Doc mua ha cua To Thuy Yen – Doan Xuan Thu

Ở đây, địa ngục chín tầng sâu
Cả giống nòi câm lặng gục đầu
Cắn chết hàm răng, ứa máu mắt
Chung xiềng nhưng chẳng dám nhìn nhau

Bước tới, chân không đè đá sắc
Vai trần chín rạn gánh oan khiên
Nước khe, cơm độn, thân tàn rạc
Sống chẳng khôn, cầu được thác thiêng

Xứ khổ, thêm chi mùa thảm khốc
Than ôi, trời đã bỏ rơi dân!
Nắng kim khí chảy, đá rạn nứt
Gió táp, rừng khô rụm, cát tràn

Sông hồ nẻ đáy, giếng vô vọng
Muông thú điên lầm lũi bỏ đàn
Dân làng lũ lượt kéo lên rú
Lùng sục đào khoai củ đã khan

Côn trùng kiệt sức lìa hang ổ
Lên chết thiêu trên mặt đất hừng
Ác điểu ngày đêm gào xáo xác
Cơ hồ cả thế giới lâm chung

Cây đa râu tóc già thiên cổ
Trụi lá, trơ cành, xương nám đen
Khiến lũ ma hoang hằng ẩn náu
Bỏ đi nhường chỗ cho chim kên

Cái chết tru rân giờ nguyệt tận…
Máu bung từ mỗi lỗ chân lông
Mọi người nghe chính mình kêu rú…
Liệu sáng mai còn ai nữa không?

Đám chủ mới, y trang xúng xính
Súng nghênh ngang, tiếng hét phàm phu
Xua trăm họ sá chi thân mạng
Lăn địa cầu ra khỏi lối xưa

Như tên phù thủy già điên loạn
Lịch sử lên cơn dữ bất thường
Treo ngược con đen trên lửa đỏ
Quật mồ thánh đế phi tang xương

Có gã hề cuồng ra giữa chợ
Hát ngao những đoạn sấm truyền xưa
Bao giờ trời nổi cơn nồm lớn
Minh chúa giong thuyền ra cố đô

Người mẹ trẻ buồn đôi mắt trũng
Thân gầy nhóm, tóc cháy, da cằn…
Địu con, một dúm thịt nhăn nhúm
Ra ruộng khê tìm mót cái ăn

Làng mạc giờ đây đã trống trơn…
Con dê, con chó cũng không còn
Người đi bỏ xác nơi bờ bụi
Miếu sạt, thần hoàng rũ héo hon

Ta khóc lẻ loi, cười một mình
Thu hình ẩn náu dưới tâm linh
Mắt chong kinh hãi đêm hư sử
Thân lõa lồ đau cháy khổ hình

Gõ lấy đầu mình như gõ cửa
Liên hồi kêu cứu giữa đêm khuya
Đầu ta như chiếc đầu laud cổ
Tiếng rỗng không khô khốc não nề

Ta thương vô kể mầm cây lụi
Con suối trinh nguyên chết cạn lòng
Thương bậc hiền nhân về động đá
Quyên sinh. Từ đó, hạc bay không…

Còn ở đâu miền xanh bóng cây
Để ta đến đó ngồi trưa nay
Dường như hơi mát trong vòm lá
Có chất men làm ta thoảng say

Còn ở đâu làn nước giếng khơi
Để ta đến uống một hơi dài
Thỏa cơn khát nhớ như điên dại…
Nước giếng quê nhà mát ngọt thay!

Ở đâu còn ngọn suối thần tiên
Đã chảy đi từ tuổi dịu hiền
Dàn khúc trường ca xanh bất tận
Còn nghe vang vọng cuối trời quên

Ở đâu còn bóng chim huyền diệu
Hót gọi tiền thân ta tái sinh
Hót gọi vô vàn mơ ước cũ
Bay lên trời lớn, đọ mông mênh

Ở đâu còn cụm mây hư ảo
Bay tự ngàn năm trắng cổ thi
Tưởng tượng ta gom vào hiện kiếp
Trọn luân hồi ấy, một lần đi

Ở đâu còn trận gió thênh thang
Thổi mới trần gian mùa rộn ràng
Tiếng biển lời rừng nao nức giục
Ta về cho kịp độ xuân sang

Mùa hè, em bới tóc lên cao
Môi ửng son và má chớm đào
Ngày nghỉ về vườn thăm họ ngoại
Lòng như con sáo trong ca dao

Trời cẩm thạch ngời, bông mía trắng
Ngoài đồng dậy tiếng trẻ thơ reo
Con chuồn chuồn đó thong dong quá
Mùa hết, còn bay dõi dõi theo…

Em mặc bà ba ra bến nước
Đưa tay khỏa nhẹ nhớ thương nào
Đến nay, lòng ấy còn xao gợn…
Mùa trái cây nào hái tặng nhau

Đỏ mắt đăm đăm, ngày lại ngày…
Bao giờ mây sẽ chuyển về đây?
Bao giờ trời sẽ mưa như xối
Hạnh phúc chan hòa lên cỏ cây?

Bao giờ, cho đến bao giờ nữa
Em gánh vui về họp chợ đông
Lòng ngát như hoa còn kịp buổi
Áo chưa người giữ để xin buông?

Mưa ôm choàng đất khóc thương mong
Mưa báo tin vui chạy sáng đồng
Mưa đuổi bắt gào reo hớn hở
Mưa mừng trẩy hội nước trăm sông

Ông lão mù lòa ra trước hiên
Nghe mưa cũng ngước mắt nhìn lên
Má nhăn bỗng sáng hai hàng lệ…
Ông hiểu ra rồi lẽ biến thiên

Ta nghe cánh cửa lâu đời sập
Những xích xiềng han rỉ đứt tung
Sấm động một trời u uất vỡ
Muôn nghìn năm thế giới còn rung

Tất cả rồi đây sẽ đổi thay
Đổi thay từ quặng mỏ, mầm cây
Đổi thay cả mặt người tăm tối
Những bớt chàm xưa được xóa trôi

Ta nhặt từng trang sách rách toang
Đứa ngu đã xé vứt ra đường
Ta gom từng hạt cây luân lạc
Mong mỏi gầy lên một địa đàng

Đi nào, chú bé của ta ơi
Đem tấm lòng trang trải với đời
Yêu cả con sâu cùng cái kiến
Thả hồn vào cỏ lá bung phơi

Bao giờ ta trở về dương thế
Sống đáng vinh danh lại kiếp người
Để thấy đường đi muôn lối rộng
Dập dìu những chéo áo reo vui?

Quê ta đâu cũng là sông nước
Phơi phới triều lên bát ngát bờ
Cuốn tiếng đàn khuya trên bến bắc
Trải tình về lại lạch nguồn xưa

Biển khơi mở cửa như đêm tối
Cung hiến bao nhiêu mộng dị thường
Cho thấy cuộc đời sinh động mãi
Lòng người rộng ngợp mấy không gian

Đêm ta để cửa chong đèn đợi
Người khách xa nào sẽ đến đây?
Ta đợi vì nghe ngoài ngõ trúc
Có con chim khách kêu chiều nay

Đêm bạc hà thơm nghe cổ tích
Muôn sao trẻ nhỏ đùa rì rào
Trong vườn, cây cỏ dường linh hiển
Đã hiện thành người đi dưới sao

Dỗ cho ta giấc ngủ bình yên
Đêm tựa bàn tay rất đỗi hiền
Kéo tấm chăn thêu màu sặc sỡ
Đắp lên ta tuổi cũ hồn nhiên

Nhà ta biết có còn nguyên vẹn?
Tái hợp nào không nhuốm ngậm ngùi?
Người chết cũng xin tề tựu đủ
Tình dù u hiển chẳng đang nguôi

Nhóm lên bếp lửa đêm trừ tịch
Hát với nhau vài điệu hát vui
Nâng chén uống mừng ta sống sót…
Chợt nghe nồng lệ tự đâu rơi

Hy vọng lên từ đất dịu hòa
Con chim bay kiếm lại trời xa
Em về vườn cũ thăm cây trái
Gặp tuổi lưng chừng khóc giữa hoa

Lòng ta nay vẫn lòng ta trước
Vẫn chảy về con nước thuở nào
Sợi tóc mai kia dù có rụng
Ba sinh còn để nhớ cho nhau

Đất trời không có chi còn mất
Ta bước ra thân đón tuổi già
Trước mắt, ta còn trăm thứ việc:
Sửa nhà, chăm sóc lại vườn hoa…

Những ai hôm trước từng gây tội
Hãy lắng tâm tha lấy lỗi mình
Tự tại, thời gian chôn chính nó
Đời lên lại mãi tựa bình minh

Sẽ lo chẳng những cho người sống
Lo cả cho người khuất mặt kia
Quen lạ bạn thù chung giấc ngủ
Chung lời thương tiếc khóc trên bia

Con ta giờ đã làm cha mẹ
Lớp lớp truyền lưu máu một dòng
Không cạn nguồn tình thiên bẩm ấy
Đời đời nhân loại sống như sông

Nghe này ba tiếng gõ sân khấu
Màn mở, người tham dự đứng lên…
Thế giới, hãy còn thơ trẻ nhé
Bắt đầu câu chuyện lớn thần tiên

Nghệ Tĩnh, 1979

***

Mùa Hạn của Tô Thùy Yên viết năm 1979 ở Nghệ Tĩnh.

Bài thơ thất ngôn dài gồm 47 khổ – 188 câu – một giai đoạn hậu chiến đau thương, tàn khốc và oan khiên nhất lịch sử dân tộc Việt Nam.

Mùa hạn? Hạn là không có nước!

Mùa là bắt đầu một thời. Mùa hạn là mùa không nước, thời mất nước!

“Ở đây, địa ngục chín tầng sâu,
Cả giống nòi câm lặng gục đầu”

Ở đây, địa ngục chín tầng sâu. Câu thơ làm chúng ta liên tưởng đến nhà văn Alexander Solzhenitsyn, giải Nobel văn học 1970 với tác phẩm với tác phẩm “Vòng đầu địa ngục” (The First Circle) ghi lại nỗi kinh hoàng tại các trại lao động khổ sai thời độc tài Joseph Stalin.

Solzhenitsyn và Tô Thuỳ Yên. Trại Gulag ở Siberia và những trại tù cải tạo của CSBV không khác gì nhau!

Trại tù cải tạo của CSBV do Lê Duẩn lập nên từ Nam tới Bắc là bản sao trại Gulag của Stalin. Lê Duẩn là bản sao của Stalin.

Còn trong Mùa hạn “Ở đây, địa ngục chín tầng sâu.” Ở đây là ở đâu ? Là Nghệ Tỉnh, là Nghệ An và Hà Tỉnh hoàn cảnh tù đày của Tô Thuỳ Yên và các chiến hữu ngày cũ của ông .

Mùa hạn ở đây khiến ta nghĩ không chỉ riêng Hà Tĩnh mà là mùa khô hạn vĩnh cửu trên quê hương đất nước. Phận tù là thân phận khốn cùng của cả một dân tộc.

Mùa hạn không còn nước nữa là đó, người phải “Lùng sục đào khoai củ đã khan”

Trong lúc Ác điểu ngày đêm gào xáo xác. Lũ ma hoang, chim kên ăn xác chết của người dân.

“Đám chủ mới y trang xúng xính. Súng nghênh ngang, tiếng hét phàm phu”

Nghệ Tỉnh có Nghệ An và Hà Tỉnh, có tên phù thủy già điên loạn. Những hư tưởng cuồng điên, chẳng qua chỉ là trò đồng bóng điều khiển lũ âm binh dư thừa dã man tàn hại.

(Tô Thuỳ Yên ám chỉ Hồ Chí Minh. Vì Hồ Chí Minh quê ở Nam Đàn Nghệ An)

“Như tên phù thủy già điên loạn. Lịch sử lên cơn dữ bất thường. Treo ngược con đen trên lửa đỏ. Quật mồ thánh đế phi tang xương.”

Trong cùng cực đau thương và tràn đầy uất nghẹn, Tô Thuỳ Yên nghĩ về những hình bóng cũ cùng đất nước miền Nam yêu dấu.

Để tưởng ra: “Em mặc bà ba ra bến nước. Đưa tay khỏa nhẹ nhớ thương nào”

Giờ là thân tù ngục! Tô Thuỳ Yên mơ một ngày đất nước tự do!

Ta nghe cánh cửa lâu đời sập. Những xích xiềng han rỉ đứt tung,

Để “Đổi thay cả mặt người tăm tối. Những bớt chàm xưa được xóa trôi.”

Để cuối cùng dù đất nước thân yêu đang vật vã trong mùa hạn vì không có nước. Tô Thuỳ Yên nói với kẻ đày ải mình: Những ai hôm trước từng gây tội. Hãy lắng tâm tha lỗi lấy mình.

Dẫu đất nước thân yêu đang vật vã trong mùa hạn vì không có nước.

Dẫu “Xứ khổ, thêm chi mùa thảm khốc. Than ôi, trời đã bỏ rơi dân”

Tô Thuỳ Yên vẫn không tuyệt vọng bởi “Quê ta đâu cũng là sông nước.

Phơi phới triều lên bát ngát bờ”

Mùa Hạn là một trong những bài thơ hay của Tô Thuỳ Yên.

Xin cám ơn ông!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.