do ông Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ tại Nam California ấn hành.

Tháng 4 năm 2011, sau nhiều năm không liên lạc, bất ngờ tôi nhận được email của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. Trong email anh than chán đời và muốn tự tử. Dĩ nhiên tôi chẳng hiểu nguyên do gì, cũng hết lòng khuyên anh, nhưng anh cứ một mực đòi chết. Cuối cùng tôi nói cha mẹ banh da xẻ thịt sinh mình ra thì dù gì đi nữa anh cũng nên quí trọng bản thân mình… Sau đó không thấy anh trả lời trả vốn chi nữa.

Ngày tháng gần đây, qua tin tức và hình ảnh trong email tôi mới biết tại sao lúc thư từ cho tôi, Nguyễn Xuân Hoàng một mực đòi chết.

Nhà văn, nhà báo Nguyễn Xuân Hoàng sinh ngày 07/07/1937 tại Nha Trang. Mất ngày 13 tháng 9 năm 2014 tại San José, California, Hoa Kỳ, vì mắc phải chứng bệnh bướu ung thư cột sống.

Nhớ anh, tôi tìm lại tấm hình anh em Hưng Ca (tình cờ) chụp chung với anh trong buổi ra mắt sách Đại Học Máu của nhà văn Hà Thúc Sinh năm 1985 tại Washington, D.C, Hoa Kỳ. Lần này, tất nhiên, tôi không còn có dịp nghe anh than buồn và đòi chết nữa.

          

Tôi chưa từng nghe nói nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng làm thơ bao giờ. Mới đây, một người bạn bên Mỹ email cho tôi bài thơ này, nói là “không biết tựa đề nhưng của tác giả Kẻ Tà Đạo”. Bài thơ nghe như một tiếng thở dài. Mời đọc:

từ xa phố chợ đến giờ
chân quen bỏ lệ gõ bờ lộ quen
hoang vu chín đến độ thèm
lạnh tàn nhẫn rót vào đêm lên đường

mù sương phố núi mù sương
nhịp buồn hút gió hồn nương sao rừng
chuyện linh hồn với bản thân
bàn tay thượng đế mộ phần chiêm bao

đồi thông xanh tóc nghẹn ngào
ngập ngừng lạnh xuống từ bao lâu rồi
còn tôi, còn chỉ mình tôi
mây bay đầu núi kéo trời lên xa

bàn tay thoáng nổi da gà
thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi.

Phan Ni Tấn

BÀN TAY ẤM NHƯ MÙA XUÂN

(Lời giao cảm: Sau khi thăm Thầy Hoàng ở Milpitas, tôi có viết cảm tưởng và định gởi đăng trên Web Biên Hòa và Ngô Quyền, nhưng lại nghe thấy có tin đại khái là những bài viết về Thầy đa số có mục đích là lợi dụng sự nổi tiếng của Nhà Văn Nguyễn Xuân Hoàng để “ké” hay nói theo kiểu Việt Nam là “ăn theo” nên tôi không phổ biến bài viết. Nay nhân mùa Xuân đến thì dù ai có nói gì hay có điều chi bất trắc cũng không cản trở mình viết vài hàng mới cho Thầy Hoàng, người mà tôi luôn cảm phục cả tài năng và nhân cách)

Khi tôi đến nhà Thầy ở Thành Phố Milpitas, California thi đồng hồ chỉ 11 giờ 30 sáng. Đó là một ngày Thứ Bảy, ngày 24 đẹp trời của tháng Tám năm 2013. Trời cao và xanh trong. Nhiệt độ vừa phải khi đất trời đang chuyển mình từ Hạ sang Thu.

Cô Vy, phu nhân của Thầy, chào tôi ở cửa và niềm nở mời vào. Trong khi chờ Thầy từ phòng trong ra, tôi tò mò nhìn quanh. Đó là một phòng khách rộng vừa phải, bày trí ngăn nắp và đầy tính nhân văn. Ngoài vài tấm hình gia đình và bức hoạ cô Vy thời trẻ, tôi chú ý đến bức tranh Thư Pháp với nội dung rất lạ nhưng nói lên được là chủ nhân của nó là người rất phóng khoáng trong suy nghĩ và thoải mái trong đời thường.

                            

Thầy Hoàng ra gặp tôi không lâu sau đó. Thầy rất ân cần mời tôi ngồi. Tôi đỡ Thầy qua sofa, nhưng cô Vy nói Thầy chỉ thích hợp ngồi trên ghế gỗ cứng. Như vậy hợp với tình trạng cơ thể Thầy lúc ấy. Thầy nhìn tôi im lặng. Tôi nhìn Thầy lặng im. Không phải là không có gì để nói mà những ngạc nhiên xem lẫn cảm xúc làm cả hai như nghẹn lời.

Cũng cần nói ra đây là lần đầu tiên tôi gặp Thầy sau không biết bao lần hẹn găp từ khi khi Thầy còn khỏe. Cứ hẹn rồi chưa gặp, hẹn rồi chưa đến… cho tới khi Thầy bệnh. Thầy vẫn cho phép và bảo tôi gọi Thầy bằng Anh, như là người anh vừa lớn tuổi hơn vừa đi trước trong lĩnh vực văn chương vậy! Phần tôi vừa ái ngại vừa sung sướng vì được một nhà văn nổi tiếng như Thầy cho phép đứng trong vòng thân mật. Tôi dè dặt hỏi thăm Thầy về sức khỏe và những dự tính có thể còn dang dở vì Thầy còn đang trị bệnh. Thầy thân mật trả lời, vui mà nói chuyện, không tỏ ra mệt mỏi hay có phần tiêu cực trong cuộc sống!

Sau đúng 24 phút bên Thầy, tôi nói lời thăm hỏi, an ủi, và xin cáo biệt. Tôi không muốn Thầy thấm mệt vì ngồi lâu và cũng vì tôi biết chừng 1 giờ sau đó Thầy còn tiếp khách thăm từ Nam Cali lên!

Thầy bắt tay tôi, ân cần như lúc gặp. Tôi cầm tay Thầy thật lâu và cũng không nói gì vì để nghe hơi ấm từ tay Thầy lan tỏa qua khắp châu thân. Cảm giác đó khó được tả sao cho đúng. Đó là niềm vui của tôi được cầm tay Thầy qua bao lần mơ ước. Tôi nghe kể rằng bàn tay những người làm nghệ thuật, đăc biệt là những nhà văn, nhà thơ thường hơi lạnh. Không ai lý giải điều nầy và tôi cũng cảm giác y như vậy khi được cầm tay nhà văn Bình Nguyên Lộc và nhà văn Sơn Nam vào năm xa xưa của thế kỷ trước khi những nhà văn nầy còn sống và còn trẻ. Nắm tay Thầy nghe ấm là hoàn toàn chính xác và không hề nhầm lẫn. Điều đó chứng tỏ là khi con người còn sức sống, còn hy vọng và khi con người đang chống chọi với cơn bệnh ngặt nghèo thì mọi khả năng hội tụ và vươn cao để đủ sức chữa bệnh. Thầy để yên tay ấm trong tay tôi và nói khẽ: “Thứ Hai tới, anh sẽ trở lại bệnh viện và sẽ nhận liều Therapy đầu tiên sau nhiều ngay phải chờ đợi vì chưa đủ sức”. Tôi xin chụp với Thầy hình kỷ niệm. Cô Vy bấm máy. Thầy hơi nghiêm trong nét mặt trong khi tôi cười, cười thật tình, một chút vô duyên, nhưng tôi tự nhủ đó là cách đem lạc quan đến cho người bệnh hơn là một nét trầm ngâm thường tạo buồn nản cho người mình đến thăm.


Trần Kiêu Bạc & Nguyễn Xuân Hoàng

Ra về, tôi thấy vui hơn bao giờ hết bởi Thầy đã đủ sức để bảo vệ thân thể trước sự công phá tàn nhẫn của căn bệnh và cũng hơn lúc nào hết tôi hãnh diện và thỏa mãn vì được gặp mặt, trò chuyện và nắm tay người Thầy, người Anh mà tôi hằng ngưỡng mộ và yêu quý từ lâu!

Tôi vẫn theo dõi tin về Thầy từ tháng 8 đến nay qua tin tức và qua bạn bè! Tôi càng vui mừng thêm vì biết Thầy đã khá hơn mỗi ngày và chắc rằng bàn tay Thầy vẫn ấm và càng ấm hơn trong những ngày tháng đẹp của Mùa Xuân Giáp Ngọ 2014 đang đến gần.

TRẦN KIÊU BẠC
(ngày Mùa Đông lạnh dưới 25 độ F bất thường ở Cali)

Một người ngồi trong ghế bành

“Một người ngồi trong ghế bành” trích từ tập “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta”, nxb Sóng, Sàigòn, 1974. Đặc điểm của truyện ngắn này là xây dựng trên đối thoại nhân vật trong một không khí Tây phương xám lạnh dưới trần mưa ám khói thuốc, và cách dứt truyện đột ngột. Truyện mang khí hậu riêng của những quán hầm lạnh lẽo và ảm đạm. Tập trung vào khí hậu truyện là đặc tính chung của truyện ngắn miền Nam trước 75, như trong những truyện ngắn Lòng thành của Túy Hồng, Lòng trần của Nguyễn Thị Thụy Vũ, Hai bên sông của Thái Lãng, Đôi mắt hạt trai đen của Duy Lam, Viên đạn bắn vào nhà Thục của Thảo Trường, Cũng đành của Dương Nghiễm Mậu, Bạch hóa của Cung Tích Biền, Nhà có cửa khóa trái của Trần Thị Ngh. và Ngôi nhà mà tôi đã ở của Viên Linh… trong cùng tập truyện. (Trần Vũ)

      

                          

Ảnh Nguyễn Xuân Hoàng do Nhiếp ảnh gia Cao Lĩnh chụp – in trong tập truyện ngắn nói trên

Tôi gõ cửa một lần nữa. Vẫn không nghe thấy tiếng trả lời. Chắc không có Diệp ở nhà. Tôi châm thêm một điếu khác, và trong đốm lửa nhỏ lập loè, tôi dò dẫm từng bực thang trở xuống. Cầu thang hôi một mùi khó chịu và thanh gỗ vịn tay rít nháp nghe lợm cổ họng. Kỳ quá, không biết cô nhỏ này đi đâu. Hồi sáng gặp tôi ngoài phố, cô còn nhắc, anh nhớ đến, thế nào anh cũng phải đến nghe, vậy mà tôi đã gõ cửa không biết bao nhiêu lần, đốt không biết đến điếu thuốc thứ mấy vẫn biệt tăm em.

Xuống đến mặt đường tôi mới biết trời đang mưa. Cơn mưa không to lắm, có lẽ bão rớt của miền Trung, nhưng gió từ bờ sông thổi lùa trong hơi nước mát lạnh làm tôi rùng mình. Thời tiết thay đổi đột ngột như vậy, buổi sáng sớm nay có chút sương mù và còn lâm râm vài hột. Tôi đi nép trong hàng hiên tránh mưa và trong bụng thầm tiếc về việc đã tới nhà thăm Diệp. Sẽ đi đâu bây giờ đây? Tôi nghĩ đến quán nước quen có mấy người bạn ngồi ở đó. Từ xa ánh đèn pha của một chiếc xe chạy ngược chiều làm tôi chói mắt. Tôi bước ra lề đường đưa tay đón xe. Trời vẫn mưa lặng lẽ. Bỗng nhiên tôi khám phá ra là dù có hơi tiếc về việc thất hứa của Diệp, nhưng tôi không xúc động về thái độ của nàng. Đốm lửa đỏ của điếu thuốc cho tôi cái cảm giác ấm áp và tỉnh táo hơn. Chiếc xe trờ tới và bất ngờ đậu sát bên tôi. Đèn chiếu vụt tắt.
“Taxi!”
Tôi cúi đầu xuống chực hỏi người tài xế coi có đi không, nhưng đèn trong xe đã vụt sáng. Tôi thấy Diệp ngồi trong xe và đang mở sắc lấy tiền.
“Anh!”
Diệp thò đầu ra cửa xe kêu tôi. Cái vẻ hối hả làm lạ hẳn một Diệp lặng lẽ và trầm tĩnh mà tôi từng quen biết. Trả tiền xong Diệp bước xuống xe, cầm tay tôi kéo đi, không nói thêm một lời.
Và chúng tôi trở lại căn gác của Diệp.
“Anh không giận em phải không?”
“Không.”
“Tin chừng bao nhiêu?”
“Một trăm phần trăm.”
“Thôi, đừng có giận giả bộ, ông ơi!”
Diệp ôm chặt cánh tay tôi bên hông nàng.
“Cám ơn anh. Ấm quá!”
“Ấm cái quái gì. Lạnh thấy mồ.”
“Đừng có thô bỉ với đàn bà con gái nghe ông!”
Diệp thả tay tôi ra, nhưng mùi thơm của tóc nàng bay tận mũi tôi.
Đến chân cầu thang, Diệp mở sắc tay lấy cây đèn bấm nhỏ, và chúng tôi lần lên gác.
“Em có chút chuyện nhờ anh.”
“Biết rồi. Nhưng chuyện gì vậy?”
“Bí mật!”…
Diệp mở khoá đẩy cửa vào.
“Chút nữa em nói cho anh nghe.”

Nhà tối mù mù, tôi đứng im trên bục cửa, Diệp lần đến bên vách bật đèn trên trần. Ánh sáng chói chang đổ ập xuống làm ngợp mắt. Diệp nói: “Anh ngồi xuống đây chờ em một chút.” Và nàng bỏ ra nhà sau. Tôi ngồi lên ghế dựa, bắt chéo chân và tình cờ ngó thấy một mảng bùn vấy ở đầu mũi giầy. Con đường từ quãng nhà tôi xuống phố thật tệ, những hôm trời mưa đường lầy lội không thể tưởng, những lỗ trũng đầy nước, ổ gà tùm lum, mặt lộ dợn sóng làm chao xe, nhiều bữa đang chạy ngon trớn tôi bỗng hụp xe xuống một cái, tá hoả tam tinh, tưởng chết đi được. Diệp đã thay quần áo xong. Nàng đứng trước mặt tôi, trong tay ly trà đang bốc khói:
“Anh nghĩ cái gì vậy. Anh coi nhà em có đẹp không?”
Nhà của Diệp là một căn phòng hẹp, trần nhà thấp, tường quét vôi màu vàng sẫm tối ám và trơ trẽn. Tôi không ưa lắm cái tối tăm ảm đạm và cái vẻ nhớp nhúa của căn phòng. Tuy vậy tôi đã nói, dù tôi không tin lắm điều tôi nói:
“Đẹp. Đẹp lắm!”
“Thôi đi ông. Đừng bày đặt nịnh đầm.”
“Đẹp thiệt mà.”

Diệp ngồi xuống ghế đối diện tôi, đẩy cái gạt tàn thuốc bằng sành về phía tôi. Lúc này tôi mới nhìn thấy Diệp rõ hơn. Nàng đã thay chiếc áo dài màu xanh thẫm, choàng trên vai một chiếc áo len nhẹ cùng màu nhưng nhạt hơn nhiều, hai cánh tay bỏ lửng, quần chẽn, ống khá rộng phủ gót chân. Da mặt Diệp xanh xao, và trên đôi gò má hơi hóp của nàng, tôi nhìn thấy lấm chấm những nốt mụn nhỏ, hai con mắt đen sâu và to chìm dưới lớp màu xanh (khá xanh) của phấn. Nhìn màu da ấy của Diệp, tôi như nghe thấy lại có lần nàng nói, anh thấy không, da em khô thế này đầu em không có đến lấy một sợi tóc mượt, em bị đau gan đó anh, chịu không cách nào trị cho hết được. Dù sao, tôi phải công nhận là Diệp đẹp. Có lẽ vì cái dáng cao cao của nàng, bộ ngực khoẻ mạnh trên một thân thể khá mong manh, cái vẻ lạnh lẽo ở khuôn mặt cẩm thạch, cùng với mớ tóc rối đen khô làm tôi choáng váng.
“Nhất định là anh nịnh em.”
“Nịnh em thì tôi ăn cái giải gì!”
“Thôi, được rồi. Anh uống nước đi, rồi đưa em đến đó nghe.”
“Đến đâu?”
Diệp sửa cách ngồi:
“Chỗ anh vẫn thường ngồi với mấy ông bạn của anh đó!”
“Ở đâu? Hồi này em làm sao vậy?”
“Thôi, anh đưa em đi rồi em sẽ chỉ cho.”
Tôi đốt thêm một điếu thuốc nữa và nhìn những ngón tay ám khói vàng nghệ của mình.
Tôi thực tình không hiểu Diệp muốn gì.
“Nhưng sao em lại nhờ tôi?”
“Chớ em còn biết phải nhờ ai bây giờ?”
“Có cái gì ở chỗ đó?”
“Em cần gặp một người.”
“Một người? Quen?”
“Em không biết người ta, nhưng người ta nói người ta biết em. Người ta nói người ta ao ước được quen em.”
“Tóm lại là em muốn gặp một người đàn ông ngưỡng mộ em, phải không?”
“Không phải vậy đâu.”…
“Thì đó là một người yêu em cũng vậy thôi!”
“Đừng có xịa ông.”
“Tôi có nói là em yêu người ta đâu. Rồi. Bây giờ đi được chưa?”
Tôi dụi điếu thuốc cháy dở xuống cái gạt tàn và đứng dậy.

Mưa lâm râm nhỏ hạt và trời vẫn lạnh. Diệp đội khăn lên đầu, mái tóc giấu sụp dưới lớp vải. Chúng tôi đi dọc trở lại theo những hàng hiên. Phố vắng. Diệp nói:
“Phải biết đón xe khó thế này, lúc nãy em đã giữ chiếc taxi cho xong.”
Rốt cuộc chúng tôi phải kéo bộ một quãng khá dài. Khi đi ngang qua chiếc xe mì của người Tàu núp dưới chái hiên, tôi hỏi Diệp:
“Em có thấy đói không? Mình ăn cái gì đi!”
“Ở chỗ đó có bán thức ăn mà” – Diệp cười, “Có lần ở sở về đi ngang qua đó em thấy anh ngồi ăn với mấy ông bạn của anh. Mình có thể vừa ăn vừa chờ đợi được mà anh.”
“Chờ đợi? Chờ đợi cái gì mới được chứ?”
“Trời đất! Mới nói đó mà anh đã quên rồi. Sao mau quên dữ vậy ông?”

Tôi nắm tay Diệp băng qua con lộ nhỏ. Những ngón tay tròn mềm và lạnh lẽo của nàng nằm trong tay tôi làm tôi sợ. Chúng tôi đã ra đến đường lớn. Mặt lộ đọng nước mưa sáng lấp lánh ánh điện từ những cột trụ trồng dọc theo hai bên lề đường. Xe cộ chuyển động ồn ào đến chóng mặt. Dù Diệp đội khăn, tôi tưởng nhìn thấy mái tóc nàng ướt sũng trên một đôi mắt hân hoan cười cợt. Diệp đi bên tôi tung tăng như một thiếu nữ mới lớn. Có lúc nàng giống một chiếc bong bóng mà sức căng đã giảm không bay được lên cao, lơ lửng trên sợi chỉ nằm trong tay một cậu bé lúc nào cũng chực ngã. Một chiếc xe nhà binh phóng qua thật nhanh làm bắn nước lên người chúng tôi. Diệp giật tay tôi nhảy lui lại. Tôi nghe rõ tiếng nàng lẩm bẩm nguyền rủa người lái xe mắc dịch. Đến ngã tư đường Diệp bảo tôi:
“Anh qua đây với em một tí.”
“Chỗ này sao? Tôi có bao giờ ngồi ở chỗ này đâu.”
“Đâu có. Em muốn mua cho anh một gói thuốc mà.”
“Anh hút Winston phải không?”
“Sao biết?”
“Sao không biết. Anh làm gì mà em không biết. Anh, đi đâu, ở đâu, quen ai, em biết hết.”
“Biết gì nhiều dữ. Còn gì nữa nói nghe chơi.”
“Muốn nghe thiệt không. Nói toạc móng heo, không được giận à nghen.”
“Bộ tưởng tôi con nít à. Hồi này làm sao vậy, cô ba?”
“Có sao đâu. Anh thực tế một chút coi. Lè phè quá trời. Lông bông lêu bêu cái kiểu anh, ai mà yêu cho nổi ông.”
Điếu thuốc kẹp giữa hai ngón tay, sắp đặt vào môi đã bị tôi kéo lại. Tôi vỗ điếu thuốc lên bao diêm. Tôi nói:
“Ai mà yêu cho nổi. Yêu ai mà ai yêu?”.
“Đừng có hỏi giọng nhà quê, ông! Lại đây, em mua cho ông mấy tờ báo. Tờ này phải không?”.
Tôi đứng lại giữa chừng, hơi sợ hãi một chút. Cái cách hiểu biết và nói năng của Diệp làm tôi bối rối. Tôi nghịch chiếc nắp bật lửa, hỏi:
“Em chẳng quên thứ gì hết. Sao em còn đợi gì mà chẳng lấy quách tôi đi có hơn không.”
“Đừng có giễu nghe bạn.”
Đâu có ai ngăn cản không cho chúng tôi cười thả ga giữa đường phố trong một đêm lạnh lẽo và riêng tư như thế này.
Quả như lời Diệp nói, quán nước quen, trần bằng gỗ đánh vẹc-ni, ghế bành rộng thấp, điện ấm và không sáng lắm. Tôi đẩy cửa kính và đứng qua một bên nhường Diệp vào trước. Nàng lột khăn xuống rũ nước mưa và chúng tôi chọn một chiếc bàn hơi khuất trong góc phòng.
“Anh thường ngồi bàn này phải không?”
“Đúng rồi.”
“Anh uống cà phê đen nghe. Kêu cho em một ly sữa nóng đi anh.”
“Không, để tôi gọi cái gì bỏ bụng. Đói muốn chết đây này.”
Diệp biên món ăn lên giấy đưa cho người hầu bàn kéo tay áo nhìn đồng hồ, thở dài.
Tôi hỏi:
“Mệt hả?”.
“Đừng giễu ông. Em khoẻ mà.”

Diệp có vẻ khoẻ thật, dưới ánh đèn chụp bóng tròn, da mặt Diệp hồng hào hơn lúc nãy nhiều. Nàng đập tay lên vai tôi:
“Kìa anh, anh có thấy chiếc ghế bành da màu đỏ kia không. Ừa, ở chỗ đó đó, cá với anh mười ăn một, là thế nào cũng có một người ngồi ở đó.”
Tôi nói:
“Tôi chẳng hiểu trời trăng gì hết.”
Và tôi phá lên cười.
“Còn em, bộ anh tưởng em hiểu trăng sao gì hả?”
Nói xong, Diệp ngả đầu ra sau ghế, cười bằng tất cả cái dáng điệu kỳ cục của nàng. Người hầu bàn đến bên chúng tôi, nghiêng mình lễ phép:
“Ông bà gọi thêm món chi?”
“Không.” Diệp nói trong tiếng cười. “À, à mà có; làm ơn gọi cho tôi một chú bồi khác.”

Nhưng liền ngay khi đó tiếng cười của nàng chợt tắt sau câu nói và mắt Diệp mở lớn ngạc nhiên hướng về chiếc ghế bằng da màu đỏ. Một người đàn ông đã ngồi trong ấy tự bao giờ.
Thức ăn đã mang lên và tôi bắt đầu bữa cơm tối một mình.

Tác giả xem lại và hiệu đính ngày 8 tháng 12-2010.
Nguyễn-Xuân Hoàng

 Nguyễn Xuân Hoàng trên con dốc tử sinh

                 

Ngô Thế Vinh & Nguyễn Xuân Hoàng – Tòa soạn Viet Tribune

Gửi Nguyễn Xuân Hoàng cùng với  Chị Trương Gia Vy và Các Cháu

Nếu bảo qua tuổi 70 xưa nay là hiếm, thì Nguyễn-Xuân Hoàng cũng đã bước qua tuổi 74, đó là ý niệm tuổi tác của thế kỷ trước. Sang đến thế kỷ 21, với tiến bộ của y khoa, qua tuổi 80 nay cũng không còn là hiếm. Quen được Nguyễn-Xuân Hoàng trong hoàn cảnh nào thì tôi không nhớ, nhưng đó là một tình bạn khá lâu năm. Khoảng giữa thập niên 1960-1970 Nguyễn-Xuân Hoàng đã cùng với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật và Nguyễn Quốc Trụ chủ trương nhà xuất bản Đêm Trắng. Họ đều ở lứa tuổi trên dưới 30, với sức sáng tác đang sung mãn với phong cách riêng mỗi người, được coi như là nhóm “Tiểu Thuyết Mới”, với quán La Pagode như một điểm hẹn sinh hoạt. Và tên tuổi mỗi người trong nhóm, sau này đều trở thành nhân dáng những nhân vật tiểu thuyết của Nguyễn-Xuân Hoàng.

Giữa những năm giông bão của cuộc chiến tranh lúc đó, thỉnh thoảng tôi được đọc và cả quen biết họ trong những giai đoạn và các hoàn cảnh khác nhau, do rất khác về môi trường sinh hoạt và tôi thì cũng ít có thời gian ở Sài Gòn. Ra tới hải ngoại, hai người trong nhóm Đêm Trắng mà tôi còn giữ được mối liên lạc là Nguyễn-Xuân Hoàng và Nguyễn Đình Toàn.

Kỹ thuật y khoa ngày nay thì có thể đã tiến xa, nhưng quan niệm thì không mới; vì từ xa xưa người sinh viên khi mới vào học trường y đã được dậy dỗ đức khiêm cung trong y thuật: “chữa khỏi đôi khi; xoa dịu thường xuyên; và luôn luôn an ủi / La médecine c’est guérir parfois, soulager souvent, consoler toujours.” Ambroise Paré, bác sĩ phẫu thuật Pháp thế kỷ 16 đã là người đầu tiên nhắc tới câu nói ấy nhưng nguồn gốc thì có lẽ đã có từ một nền y khoa cổ đại xa xưa hơn rất nhiều. Bản thân người viết, cũng hơn 45 năm đã và đang hành nghề y khoa với những hoàn cảnh khác nhau trong cũng như ngoài nước, thì với cái chết của mỗi người bệnh, cho dù đã biết trước, thì cảm giác vẫn hụt hẫng như một phần mất mát của cuộc sống.

Sự mất mát ấy càng thấm thía hơn khi đó là chính là mấy người bạn thân của mình. Phải chứng kiến một Nghiêu Đề, người bạn tấm cám với những cơn đau ung thư tuỵ tạng vật vã đến xanh xao; một Cao Xuân Huy Tháng Ba Gẫy Súng can trường ngần ấy cũng đã oằn người vì những cơn đau di căn từ ung thư mắt hành hạ. Nay tới một Nguyễn-Xuân Hoàng cũng đang khắc khoải với những trận đau bướng bỉnh và rất quái quỷ như vậy. Cũng để thấy cái bể khổ của sinh lão bệnh tử và nhận ra rằng khả năng y khoa hiện nay còn giới hạn tới dường nào. Bể khổ thì mênh mông, nhìn lại chẳng thấy đâu là bờ. Cảm xúc đọc lại mấy câu thơ của Vô Ngã Phạm Khắc Hàm, không phải Nguyễn-Xuân Hoàng mà chính tôi cũng tìm được nguồn an ủi.

Ta tụng ngàn năm Quán Thế Âm,
Chúng sinh ta khóc nỗi mê lầm
Ngàn năm quỳnh nở trong đêm vắng
Rung động ba ngàn cõi viễn thâm.

… Người thích câu rùa đọc Lạc thư
Vớt con cá nhỏ thấy chân như
Ta nâng trang sách nghìn thu đọng
Trời đất rưng rưng giữa mịt mù

… Từ đấy ngàn năm vách lắng tai
Lời kinh vi diệu thấm linh đài
Tình thương từng giọt rơi trên đá…


Thực ra không ai có thể chọn lựa một căn bệnh để được chết theo ý mình, ngoại trừ thứ tự do chọn lựa rất bạo động là tự sát cũng thường thấy ở các nhà văn như: Ernest Hemingway Ngư Ông và Biển Cả bằng súng (1961), Yukio Mishima Đền Vàng bằng gươm (1970), Yasunari Kawabata Ngàn Cánh Hạc bằng hơi ngạt (1972), Nhất Linh Đoạn Tuyệt bằng thạch tín (1963), Tam Ích Nghệ Thuật và Nhân Sinh treo cổ (1972)…

Mark Twain thì bao giờ cũng với một cái nhìn rất nhẹ nhàng về cái chết: “A man who lives fully is prepared to die at any time.” Và rồi ra, đến một lúc nào đó, ở một nơi nào đó chắc Nguyễn-Xuân Hoàng cũng sẽ ngoảnh lại rồi mỉm cười mà nhắn với bằng hữu rằng: “Tường thuật về cái chết của tôi có phần quá đáng/ The report of my death was an exaggeration” ( Mark Twain).



NGÔ THẾ VINH

Long Beach 15/06/2014

  Toàn bài viết (pdf)

Trích bài Ði thăm Nguyễn Xuân Hoàng của Phạm Phú Minh

10 tháng 8 năm 2013

                                                        

Phạm Phú Minh

Để chuẩn bị cho cuộc hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn vào tháng Bảy 2013 vừa rồi, tôi đã mời nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng tham dự ban điều khiển các buổi hội thảo, và anh đã nhận lời, khoảng nửa năm trước. Tôi rất yên tâm, vì ban điều hành gồm Bùi Bích Hà, Đỗ Quý Toàn và Nguyễn Xuân Hoàng thì coi như là “mạnh”; đề tài nào, tình huống nào những nhà cầm bút lão luyện này cũng  có thể lèo lái xuôi chèo mát mái được.

Thế nhưng hai tuần trước ngày hội thảo thì Hoàng gọi cho tôi từ San Jose, giọng yếu ớt, cho biết không thể xuống quận Cam tham dự hội thảo được, vì lâm trọng bệnh một cách bất ngờ. Vé máy bay đã mua nay đã phải trả lại, chứng đau lưng tưởng là thông thường hóa ra có nguyên do trầm trọng từ cột sống, và đang chuẩn bị một chương trình chữa chạy dài ngày trong nhà thương. Hoàng tỏ ý tiếc bỏ lỡ một chương trình hội thảo quan trọng và hứa hẹn nhiều hào hứng. Tôi vội trấn an Hoàng là đừng lo gì về cuộc hội thảo, mà hãy lo chữa bệnh, sức khỏe của bạn là cái quan trọng nhất hiện nay. Tuy vậy trong lòng tôi dấy lên một nỗi tiếc nuối và lo lắng về chỗ trống do Hoàng vừa để lại trên bàn chủ tọa đã phác họa, vì Hoàng là một người điều khiển các chương trình hội thảo văn học đầy kinh nghiệm và kiến thức. Cách đây sáu năm, vào năm 2007, khi tổ chức hội thảo về văn học Việt Nam hải ngoại cũng tại Little Saigon, tôi cũng đã mời Hoàng vào ban điều khiển chương trình, và buổi hội thảo đã diễn ra rất tốt đẹp. Hoàng tiếp nhận nội dung thuyết trình nhanh và chính xác, tóm tắt ngắn gọn và thông minh để khán giả nắm vấn đề, từ đó lèo lái cuộc thảo luận lịch sự và xây dựng.

Nghe Hoàng đau, nhóm anh em báo Người Việt nóng lòng muốn đi thăm. Chuyến đi đã được thực hiện ngày thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013, chúng tôi sáu người từ quận Cam đi San Jose lúc 6 giờ sáng, phải đi sớm vì còn phải lái xe về trong ngày. Rất thường gặp nhau, nhiều người trong nhóm vì công việc còn gặp nhau hàng ngày, nhưng khi ngồi trên một chiếc xe lái đi xa thì câu chuyện của chúng tôi tự nhiên đổi khác, toàn những đề tài ra khỏi công việc hàng ngày của tòa báo. Nhiều lúc nói về Nguyễn Xuân Hoàng, về các kỷ niệm thời gian 11 năm Hoàng làm Tổng thư ký tòa soạn Người Việt, và quãng sáu năm làm Tổng thư ký tạp chí Thế Kỷ 21.

 Mời đọc toàn bài viết (pdf)

Chút Kỷ Niệm với Nguyễn Xuân Hoàng

Phương Hoa & Đăng Khánh (Houston, Texas)

Anh Hoàng đã ra đi! Phương Hoa & Đăng Khánh buồn lắm. Lòng yêu mến anh vẫn đầy đặn từ những ngày còn anh Mai Thảo và những ngày anh vất vả với tờ Văn. Quý mến anh từ những ngày anh tiếp tay với VOVN Radio Houston cùng với các anh Du Tử Lê, Duy Trác. Yêu mến anh mãi mãi từ những ngày anh đau ốm…

Nay anh ra đi, chúc anh “về lại” bình an… “anh đi đi, anh hãy đi đi.. bình an anh nhé.”

  Nguyễn Xuân Hoàng, Ngô Thuỵ Miên và Đăng Khánh @ Tình Ca Một Thuở San Jose


Anh Hoàng với VOVN Radio Houston 10 năm trước

Nhà báo Lê Thuỵ-Thục Quyên-Hạ Lan-Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng

Nguyễn Xuân Hoàng và các bạn tại Đăng Khánh 2000 Concert

c bạn anh Hoàng năm 2000 tại 607 Willowgreen.”như mới đâu đây”

AnhTrọng Kim đứng ngay sau anh Nguyễn Xuân Hoàng. Anh Trọng Kim đã không còn nữa!

Lê Thuỵ- NguYên-Trọng Kim- Nguyên Bích- Đăng Khánh- Nguyễn Xuân Hoàng- Du Tử Lê.

 Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng kỷ niệm 10 năm VOVN Radio Houston




Anh Hoàng ạ, Thôi, anh hãy đi trước bình an.
Mọi người nhớ và yêu anh lắm: “anh đi đi, anh hãy đi đi…bình an…anh nhé”

Cám ơn tình “tri âm” của anh Hoàng.

K. Khúc của Lê (Nhạc: Đăng Khánh – Lời: Du Tử Lê) >    Duy Trác (mp3)       Tuấn Ngọc (youtube)

                  (Nguồn: website của Nhạc sĩ Đăng Khánh –  http://dangkhanhmusics.com/)

Nắm Tay

Tặng Nguyễn Xuân Hoàng

                         

                                 

Nghiêng ngả cuối đời

Mây trôi

Người đi trên mây

Người trôi trên mây

Người đi một đời

Người trôi một đời

*

Nhưng đám mây gió thổi

Ngừng ở đâu bây giờ

Đến ngồi bên cạnh bạn

Giờ đây

biết nói gì

Thôi, chỉ nắm tay thôi

*

Chỉ nắm tay

năm ngón gầy gò

mái tóc phau phau

trắng những giấc mơ dang dở

Giờ chuông điểm

người đi kẻ ở

Đi, đến đâu?

Ở, cũng nơi đâu?

*

Mây cao, trôi cũng ngang đầu

Mây trời ngã xuống nhuốm mầu thời gian

Ngửa tay thả mọi lỡ làng

cho xuôi đến cuối địa đàng rồi quên…

                                

  nam dao

Tự truyện một người vô tích sự

Nguyễn Xuân Hoàng

                                
Trong đời sống, mất mát nhiều hơn là thu nhận. Cây lúa sẽ không trổ bông, nếu trước đó nó không chết đi. Hãy sinh động một cách không mệt mỏi, nhìn về tương lai và nuôi dưỡng bằng những nguồn dự trữ sống chất chứa từ trí nhớ và sự lãng quên. (It is more important in life to lose than to acquire. The grain will not sprout unless first it dies. One must remain untiringly alive, looking into the future and feeding on the living reserves which memory and oblivion together accumulate. – BORIS PASTERNAK “An Essay in Autobiography”*)

Tôi là đứa con thứ mười hai trong một gia đình mười ba anh chị em. Mười ba người con trong một gia đình, con số ấy đâu có nhỏ, phải không? Nhưng biết làm sao! Có ai trên đời này được quyền chọn nơi chốn, gia đình hay dân tộc để chào đời đâu. Tóm lại, tôi là một người Việt Nam ra đời ở miền Trung, trong thời chiến, dưới một mái nhà “đông dân” và “kinh tế gia cảnh” đang hồi sa sút.
Phải nói là nhà tôi đông người quá, đông đến nỗi tôi không thể nào nhớ hết tất cả những anh chị em của tôi. Cha tôi, má tôi, đôi ba ông anh, đôi ba bà chị, một vài cô em… chỉ chừng đó người thôi cũng đủ nằm chật trong ký ức tôi rồi.
Vậy thì, có lẽ, tôi chỉ xin nói trước một đôi điều về đôi ba người trong gia đình tôi thôi. Tôi nghĩ rằng khi vẽ lại chân dung những người thân thích ruột thịt của mình, tôi cũng đã tự vẽ phần nào chân dung mình. Tuy có hơi nhợt nhạt, nhưng chắc là sẽ không xa sự thực lắm đâu!

Cha tôi, tất nhiên đó là người mà tôi muốn nhắc đến trước nhất trong bản tự truyện này. Ông cao lớn, quắc thước, vạm vỡ. Ngay giờ đây, khi hồi tưởng lại hình ảnh của ông, điều mà tôi có thể nhìn thấy lại trước nhất và rõ nhất là đôi mắt của ông. Đôi mắt ấy đầy thần lực, hơi lạnh và có một vẻ gì như tàn nhẫn. Khi nhìn ai, đôi mắt kia như phát ra một mệnh lệnh buộc họ phải phục tùng. Rất nhiều màu nâu đen, rất ít lòng trắng, đôi mắt ấy khá gần với loài hổ báo. Cũng có khi tôi tưởng đôi mắt ấy là con dao cau phạt ngang, có thể cắt đứt cổ tôi như chơi.
Tôi rất sợ cha tôi. Và tôi không biết rõ lòng mình là có bao giờ tôi yêu ông không.
Má tôi thường nói cha tôi là một con sâu rượu. Quả thật, ông uống như hũ chìm và không bao giờ tôi thấy ông say. “Tao mà say rượu à, rượu say tao thì có!” Cha tôi nhiều lần nói như vậy.
Mỗi ngày bốn bận, cha tôi uống rượu theo chu kỳ “sáng – trưa – chiều – tối”. Sáng uống theo lối sáng, chiều uống theo kiểu chiều. Sáng đánh răng súc miệng, uống ít thôi. Tối cần giấc ngủ, uống khá khá được. Trưa, chiều thì tùy hứng.
Má tôi nói rượu là độc được. Cha tôi nói rượu là thuốc an thần. Cha tôi tích trữ rượu. Má tôi giấu rượu. Cha tôi ít nói khi đã uống nhiều. Và má tôi không phải là loại đàn bà lắm lời.

Nói chung, gia đình tôi đông, nhưng buồn và lạnh. Chúng tôi cử động, ăn uống, đi lại, học hành, trò chuyện như những người khách trọ trong một căn nhà nấu cơm tháng.
Có một thời gian, tuy hơi bất ngờ, nhưng mà cũng ngắn thôi, tôi thấy cha tôi không uống rượu nữa. “Sáng – trưa – chiều – tối” ông chỉ uống trà. Cái thói quen mà ông không thay đổi, đó là bao giờ cũng thức dậy sớm hơn tất cả mọi người trong nhà. Ông nấu nước trong một chiếc ấm màu đen quánh, pha trà trong một bình đất nung màu đỏ gạch cua bóng lưỡng, và uống trong một cái chén nhỏ cũng bằng đất nung da màu lông thỏ đỏ. Cái chén ấy ông trang trọng gọi nó là Thố Hào Trản. Cha tôi rất quý cái chén này. Có lúc tôi nghĩ là ông quý nó còn hơn đứa con của ông là tôi nữa. Ông thường đem khoe với mấy người bạn của ông cái chén đất và nói rằng nó xưa lắm, “bảy trăm năm tuổi đấy!”. Nếu đời sống con người chỉ kéo dài có năm mươi năm thôi thì cái chén này đã áp vào môi của mười bốn đời người. Nó “chạm” đến bảy thế kỷ của nhân loại. Có lần tôi hỏi ông tại sao cha biết cái chén này xưa tới bảy trăm năm. Ông nói chính một ông bạn làm quản thủ công nhựt ở viện bảo tàng vườn Bách Thảo Sài Gòn nói như vậy.
“Cha à! Ông ta căn cứ vào đâu mà nói như vậy?”
“Tao không biết, nhưng tao tin ông ấy. Ông ta là một nhà chơi đồ cổ lừng danh. Lời ông ông ấy rất có giá trị.”
“Nhưng tại sao bảy trăm năm thì quý?”
“Cái gì trên cõi đời này mà lâu đời đều quý cả.”
Tôi biết cha tôi trả lời lấy lệ. Và tôi vẫn không tin là hễ cái gì lâu đời cũng đều quý cả.

Nhưng đột nhiên, cũng bất ngờ như lần chừa rượu, ông bỏ trà không một lời báo hiệu. Tôi nhìn thấy cái chén đất nung, da màu lông thỏ đỏ, nằm lăn lóc dưới gầm tủ; bình trà bỏ ở góc nhà; còn cái ấm đất màu đen quánh nằm ở chái hiên.
Ông uống rượu trở lại.
Thời gian sau đó rất tình cờ có lần tôi nghe ông nói “mấy cái thằng ăn không ngồi rồi, dư tiền dư của, bày đặt chén Tiểu Tống với Đại Tống, Thán Hào Trổ với Thố Hào Trản!” Theo ông, rượu tốt hơn trà, và cái quan trọng chính là “nội dung” chứ không phải là cái “hình thức”. Chén nào cũng được, rượu là đủ.
Tôi không giống cha tôi về mặt này.
Tôi uống rượu nhưng không mê rượu.

*

Má tôi là một phụ nữ có cái chiều cao “hơi cao” so với chiều cao trung bình của một phụ nữ Việt Nam. Da trắng, tóc đốm màu bạch kim, mũi cao nhỏ, mắt xanh hơi nghịch ngợm, cái vẻ bề ngoài của bà nổi bật giữa những người phụ nữ Việt Nam. Những buổi đi học về, tôi thường chui xuống bếp với má tôi và đôi khi cả bà chị kế tôi cũng xuống bếp theo. Thỉnh thoảng, bà kể cho chúng tôi nghe về những mảnh đời của cha tôi. Chấp vá lại những câu chuyện hở đầu hụt đuôi của bà, tôi hình dung ra cuộc đời của ông, bằng cách thêm mắm dặm muối cho nó liền lạc.

Là thủy thủ của những thương thuyền, cha tôi trôi nổi từ hải cảng này sang thương cảng khác. Nay Hồng Kông mai Tân Gia Ba, mốt Marseille, bữa kia Amsterdam… ông như một con cá mập giang hồ vẫy vùng giữa trời và nước. Những hình xâm xanh lè còn đầy trên chiếc ngực vạm vỡ và lông lá của ông, cùng với dòng chữ lăn quăn trên hai cánh tay ông, làm chứng cho những lời nói của má tôi. Trước khi lấy bà, cha tôi đã có một đời vợ. Mẹ trước tôi là một phụ nữ Pháp, tên Suzanne, sinh trưởng ở Marseille, thành phố mà đã có thời cha tôi tưởng chừng sẽ chôn chân vĩnh viễn lại đó như quê hương thứ hai. Nhưng cũng theo lời má tôi kể, ông phải bỏ đi vì một chuyện “lỡ tay” của ông. Một hôm ông bước vào quán rượu quen, gọi thức uống như thường lệ, nhưng chờ mãi vẫn không thấy người bồi mang lại, trong khi đó thì tên chủ quán người Pháp cứ đi ra đi vào ngó ông khinh khỉnh. Ông sốt ruột, nắm cổ áo hắn hỏi tại sao. Hắn nói ở đây không có chỗ cho một dân “Mít”. Ông giận điên lên, quật tên chủ quán xuống sàn nhà và tấn công hắn bằng một thế võ cực kỳ hiểm độc. Tên chủ quán chết không kịp lời trối trăn. Để trốn tránh pháp luật, ông dắt bà Suzanne chạy lên Paris. Paris đâu phải đất sống của ông. Ông quẩy đuôi trở lại sông hồ, bỏ lại thành phố ánh sáng lộng lẫy kia người đàn bà với một giọt máu của ông. Sau này, vẫn theo lời kể của má tôi, có lần bà Suzanne gửi thư cho cha tôi nói về giọt máu rơi của ông nay đã là một thiếu nữ tên Marthe. Má tôi muốn tự tay biên thư cho bà Suzanne, nhưng cha tôi không bằng lòng. Ông nói đó là chuyện của ông, má tôi không được xen vào. Chị Marthe của tôi có thời nổi tiếng là một trong số những người mẫu lừng danh của Paris. Người ta gọi chị là Marthe Nuyen (lẽ ra phải viết là Marthe Nguyễn mới đúng, nhưng chuyện này đâu có ăn nhằm gì). Tôi biết chi tiết này vì lúc hơi lớn một chút có lần tình cờ tôi nhìn thấy trong cuốn nhật ký của bà chị kế tôi có một tấm ảnh in hình một cô gái Pháp ăn mặc thật đẹp như một tài tử điện ảnh. Sau lưng tấm ảnh là lời đề tặng cho cha tôi có chữ ký rất rõ là Marthe Nuyen. Nhật ký của chị nói rằng Marthe làm nghề người mẫu. Và cha tôi biên thư phản đối bà Suzanne tại sao để con tự do làm nghề này. Nghề người mẫu thì đâu có gì là xấu, nhưng tôi không hiểu tại sao cha tôi nói vậy. Cho đến bây giờ, thật tình mà nói, tôi không biết gì nhiều hơn về người chị có cùng chung với tôi một người cha này. Bỏ Paris, cha tôi đi Hương Cảng, lại theo một số tàu buôn khác, lại giang hồ kỳ hiệp, nay thương cảng này, mai hải cảng kia. Đó là thời gian cha tôi gặp má tôi.

*

Bà là người Trung Hoa, nhưng có dòng máu của dân Hồng Mao. Bà thường nhắc đến ông ngoại tôi một cách kính cẩn như nhắc đến một vị thần đầy quyền lực: “Ông ngoại con không phải là người phàm. Ổng là con nhà quý tộc chớ không phải dân giang hồ tứ chiếng như cha mày đâu.”
“Má, con nhà quý tộc thì sao?” Tôi hỏi.
“Dân quý tộc không lấy con nhà thường dân.”
“Vậy sao má chịu lấy cha?”
“Không biết! Đừng nhiều chuyện! Nhưng má thích tụi con ăn học đàng hoàng, hơn là lang bạt kỳ hồ.”

Bà không muốn chúng tôi giống cái thời tuổi trẻ của cha. Ước muốn của bà, sau này, tôi thấy hình như không đạt được bao nhiêu phần trăm.
Ông ngoại tôi người Bắc Kinh, con một gia đình quyền quý có chức phận, được gởi sang Anh du học. Ông lấy một phụ nữ người Anh và sinh ra má tôi. Không hiểu vì sao ông bỏ bà ngoại tôi ở lại Luân Đôn, về nước chỉ mang theo cô con gái là má tôi. Nhưng rồi, ông cũng không nuôi má tôi. Ông đem gửi bà cho một gia đình người Hoa khác ở Hương Cảng, cung cấp ít tiền bạc và thỉnh thoảng mới đến thăm bà. Cuộc tình duyên giữa má tôi và cha tôi ra sao, không ai trong đám con cái chúng tôi biết. Mà má tôi cũng không bao giờ hé môi nói rõ tại sao một thiếu nữ “con nhà quan xinh đẹp thế kia” (tôi vẫn luôn luôn nghĩ má tôi là người đàn bà đẹp nhất mà tôi đã gặp trong đời) lại đi phải lòng một người đàn ông giang hồ như cha tôi. Dù sao khi tôi bắt đầu nhận ra mình là đứa con của một gia đình đông đảo, tôi có thể nói má tôi là ngưòi đàn bà tần tảo lo cho chồng cho con trong cái xã hội bình thường của chúng ta. Quần quật suốt ngày với con cái nhà cửa, chạy ăn từng bữa, tất tả, ngược xuôi, đắp cái này, vá cái kia, nhưng không bao giờ thấy bà hé răng kêu một lời than thở. Về ngôn ngữ, tôi không biết nói sao cho đúng. Má tôi nói tiếng Hoa cũng sõi như tiếng Việt. Phần tôi, tôi chỉ ăn cắp được của má tôi và cha tôi một chút chiều cao của thân thể, nhưng tiếc thay, tôi không lấy được một tí nào về sự chịu đựng lớn lao của bà và cái cang cường dũng cảm của cha.

Tuy vậy hình như tôi là một đứa con được má nuông chiều quá đáng trong một gia đình đông đúc. Cha tôi lạnh lùng. Anh chị em tôi dửng dưng. Nhiều khi tôi có cảm tưởng như chẳng có sợi dây gia tộc nào ràng buộc được chúng tôi lại với nhau.
Nói nào ngay, mấy ông anh bà chị tôi không ai ghét bỏ tôi, nhưng hình như cũng không ai yêu tôi. Riêng tôi, tôi nghĩ là mình thù ghét tất cả mọi người, trừ một người, tất nhiên, đó là má tôi. Tôi đâu có cần gì phải làm ra vẻ lạnh lùng. Tôi có thừa sự nhạt nhẽo để có thể chia xẻ cho tất cả mọi người. Cái phần ấm áp, tôi chỉ dành riêng cho mỗi một mình má tôi.
Thật ra, chị Thảo tôi, mà tôi có lần nói rất giống má tôi, là người mà tôi cũng yêu lắm, gần bằng tình yêu mà tôi đã dành cho má tôi. Nhưng giữa chị và tôi có một khoảng cách vô hình. Không bao giờ hai chị em tôi nói với nhau quá câu thứ hai mà không cãi nhau. Đúng với cái tên mà má tôi đã đặt cho chị, chị là một thứ cỏ hoang mọc trên một vùng đất khô cằn là cái gia đình tàn tạ của chúng tôi. Và cái sắc đẹp man dại của chị làm cho má tôi lo lắng buồn bã hơn là làm cho bà hãnh diện mừng vui. Chị Thảo là một kết hợp kỳ lạ giữa cha tôi và má tôi. Chị có cái nhan sắc của má tôi và cũng có cái lạnh lùng đôi khi tàn nhẫn của cha tôi.

Năm mười bảy tuổi, chị bị một tên thanh niên con nhà giàu trên tỉnh theo đuổi. Hắn mang tặng chị hết món này đến thứ khác, toàn là loại đắt tiền. Lúc đầu chị cười cợt, coi như trò đùa. Về sau chị vất tất cả những thứ ấy ra cửa. Hắn tên là T. và theo chủ quan tôi, lúc ấy hắn là một thanh niên khá đẹp trai. Cao lớn, để ria mép, ăn mặc chải chuốt, hắn đẹp theo kiểu một công tử. Hắn khôn khéo, tìm mọi cách để chiều lòng mọi người trong nhà tôi. Kín đáo mang rượu đến cho cha tôi mỗi tuần, tặng vải vóc cho má tôi, đồ chơi cho tôi và các em tôi. T. đi lòng vòng chung quanh trước khi chinh phục tâm điểm là chị Thảo tôi. Tôi có cảm tưởng như nếu bắt hắn phải quỳ xuống để xin chị Thảo chút tình yêu, chắc hắn cũng sẵn sàng không do dự. Nhưng chị Thảo nhất mực không hề cảm động hay thương hại hắn nói gì đến thương yêu. Tôi không biết là lúc đó chị có đang yêu người nào không. Hình như là không. Thật ra tôi cũng không chắc lắm. Nhưng rõ ràng là chị vất cái thứ tình yêu đầy quy lụy, say đắm và mù quáng của T. xuống cống rãnh. Nhiều buổi chiều, tôi thấy T. đứng bứt rứt bên kia đường, dưới gốc cây muồng hoa vàng nghệ, ngó chăm vào nhà tôi. Hắn đau khổ thấy rõ. Và thú thật, tôi có thương hại hắn. Tôi thấy chị Thảo tàn nhẫn. Cha tôi không giờ uống một giọt rượu của T. Còn má tôi vào những ngày năm cùng tháng tận, cần mua sắm ít vải may quần áo mới cho chúng tôi, vậy mà bà cũng nhất quyết gói gửi trả tất cả vải vóc lại cho T. Một lần cha tôi cho gọi T. vào nhà, rót rượu cho hắn uống. T. nói không biết uống rượu. Cha tôi bảo “Nam vô tửu như kỳ vô phong” đàn ông không uống rượu như cờ không gió. Hắn nhìn cha tôi như cầu khẩn. Cha tôi cụng ly. T. bưng lên nốc cạn một hơi. “Khá!” cha tôi nói, và rót tiếp một ly thứ hai. Cứ thế hết ly này đến ly khác. Khi cha tôi đứng dậy, T. ói thóc ói tháo, đầu gục xuống bàn, người mềm như sợi bún.

Khi người Pháp trở lại Việt Nam sau cuộc chiến, T. làm thông ngôn trong một tiểu đoàn Lê dương. Hắn lúc bấy giờ nổi tiếng như một hung thần. Nhiều người đã chết dưới tay hắn. T. háo sắc đến độ gần như vùng nào mà tiểu đoàn hắn đi qua đều có vài ba thiếu nữ là nạn nhân của hắn. Đi bên cạnh T. luôn luôn có hai tên lính người Ma Rốc rạch mặt. Nhiều cô gái sau khi bị hãm hiếp, còn bị tên Ma Rốc dùng dao cắt vú và đâm nát cửa mình.
Thời gian này gia đình tôi đã tan thành nhiều mảnh. Tôi theo cha tôi chạy lên Hòn Lớn, một địa danh ở miền Trung, nằm dưới chân một ngọn núi khô cằn, nhà cửa giống như những căn chòi cất vội vàng trên một nền đất chưa được phẳng. Tiếng súng còn khá xa chỗ ở của cha con tôi.
Lúc đó, tiểu đoàn của T. đang bố ráp càn quét ở một vùng quê khác, nơi má tôi và chị Thảo đang ẩn náu. Sau này má tôi kể lại: Một buổi tối T. xông vào nhà với hai tên lính Ma Rốc rạch mặt. Hắn ung dung ngồi hút thuốc để hai tên Ma Rốc đè chị Thảo ra cột lên giường và trói má tôi chặt vào cột nhà. Ở thôn quê hồi đó, phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn chỉ là một. Má tôi hãi sợ lắm. Hắn hỏi chị Thảo:
“Em có bằng lòng lấy tôi không?”
“Không!” Chị trả lời.
“Tại sao?”
“Không tại sao gì cả.”
“Chừng nào mới chịu lấy tôi?”
“Không chừng nào hết!”
“Sợ tôi không?”
“Tại sao phải sợ?” Chị Thảo hỏi lại ương ngạnh.

T. rút khẩu súng ngắn đeo ở thắt lưng ra, kê vào đầu chị, nhắc lại một lần nữa. Chị Thảo không nhìn hắn. Má tôi la lên, sợ T. bắn thật. Hắn tát vào mặt má tôi. Xong hắn xé quần áo chị Thảo ra, hãm hiếp chị ngay trước mắt chừng ấy con người. Lúc đó, má tôi nói, hắn như một con thú say mồi. Má tôi phát bệnh nặng sau khi chứng kiến cái cảnh tượng hãi hùng giáng xuống đời chị Thảo. Chị Thảo, sau tai nạn khủng khiếp kia, âm thầm bỏ má tôi đi biệt vô âm tín. Mặc dù chỉ nghe lời kể của má tôi về những hành động dã man của tên T., tôi không bao giờ quên hắn. Tôi sẽ nhắc hắn ở đoạn sau.

Phần tôi, kể từ khi bắt đầu va chạm cuộc sống, tôi khám phá ra rằng con người ta không thể nào sống mà thiếu người khác được. Tôi thấy tôi là kẻ đói tình thương trong một gia đình thừa mứa những liên hệ ruột thịt. Nói giản dị, khi tôi nhận thấy mình cần một bà chị như kiểu chị Thảo để yêu mến thì chị ấy không còn trong gia đình nữa. Có lẽ là chị ấy vẫn còn sống đâu đó mà không muốn trở về gia đình chăng, tôi không rõ.

Tôi giữ lại trong trái tim mình hai người anh. Một ông anh cả và một người anh kế.

Anh cả tôi bỏ nhà đi giang hồ khi mới mười bốn tuổi. Năm đó tôi chưa chào đời. Má tôi nói anh đi Sài Gòn. Sau đó là Cà Mau, Rạch Giá, Năm Căn, Cần Thơ, Châu Đốc… Có lần trong bữa cơm má tôi nói anh mày ở Vạn tượng bên Lào mới gửi thư và tiền về cho má. Lần khác trả lời câu hỏi của chị Thảo, má nói anh cả đang ở Savanakhet. Khi cha tôi bỏ trà, liệng lăn lóc cái Thố Hào Trản, là lúc ông nói anh đang ở đồn điền Chup bên Nam Vang, Căm bốt. Nói chung là tôi rất lơ mơ về nơi ăn chốn ở của anh ấy. Còn mặt mũi của anh ra sao thì mãi lâu về sau tôi mới có dịp nhìn thấy.

Người anh kế tôi, tuy cao lớn, nhưng dáng người thanh nhã. Ấy vậy mà khi vừa đậu xong cái bằng tú tài toán anh đã chọn đời lính như một nghề nghiệp. Anh thi vào trường Võ Bị Da Lat nhưng khi ra trường chuyển sang binh chủng Không Quân. Khi Sài Gòn thất thủ, anh đang mang lon trung tá, bị bắt đi học tập cải tạo và chết trong lao tù Cộng Sản. Anh là người lính ưa văn chương chữ nghĩa. Anh có nhiều bạn là nhà văn nhà thơ, mặc dù anh không hề viết một truyện ngắn hay làm một bài thơ nào. Sở dĩ tôi có biết mặt quen tên một ông nhà văn, một bà nhà thơ nào đó, chẳng qua cũng là do ông anh tôi dắt về nhà thôi. Anh che chở cho một nhạc sĩ trốn lính, bỏ tiền trợ cấp cho một bà ca sĩ có bầu “với ai đó”. Anh luôn luôn hào hoa rộng lượng. Tôi thích nhìn anh trong bộ đồ bay, chữ Tổ Quốc Không Gian trên ngực áo, chiếc nón lưỡi trai che ngang cặp kính Ray Ban rất là thời thượng. Anh có nhiều bạn gái, phần lớn là ca sĩ phòng trà, và anh không yêu một cô nào quá lâu. Anh nói với tôi anh không có tình yêu. Mãi đến năm Bảy Hai, sau mùa hè đỏ lửa, trước ngày má tôi qua đời, anh báo tin cho tôi biết là anh quyết định lấy vợ. Chị là một cô giáo dạy Vạn Vật và là người rất xa lạ với thế giới đầy buông thả của anh. Nếu cái vẻ hào hoa phong nhã của anh là thứ vũ khí sắc bén chinh phục các cô ca sĩ thì khi gặp chị, vũ khí ấy trở thành thừa thãi, vô hiệu. Chị nói chị lấy anh vì tánh thật thà của anh, chứ không phải vì “cái mã bề ngoài” của anh. Hôn nhân đã ép anh vào một khuôn khổ, không kẽ hở. Nhà cửa, vợ con, gia đình, hàng xóm đâu ra đấy. Anh không còn luông tuồng như xưa nữa. “Tình yêu có thật!” Anh vẫn nói với tôi như vậy khi đã có với chị một đứa con. Tuy vậy mỗi khi có dịp về Sài Gòn, anh như một con cá gặp nước. Bạn bè, ăn nhậu, nhẩy nhót như điên. Vũ nữ, ca sĩ, phòng trà, âm nhạc, rượu chè… anh sống vội vã như thể ngày mai trái đất này sẽ trở thành tro bụi. Tuy vậy có lần anh nghiêm chỉnh nói với tôi rằng không biết cuộc chiến tranh này rồi sẽ đi về đâu. Có nhiều điều anh không hiểu. Tình hình chính trị ngày càng xấu. Các thành phố lớn có vẻ như co rúm lại. Chiến tranh đâu chỉ có ở một mặt trận, nó nằm cùng khắp đất nước thành thị, thôn quê, ruộng vườn rừng núi. Ngay trong hơi thở ta, trên da thịt ta, trong thành phố hiền lành chiến tranh cũng đầy chật. Anh nói đến những ánh đèn nhấp nháy của nhà cửa làng mạc, nói đến rừng núi sông ngòi… những nơi anh đã bay qua. Anh nói đến những đám mây như những tảng bông trắng xốp, đến bầu trời xanh lơ mênh mông. Anh thích nhà văn phi công người Pháp, ông Saint Exupéry trong tác phẩm Terre Des Hommes. Và câu nói của một nhân vật trong cuốn sách này ám ảnh anh là: “Cái mà mình đã làm, mình nói thật, không một con vật nào làm được.” Anh muốn có cái cơ hội thử thách điều đó.

Khi hay tin anh chết trong lao tù cải tạo, nhớ đến lời nói của anh, tôi tự nghĩ không biết anh đã chiêm nghiệm ra điều ấy hay chưa.
Nghĩ cũng hay, một gia đình đông đảo đến là như thế mà chiến tranh đến, chiến tranh đi, vô tình cướp mất của tôi lúc này một ít ông anh, lúc kia một ít bà chị, để rồi rút cục con rắn dài mười ba khúc chỉ còn lại có khúc đầu, khúc giữa và khúc đuôi.

Tôi muốn giới thiệu về ông anh cả tôi trước khi nói tiếp về ông anh trung tá.

*

Cũng giống như cha tôi, anh cả tôi cao lớn vạm vỡ khác thường. Anh có một khuôn mặt bạnh, chân mày rậm xếch, mũi to, miệng rộng, cằm vuông, râu quai nón, đen sạm. Một vết sẹo dài chạy từ khóe mắt đến mang tai. Mắt anh không lớn nhưng lì lợm và dữ dằn như mắt cha tôi. Tóc anh xoắn chảy xuống gần phía ót một chùm mịn quăn tít. Cổ anh tròn cứng, vai ngang, hai bàn tay to lớn phốp pháp. Trên khuôn mặt anh, người ta có thể nhìn thấy một sự kết hợp kỳ lạ, mâu thuẫn đến tuyệt vời giữa sự cứng rắn và mềm mại, dễ ghét và dễ thương, hận thù và thân ái… Tất cả những hình nét mà tôi có thể vẽ được về anh chỉ là nhờ vào những tấm ảnh anh gửi về cho má tôi. Tôi còn nhớ Tết Nguyên Đán một năm nào đó, lần đầu tiên tôi giáp mặt anh. Tôi thấy những đường nét mà tôi đã hình dung về anh là không xa lắm. Hồi đó tôi mới bốn tuổi, má tôi bắt tôi ra mừng anh ở xa mới về. Tôi đứng nép bên má nhìn anh, thấy anh tưởng như một người đã quen nhau từ lâu lắm. Nhưng tôi không chào anh. Anh là người quen trong trí tưởng tôi, hơn là người anh có mặt trong đời sống thực tôi. Anh ở nhà không lâu và lại ra đi hồi nào tôi cũng không nhớ. Tôi chỉ biết thời gian đó gia đình tôi tạm coi như sum họp nhất, mặc dù lạnh lẽo vẫn là khí hậu chính của mọi người. In hình như là trong nhà ai cũng linh cảm sắp có một điều chi đó xảy ra, như chờ đợi một cơn bão vậy. Và tôi thấy người anh cả tôi lúc ấy rất quan tâm đến chị Thảo. Anh nói chuyện khá lâu với chị và loáng thoáng tôi nghe nhắc đến tên T., người thanh niên vẫn theo đuổi chị. Một buổi tối, cả nhà ngồi quanh bàn ăn, cha tôi gợi chuyện để anh cả tôi kể những biến cố đời anh. Anh cười, hàm râu quai nón giãn ra như một ông tây con. Anh nói ít, cũng như má tôi vậy, về nơi ăn chốn ở của anh: rừng cao su, những người phu được mộ từ miền Bắc, những tên chủ đồn điền người Pháp hách dịch phách lối, cách tra tấn dã man những người trốn việc mà bọn cai vẫn thường đối xử với đám phu phen… Anh kể chậm rãi về nhiều người, nhiều việc, nhưng không ai biết chút gì thêm về đời tư của anh. Khi anh đứng dậy thì thầm với chị Thảo điều gì đó, cha tôi tuyên bố một câu khó hiểu: “Thằng này giống tao!” Về sau tôi biết là anh đã “làm thịt” một tên cai phu tàn ác vì hắn hành hạ dã man một người phu đồn điền.

Một năm sau, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ trên toàn quốc, anh tôi bị con lốc thời cuộc cuốn theo, thổi bay từ núi rừng này sang núi rừng khác, mặt trận, chiến khu, và biệt tích biệt tăm, cho đến sau tai nạn buồn thảm của chị Thảo tôi.

Tôi quên nói là sau khi trái lựu đạn nội hóa đầu tiên nổ tung trong một ngày mùa Thu ngay trước cửa nhà tôi thì gia đình tôi giống như một tổ ong bị vỡ. Chúng tôi, những con ong bay tán loạn, tơi tả, lạc loài, vô định. Má tôi và chị Thảo một đàng, các ông anh bà chị khác một ngõ. Chỉ có riêng mình tôi, theo cha chạy qua những làng xa tận cùng một chân núi. Tôi biết những cánh đồng xanh lá mạ, những vườn xoài vườn mận, những hệ thống dẫn thủy nhập điền thô lậu, những con sông dài phơi mình ngái ngủ giữa trưa hay trôi lặng lẽ dưới bóng trăng đêm… Tôi được thấy những đàn bò gậm cỏ buồn nản, những con trâu lười biếng trầm mình dưới đầm nước tù ngầu đục… Nhưng cuộc chiến ngày một đuổi nà những người thành phố. Tiếng súng lúc đầu còn xa, càng về sau càng gần hơn. Trước mặt chúng tôi là ruộng vườn, thôn xóm. Sau lưng chúng tôi là núi đá, rừng cây. Cùng đường rồi, chạy đi đâu nữa. Cha tôi nói như vậy. Và ông vừa làm tiều phu, vừa làm nhà nông. Cha tôi nói đất đai chỉ nuôi sống che chở những ai yêu nó, sống với nó, làm việc với nó. Cha tôi là một người tháo vát. Ông nói tận trong máu huyết của mỗi người Việt Nam đều có chứa đựng dòng máu của một nông dân. Đây là thời gian cha tôi trở lại với ấm trà và chén đất. Không còn cái Thố Hào Trản của thời Đại Tống Tiểu Tống gì đó, mà một ông bạn già của cha tôi từng nói. Chén đất nung thứ thiệt màu đỏ gạch cua, cha tôi làm lấy. Ông vẫn là người dậy sớm, nấu ấm trà. Và tôi trở thành người bạn hiền bé nhỏ đối ẩm cùng ông. Cuộc sống của hai cha con tôi nơi sơn cùng thủy tận hạnh phúc một cách bắt buộc. Cha tôi nhắc má tôi và chị Thảo ít hơn là nhắc đến hai ông anh tôi. Cho đến một hôm, một người liên lạc đến báo cho cha tôi biết anh cả tôi ở chiến khu về muốn gặp ông. Tôi mừng lắm. Nhưng cha tôi trầm ngâm không nói chi. Tôi còn nhớ cuộc gặp gỡ của chúng tôi diễn ra dưới chái hiên của căn chòi lợp lá phên. Buổi chiều ở núi lạnh tê. Anh tôi đứng trước sân căn chòi. Vẫn cao lớn, hơi gầy, râu cạo nhẵn, tóc vẫn xoăn tít bám sát da đầu. Vết sẹo dài từ khóe mắt trái đến mang tai. Cha tôi và tôi đứng dưới dàn bầu nậm. Tôi hết nhìn anh lại nhìn cha. Anh gầy càng giống cha nhiều hơn. Hai người đàn ông đứng im sững như hai người thợ săn đang rình mồi, nhìn ngó nhau trân trân. Tôi thấy những đốm sáng cuối cùng của ngày lóng lánh trong đôi mắt anh. Sau cùng, tôi nghe thấy tiếng cha tôi kêu tên anh trai tôi. Tối hôm đó, ba chúng tôi ăn cơm chung bên bếp lửa. Cơm trộn bắp chan nước mắm bằng nước muối pha đường thẻ. Bữa cơm rất ngon miệng, mặc dù tôi đã quá ngấy với những hột bắp nhiều hơn gạo trong chén cơm. Anh ôm tôi vào lòng, lấy khẩu súng ngắn ở thắt lưng ra, tháo đạn, cho tôi mượn. Anh đọc cho tôi nghe một bài thơ của một tác giả mà sau này tôi biết là Quang Dũng:

Mẹ tôi em có gặp đâu không
Những xác già nua ngập cánh đồng

Đó là những câu thơ mà tôi sẽ còn nhớ mãi. Một lúc, anh ngập ngừng nói với cha:
“Con đã gặp thằng T.!”
“Thằng T.?” Cha tôi hỏi gặng. “Mà ở đâu?”
“Ở Tân Hưng. Gần Gò Quít, cha nhớ không?”
“Nhớ. Rồi sao?”
“Con hỏi nó có biết con là ai không? Nó nói biết. Con hỏi nó sợ không? Nó nói không…”
Anh ngừng lại, trầm ngâm.
“Cha biết con đã làm điều gì phải làm cho em Thảo.”
Cha tôi im lặng rót trà vào chén đất, uống một hơi cạn.

Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy, anh đã ra đi từ hồi nào. Cả cha tôi nữa, ông cũng đã vào rừng đốn cây làm thêm phên cửa, sửa vách và dành củi cho mùa đông.
Người anh sinh trước tôi vài năm, cũng như tôi, lớn lên cuộc chiến tranh Việt Nam đi vào một khúc quanh khác. Người Pháp đã ra đi sau khi thất thủ Điện Biên Phủ. Người Mỹ vừa đến, Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất Cộng Hòa thành lập. Gia đình mười ba anh em chúng tôi chỉ còn cô út ở nhà với má tôi. Anh cả tôi cũng như chị Thảo đều biệt tăm. Ông anh kế của tôi theo học trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Còn tôi, sau đó vào Quang Trung rồi đi Thủ Đức. Chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Các tướng lãnh thay nhau cầm quyền. Cha tôi qua đời đúng vào dịp Tết Mậu Thân. Bốn năm sau má tôi cũng “đi theo”, khi một tay nhà báo Pháp viết về “đại lộ kinh hoàng” ở Quảng Trị, nơi người bạn Thủy Quân Lục Chiến của tôi làm bài thơ Cổ Thành tặng tôi trước khi hy sinh. Cô em gái út nhà tôi lấy chồng. Ngôi nhà tôi ở đã bán. Tôi là người lính sống ở văn phòng nhiều hơn chiến trường. Tôi luôn luôn là kẻ được nuông chiều trong một xã hội không phải ai cũng may mắn được như thế. Ông anh Không Quân của tôi tuy vẫn hào hoa bay bướm, nhưng là một người cha gương mẫu, một người chồng tốt. Anh được bạn bè đồng đội quý mến và quả tình anh cũng rất yêu mến con đường anh đi. Một lần chúng tôi gặp nhau ở Sài Gòn, anh nhắc tên người anh lớn và chị Thảo của chúng tôi. Không biết bây giờ anh chị ấy ở đâu, ra sao. Sống chết thế nào. Anh nói chiến tranh ghê tởm và anh hỏi tôi nghĩ sao. Tôi nghĩ sao? Tôi là một người vô tích sự. Nhưng bây giờ hiểu ra, tôi yêu tất cả mọi người. Tôi không thù ghét ai. Người anh Không Quân của tôi cũng nói vậy. Anh chờ đợi và mong muốn hòa bình. Anh nói anh không phải là một nhà chính trị, nhưng anh tin rằng anh chiến đấu cho tự do của dân tộc. Anh nói anh không hề mù quáng nghĩ rằng anh đang sống trong một xã hội tốt đẹp, nhưng anh tin rằng anh đang chiến đấu trong một xã hội để làm cho nó tốt hơn cái hiện có.

*

Tháng Tư Bảy Lăm, Sài Gòn thất thủ, trong “những người chiến thắng” trở về có ông anh cả tôi, nay là một cán bộ chức sắc, một thứ công thần. Anh có tìm gặp tôi trước ngày tôi bị gọi đi học tập cải tạo. Tôi thấy anh khác xưa nhiều. Vết sẹo trên mặt có vẻ như nhạt đi, những bắp thịt gân guốc đã mất. Anh gầy và trầm ngâm. Anh không gặp người anh Không Quân của tôi. Tôi không nghe anh giải thích tại sao. Cô em út của chúng tôi đã theo chồng rời bỏ Sài Gòn trong một ngày áp chót của cuộc chiến. Tôi không hiểu tại sao có phương tiện trong tay mà người anh Không Quân của tôi không ra đi. Cũng như những sĩ quan thua trận cấp úy khác, tôi thu xếp ít quần áo và lương thực cho mười ngày học tập. Nói là mười ngày, nhưng ba năm sau tôi mới được trở về, khi ông anh Không Quân của tôi vẫn còn ở lại trong một trại cải tạo ngoài Bắc. Ra tù tôi sống lang thang làm đủ thứ nghề, đi khắp mọi nơi, nhưng tôi vẫn không gặp và không nghe chút tin tức gì về chị Thảo tôi. Làm như chị là một người không có thực trong gia đình tôi.
Ông anh cả tôi sau đó có đến thăm tôi trên một lần nữa, sau khi tôi vượt biên bị bắt ở Rạch Giá vừa được thả về. Ông nói đừng làm chuyện bá láp, vượt biên là phản quốc. Đó là thời gian chế độ mới đánh tư sản, đổi tiền. Ông nói học tập cải tạo là rất tốt cho những đầu óc vô tích sự như tôi. Phải như thế thì tôi mới “sáng mắt sáng lòng” ra được. Mãi đến năm thứ mười sau ngày Sài Gòn thất thủ tôi mới vượt biên thông suốt. Tôi đến được Pulau Bidong, trong một chuyến đi không đến nỗi bi thảm như những người khác. Tôi luôn luôn là một người may mắn. Một năm sau nhờ sự bảo lãnh của cô em út, tôi được Mỹ nhận cho định cư.
Khi còn ở đảo tôi hay tin người anh lính Không Quân đã chết trong trại giam. Ông anh cả tôi cũng không còn nữa. Một lá thư từ bên nhà gửi qua cho biết ông ấy chết hơi khác thường: tự tử bằng một viên đạn bắn qua đầu. Qua thư từ tôi biết thêm sau khi ông đi thăm người anh lính Không Quân bị bệnh nặng nằm chờ chết trở về, ông đã chọn cái chết của chính mình như một cách nói lời tuyệt vọng. Mười năm sau khi lấn chiếm miền Nam, đất nước ngày càng tan nát, đời sống người dân ngày càng xuống thấp, trong khi máu mủ ruột thịt bỏ đi xa hay vẫn còn nằm trong lao tù của chế độ mà mình phục vụ, có lẽ đã là động cơ thúc đẩy họng súng quay về phía ông. Đôi khi tôi nghĩ cái lẽ sống mới quan trọng hơn sự sống. Có phải vì thế mà ông anh cả tôi hành động kiểu đó chăng? Đó là tôi suy nghĩ vậy, chớ tôi không chắc lắm đâu.
Tôi bây giờ là một “tếch ních sơn”(technician) lương ba cọc ba đồng, sống qua ngày đoạn tháng.

Hôm qua tôi vừa được thư bà chị dâu từ Cabramatta Úc Đại Lợi gửi sang cho hay chị đã lập gia đình. Người chồng chị hiện nay cũng là một người Việt Nam. Hai vợ chồng mở một tiệm ăn. Cả hai mời tôi có dịp sang chơi, sẽ đài thọ vé máy bay và nơi ăn chốn ở.

Tôi không biên thư trả lời. Tôi gọi điện thoại viễn liên chúc mừng chị. Tôi nói muốn đón các cháu sang Mỹ chơi. Chị hứa.

Đời sống ở Mỹ thật tiện nghi. Tôi đủ ăn đủ mặc và tôi giàu tự do. Tuy nhiên vào những buổi sáng cuối tuần, đi bách bộ trong khu công viên Mile Square Park ở Quận Cam, tôi như thấy mình đang trở lại thời sống với cha ở một vùng núi miền Trung. Buổi sáng sớm rừng còn đầy sương mù, gió thổi luồn qua những vòm cây lạnh. Trên những ngọn cây cao, tôi nghe tiếng chim kêu từng hồi buồn bã. Giẫm trên những ngọn cỏ ướt sương, bập bập điếu thuốc lá chưa kịp khô, tôi thấy mình già hẳn. Như giờ đây, gần bốn mươi năm sau tôi thấy tôi mới già bằng thuở đó.

Nguyễn Xuân Hoàng
California, Tháng Bảy, 1987
Biên tập lại tháng Mười Một, 2009

* Pasternak, Boris, An Essay in Autobiography, Collins & Harville Press, 1959

  Toàn bài viết (pdf)

                         

  Chân Dung Nguyễn Xuân Hoàng – Họa sĩ Võ Tá Đồng vẽ

 

TRANG TƯỞNG NIỆM CỰU GIÁO SƯ, NHÀ VĂN, NHÀ BÁO NGUYỄN XUÂN HOÀNG

Tài liệu tham khảo từ nhiều website, nhất là từ: http://damau.org/archives/author/nguyenxuanhoang ; http://www.ngo-quyen.org/p3631a3768/gioi-thieu-thu-quan-nguyen-xuan-hoang; https://sites.google.com/site/gsnguyenxuanhoang/ve-thay

                                                                 

      Xin gởi thêm tài liệu và ý kiến xây dựng về Phan Anh Dũng: dathphan1@gmail.com