Mot not nhac cung la thay Tuong niem thay Nguyen Huu Ba – Tieu De

Thầy Nguyễn Hữu Ba

Âm nhạc là một môn học với hệ số thấp (hệ số một) nhưng lại là một môn học bắt buộc, cần thiết của học trò Petrus Ký Đệ Nhất Cấp.

Trường Petrus Ký của chúng ta đã có những thầy cô dạy nhạc nổi tiếng hoặc có liên hệ với lịch sử âm nhạc Việt Nam như Lưu Hữu Phước, Trần Văn Khê, Phạm Mạnh Cương, Hoàng Lang, v.v. nhưng học trò Petrus Ký vào hai thập niên 60-70 luôn nhớ đến thầy Nguyễn Hữu Ba, một trong những thầy dạy âm nhạc tại Petrus Ký, và những nhạc phẩm tiền chiến mà thầy đã sáng tác như Quảng Đường Mai, Lửa Rừng Đêm, Thu Khói Lửa, v.v., cũng như những bản nhạc dân ca quan họ mà thầy đã truyền dạy cho học trò Petrus Ký.

Khi nghe bài hát Trống Cơm:

Tình bằng có cái trống cơm
Khen ai khéo vỗ
Ố mấy bông mà nên bông
Ố mấy bông mà nên bông
Một đàn tang tình con sít
Một đàn tang tình con sít
Ố mấy lội, lội, lội sông
Ố mấy đi tìm, em nhớ thương ai
Đôi con mắt ố mấy lim dim
Đôi con mắt ố mấy lim dim

Một bầy tang tình con nhện
Ô ố ô, ô mấy giăng tơ
Giăng tơ ô mấy đi tìm, em nhớ thương ai
Duyên nợ khách tang bồng
Duyên nợ khách tang bồng…

hoặc Lý Cây Đa:

Trèo lên quan dốc
Ngồi gốc ối a cây đa
Rằng tôi lý ối a cây đa
Ai xui ôi à tính tang tình rằng
Cho cô mình gặp
Xem hội cái đêm trăng rằm
Rằng tôi lý ối a cây đa

Chẻ tre đan nón/Đan nón ối a ba tầm
Rằng tôi lý ối tầm ba tầm
Ai đem ôi à tính tang tình rằng
Cho cô mình đội
Xem hội cái đêm trăng rằm
Rằng tôi lý ối a sáng trăng

Vải nâu may áo
Kìa áo ối a năm tà
Rằng tôi lý ối viền năm tà
Ai đem ôi à tính tang tình rằng
Cho anh chàng mặc
Xem hội cái đêm trăng rằm
Rằng tôi lý ối a sáng trăng

tôi lại nhớ thầy.

Theo bài viết “Chân dung: Nguyễn Hữu Ba, (Trí thức Tiêu biểu Sài Gòn)” của Phạm Anh Dũng, tên thật của thầy Nguyễn Hữu Ba là Nguyễn Hữu Tửu, và thầy cũng dùng bút hiệu Đạo Tâm. Thầy Nguyễn Hữu Ba sinh năm 1914 tại làng Đạo Đầu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Lúc học tại Petrus Ký, không biết sao tôi lại nghĩ thầy là người gốc Quảng Nam.

Thầy Nguyễn Hữu Ba chơi đàn nhị (miền Nam gọi là đàn cò).

Cũng theo bài viết trên, thầy Ba đã từ Quảng Trị vào Huế học. Thầy thích nhạc khi còn thơ và biết chơi đàn nhị lúc 8 tuổi. Năm 16 tuổi (1930), thầy đã hòa nhạc cổ truyền vào dĩa hát Beka của Đức phát hành rộng rãi tại Việt Nam lúc đó. Năm 1932, thầy áp dụng hệ thống ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc Việt Nam được giới âm nhạc tại Huế rất tán thưởng. Năm 1938, khi vừa 24 tuổi, thầy đã đoạt giải nhất đàn nhị huyền tại Hội chợ Huế, được triều đình Huế tặng thưởng Huy chương Long Bội Tinh và vinh tặng Hàn Lâm Viện Đãi Chiếu vào năm 1950.

Thầy Ba mất ngày 14-7-1997, thọ 83 tuổi.

Các tác phẩm chính của thầy có thể được liệt kê như sau:

– Tự học đàn nguyệt (tự xuất bản, 1940);
– Bản đàn tranh (cổ nhạc), Viện Tỳ Bà xuất bản, 1951;
– Vài thiên kiến về âm nhạc (lý thuyết), Viện Tỳ Bà xuất bản, 1950;
Nhạc pháp Quốc học, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1960;
Bản đàn tranh, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
Đàn Tỳ Bà, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
Đàn độc huyền, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
Đàn nhị huyền, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
Bài ca Huế, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
Phương pháp học đàn tranh, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
Dân ca Việt Nam, BQGGD xuất bản, 1961;
Dĩa nhạc Việt Nam I, UNESCO thu âm và phát hành, 1969.

Loại tân nhạc:

– Quãng đường mai, tự xuất bản, 1940;
Xuân xuân, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1947;
Lửa rừng đêm, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1947;
Thu khói lửa, Tinh Hoa xuất bản, 1950;
Tiếng hát quân Nam, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1950;
Ánh dương trời Nam, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1951.

Học trò Petrus Ký của hai thập niên 60-70 chỉ nhớ về thầy Nguyễn Hữu Ba với hình ảnh ông thầy gần lục tuần đeo kính cận xệ xuống sống mũi, áo quần luôn tươm tất, quần đậm màu và áo sơ mi trắng ngắn tay ủi thẳng tắp. Thầy Nguyễn Hữu Ba có vẻ nghiêm túc, điềm đạm, ít nói, hiếm cười, nhưng không có nghĩa là thầy lạnh nhạt với học trò. Bên trong thầy là cả một nhiệt tình cho giới trẻ và âm nhạc. Thầy đi dạy lúc nào cũng một tay xách cây đàn violin và tay kia là cái cặp táp đựng nhạc lý. Cây đàn violin mà thầy Nguyễn Hữu Ba dùng để dạy học là cây đàn mà thầy rất yêu quý và ít cho ai sờ đến. Hôm nào vui, thầy mang theo từ nhà các đàn tranh, đàn cò và độc huyền cầm vào trường biểu diễn những điệu nhạc cổ truyền Việt Nam cho học trò của thầy. Những lúc ấy, thầy như quyện hồn vào từng nốt nhạc.

Trường Petrus Ký, mặc dầu là một trong những trường nổi tiếng nhất Sài Gòn hay Việt Nam vào các thập niên ấy, tuy nhiên trường không có nhiều học cụ dùng trong việc giảng dạy, nhất là nhạc cụ, như các trường học tại Hoa Kỳ hiện tại.

Thầy Ba đang dạy bọn học trò tập đàn tranh [Nguồn: petrusky.net]

Trong trường Petrus Ký, nếu tôi không lầm, có một cây đàn piano mà bây giờ tôi không còn nhớ nằm ở đâu. Dĩ nhiên là bọn học trò Petrus Ký không học đánh đàn piano. Học âm nhạc mà không có nhạc cụ, không đàn, không trống, không kèn khiến việc học âm nhạc hơi buồn chán. Nhạc cụ cá nhân cần thiết và duy nhất của mỗi đứa học trò Petrus Ký năm đệ thất là cây sáo nhựa. Thầy Nguyễn Hữu Ba đã dạy chúng tôi thổi các nốt sáo giản dị, nhưng may mắn là thầy không thử tài thổi sáo của bọn học trò Petrus Ký trong các kỳ thi. Nếu công chúa Mỵ Nương có đi ngang Petrus Ký và có dịp nghe các chàng Trương Chi Petrus Ký thổi sáo thì chắc cô tình nguyện sống độc thân mãn kiếp. Thiếu nhạc cụ, vì thế chương trình âm nhạc mà chúng tôi theo học bốn năm bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp tại Petrus Ký chú trọng nhiều về nhạc lý và tập hát.

Lớp dùng để dạy âm nhạc tại Petrus Ký cũng khá đặc biệt so với những lớp học khác vì các dãy bàn ghế được xây từ thấp lên cao để từ phía dưới thấy có thể nhìn hết cả lớp. Trong giờ học âm nhạc, thầy Nguyễn Hữu Ba thường bắt học trò đọc những nốt nhạc và đánh nhịp 2-4 (“Một xuống, một lên!”), hoặc 3-4 (“Một, hai, ba!” theo ba cạnh của tam giác có một góc vuông), và 4-4 (tức C: “Một, hai, ba, bốn!” theo hình số 8 có 4 góc nhọn) theo đúng âm giai. Đó là một cực hình cho nhiều học sinh, kể cả người viết. Có người bạn đã cho cảm tưởng về thầy – bạn rất ngại cái nhìn qua vành kính hơi nghiêm khắc của thầy khi bọn học trò không đọc đúng nốt nhạc hoặc cho âm giai sai. Nói là bọn học trò Petrus Ký sợ thầy Nguyễn Hữu Ba vì thầy nghiêm tính cũng không đúng hẳn vì thầy chẳng bao giờ gắt gõng với học trò dù thầy có hơi kém vui. Tuy nhiên cái ngại của bọn học trò với ánh nhìn của thầy cũng có thể do sự tự thất vọng với chính mình đã không hấp thụ được những gì thầy đã tốn công dạy bảo.

Ngày xưa khi còn đi học, tôi cũng có những ý nghĩ tương tự như đám bạn bè của tôi, nhưng giờ quá năm mươi, có gia đình, con cái, tôi hiểu thêm một tí về thầy. Tôi đang có nỗi lo âu rằng một ngày nào đó con cháu tôi sẽ quên đi hoặc không biết đến những giá trị đạo đức, luân thường mà tôi hoài bão. Có lẽ, thầy Nguyễn Hữu Ba cũng có nỗi lo âu tương tự rằng một ngày nào đó kho tàng âm nhạc cổ truyền Việt Nam sẽ mai một khi không còn ai chăm sóc nó. Vì thế thầy đã cố tìm một vài viên ngọc trong những hạt sỏi trong đám học sinh Petrus Ký. Rất tiếc chúng tôi quá thơ ngây và vô tri để hiểu những hoài vọng của thầy.

Trong lúc dạy học tại Petrus Ký vào cuối thập niên 60, thầy Nguyễn Hữu Ba đã thành lập đoàn Dân Ca Ba Miền quy tụ những học sinh Petrus Ký. Thầy khuyến khích chúng tôi ghi tên tham dự mặc dầu nhiều đứa không biết một chút về nhạc lý, nhạc cụ hoặc có giọng. Học trò nào có thiện chí đều được nhận.

Đoàn Dân Ca Ba Miền đã mang nhiều danh thơm, tiếng tốt cho trường qua những buổi trình diễn tại trường Quốc Gia Âm Nhạc, Rạp Quốc Thanh, Quốc Gia Sư Phạm, v.v.

Khi Đoàn Dân Ca Ba Miền được thành lập, thầy Nguyễn Hữu Ba chọn Trần Văn Cảnh (Thất 7 – Tứ 7) làm ca sĩ chánh của đoàn. Người viết là bạn cùng lớp cũng là đoàn viên của đoàn Dân Ca Ba Miền. Thầy Ba khuyến khích Trần Văn Cảnh và tôi nộp đơn ghi danh thi vào trường Quốc Gia Âm Nhạc. Thầy dẫn hai đứa qua thăm trường Quốc Gia Âm Nhạc, nằm sau lưng vườn Tao Đàn. Tôi viện cớ không có thì giờ nên không nộp đơn nhưng thực ra nếu thầy hỏi nốt nhạc Đồ Rê Mi nằm ở đâu trên tờ nhạc, tôi cũng không biết. Tôi không biết Cảnh có theo học Quốc Gia Âm Nhạc hay không và bây giờ ra sao vì bạn rời trường sau 1970.

Ngoại trừ việc dạy âm nhạc tại Petrus Ký và trường Quốc Gia Âm Nhạc tại Sài Gòn, thầy Nguyễn Hữu Ba đã dành nhiều thì giờ để sáng tác, bảo tồn và phát huy cổ nhạc Việt Nam tại tư gia toạ lạc trên đường Công Lý mà thầy lấy tên là Tỳ Bà Trang. Một trong những cộng tác viên với thầy Nguyễn Hữu Ba trong chương trình bảo tồn và phát huy nền cổ nhạc Việt Nam là nhạc sĩ Trần Văn Khê (cựu học sinh Petrus Ký hiện cư ngụ tại Pháp).

Học trò Petrus Ký khi nghe:

Bạn cùng ta, nắm tay múa ca
Cho đời bừng sống dưới màn sương đông
Máu nồng thêm hăng, bên lửa đêm bập bùng
Tùng tùng tính tùng
Bình bùng bính bùng, tang tình tang tình tính…

lại nhớ về thầy và bài hát Lửa Rừng Đêm viết theo điệu Rumba do thầy sáng tác, bài nhạc kêu gọi lòng yêu nước, chí quật cường của thanh niên Việt Nam.

Hôm nay tôi muốn cùng các bạn nhớ lại thầy Nguyễn Hữu Ba dưới một hình ảnh khác quen thuộc hơn, vui nhộn hơn về thầy mà ít người bên ngoài Petrus Ký hay biết. Một ngày, thầy Ba nhìn bọn mình ngồi buồn nản, để gây phấn khởi, thầy đã dạy chúng ta bài dân ca mộc mạc sau đây, không biết bạn còn có nhớ?

Chiều nay em đi câu cá,
Và đem giỏ theo bắt cua
Làm sao cho được kha khá
Về cho má nấu canh chua
Ố kìa con cua, ố kìa con cua
Mình đừng la lối, nó chui xuống hang.

Thỉnh thoảng, tôi vẫn vô tình ngâm nga bài dân ca này. Và mỗi lần khi tôi nghe tiếng vợ con tôi phá lên cười khi nghe tôi hát ngô nghê, tôi lại nhớ về thầy Nguyễn Hữu Ba thật nhiều.

Tiểu Đệ (viết vào dịp Xuân Ất Dậu – February 2, 2005. Bài viết được góp ý bởi Trần Hữu Cường và Ngô Minh Hoàng)

Phụ chú:

Tỳ Bà Trang tại Huế

Cuối tháng 6 năm 2005 nhân dịp về thăm Việt Nam, tôi có ghé thăm Huế. Trên đường từ khách sạn ra phi trường, trong câu chuyện bâng quơ với người hướng dẫn viên du lịch, tôi vô tình nhắc về thầy. Ngẫu nhiên, người hướng dẫn viên biết về gia đình thầy và dặn người tài xế chạy qua Tỳ Bà Trang (nơi gia đình thầy gìn giữ những kỷ vật của thầy Nguyễn Hữu Ba) cho tôi biết. Tỳ Bà Trang không cách xa Nội Thành là bao. Rất tiếc vì sợ trễ chuyến bay nội địa nên tôi đã không dừng lại thắp nén hương tưởng niệm thầy.

Hai75 kể chuyện đi chúc Tết thầy Nguyễn Hữu Ba:

Hôm chúng tôi rủ nhau đi chúc Tết thầy, không hiểu sao chỉ đi đến nhà thầy Nguyễn Hữu Ba. Có lẽ vì chúng tôi ở trong ban Dân ca của thầy, gồm cả mấy cô học sinh lớp bán công buổi tối được thầy tuyển lên tập ca buổi sáng. Năm lớp 10 được xem là năm nhẹ nhàng nhất của Đệ nhị cấp, có lẽ vì vậy nên chúng tôi tham dự cả hai ban Dân ca của thầy Nguyễn Hữu Ba và ban tân nhạc của thầy Phạm Mạnh Cương. Vào dịp Tết, thầy Phạm Mạnh Cương đã bận bù đầu với gian hàng hoa trong thương xá Tax, chương trình nhạc Phạm Mạnh Cương trên truyền hình, lại thêm chạy “số” và biết bao bạn bè trong giới âm nhạc, nên chúng tôi chỉ rủ nhau đến thăm thầy Nguyễn Hữu Ba.

Khi đến nơi cô ra tiếp, vào báo cho thầy biết. Thầy đang mặc áo bà ba trắng, bước ra phòng khách chào chúng tôi rồi bước vào trong. Cô đem nước ra, chúng tôi ngồi chơi một lúc, mới thấy thầy bước ra, áo dài trắng bên trong, áo dài đen bên ngoài, thật trịnh trọng dù chỉ để tiếp mấy đứa học trò nhỏ. Thầy thân mật ngồi uống trà nói chuyện với chúng tôi cả tiếng về âm nhạc, về nghệ thuật điêu khắc của một người quen, có thể khắc những chữ li ti như kiến trên phôi gỗ nhỏ.

Đã học thầy từ năm đệ thất (lớp 6), hôm thi lục cá nguyệt thầy cho lên hát rồi chấm điểm. Tôi là thằng lớn trước tuổi, mới lớp 6 đã bể giọng. Hôm đó hát bài: “Chồng chài là chài vợ lưới, Dzô!” thì đột nhiên bể giọng, hát chữ Dzô thành “Dzố”, có dấu sắc, giọng thanh như con gái, cả lớp cười ầm. Nhiều đứa không dám cười ra tiếng, chỉ mím môi cười Ục! Ục! vì thầy cho hai thằng trưởng và phó ban Trật tự lên đứng trước lớp, coi đứa nào cười thì chỉ ra cho thầy phạt, nhưng hai thằng này nghe hát cũng nín cười không nổi (dĩ nhiên là cũng cười ục ục không ra tiếng!). Mỗi lần thi hát trong lớp là cười muốn bể bụng. Về sau hát những bài Trống Cơm và Lên Đường (?) của thầy, tới những đoạn đánh trống, Bùng bùng bính bùng! Tùng tùng tính tung, tang tính tang tình tính! Ta người chiến binh, ra đời chiến chinh, hiến thân vì nước… cả lớp vừa hát vừa đập bàn rầm rầm như đánh trống. Thầy giám thị ở bên ngoài chạy tới, nhìn vào thấy thầy Ba đang ngồi tỉnh bơ, nên bỏ đi không nói gì!

Đến năm lớp 9, rồi lớp 10, gặp thầy tổ chức ban Dân ca chúng tôi tham gia liền. Lại hát bài, Chồng chài là chài vợ lưới, Dzô! Dzô khoàn dzô hầy!… nhưng lần này không bể giọng nữa, và hát chung với mấy “em” lớp đêm nên có hứng hơn nhiều. Năm lớp 9 (1971-1972), chúng tôi lên truyền hình trình diễn chung với trường nữ Lê Văn Duyệt, có Sơn Ca đang học lớp 10, khi đó là ngôi sao sáng của Lê Văn Duyệt. Tuổi lớp 9 hiền như bụt, đi tập văn nghệ chung với mấy em Lê Văn Duyệt đẹp như tiên, thơm như mít mà chỉ chọc ghẹo vớ vẩn rồi mạnh ai về trường nấy, không xin địa chỉ hay số phone (vì khi đó chẳng nhà nào có phone). Năm đó tôi ra tranh Phó tổng thư ký buổi chiều với (hình như là) Minh Thiện cũng lớp 9, bị liên danh của Dương Minh Dũng đánh bại. Đến gần nghỉ hè Dương Minh Dũng kêu tôi đến nói chuyện, yêu cầu chúng tôi ở lại trường làm “chất xúc tác” để tiếp tục những hoạt động trong trường.

Năm lớp 10 là năm trường tổ chức ngày Petrus Ký 6 tháng 12, có Thanh Lan, Khánh Ly… đến trình diễn. Chúng tôi cũng có cơ hội hát bài Trống Cơm cho ban vũ lớp đêm trình diễn, một nhóm hát, một nhóm đập trống. Đến lúc lên cao tôi lại… bể giọng nữa, từ đó bỏ giấc mơ làm ca sĩ. Nhưng về sau qua Mỹ lại đi hát tài tử cho mấy ban nhạc tài tử, có lời thì được chia vài chục đô, không có lời thì cũng được nhảy đầm khỏi trả tiền vào cửa!

Vậy mà thầy Nguyễn Hữu Ba lúc nào cũng khen chúng tôi, bảo rằng tuy hát không bằng ca sĩ chuyên nghiệp nhưng lại có nét hồn nhiên, giọng thơ ngây nên hay hơn ca sĩ chuyên nghiệp (!!) chỉ biết hát kiếm tiền!! Thầy chỉ dạy cặn kẽ cách gõ nhịp, cách hát nhịp chối, phân tích từng khúc nhạc, nghe thầy giảng xong quả thật có lúc hát cũng rất có hồn, có lẽ hơn cả ca sĩ chuyên nghiệp (??) Có lần thầy vui vẻ kể chuyện xưa, khi thành danh về thăm làng cũ, người làng rất quý mến thầy. Một anh chuyên nghề ăn trộm cũng hết lòng mời thầy đến nhà ăn cơm. Thầy tỏ ý ái ngại, vì anh này không có tiền mà cũng làm gà vịt linh đình để đãi thầy, lại mời đông người đến dự. Anh trả lời: “Thầy đừng lo, gà vịt này là do em ăn trộm trong làng chứ không phải của em!”

Thoáng một cái đã hơn 30 năm, nhìn lại quả thật chúng tôi có duyên với thầy Ba, vị thầy lúc nào cũng ôn tồn, trịnh trọng, nói chuyện từ tốn, ăn mặc lịch sự, theo đúng phong cách một nhà nho, một nhạc sĩ nhiệt tâm suốt đời phụng sự cho âm nhạc. Thầy có thể ra ngoài kiếm rất nhiều tiền, nhưng chỉ thích lập Ban Dân Ca cho học sinh tập hát. Có lần thầy mời một cô giáo người Do Thái, tướng đẹp và cao, đến tập vũ cho các nữ sinh lớp đêm lên tập vũ buổi sáng. Cô này đến chờ không gặp thầy, bực bội càu nhàu, thầy Minh giám học phải đến xin lỗi. Hình như thầy Minh nói tiếng Tây với cô, vì chúng tôi học Anh Văn mà chẳng hiểu thầy nói gì, chỉ thấy thầy phải ngước đầu nhìn lên cao nói chuyện với cô Do Thái.

Rất tiếc những năm sau này chúng tôi không còn dịp gặp thầy Ba, về sau nghe thầy đã qua đời. Dù ở nơi đâu, những nhạc sĩ tận tụy suốt đời hiến mình cho nghệ thuật như thầy là tài nguyên, là gia sản hiếm quý cho đất nước. Thắp nén hương lòng, xin cầu nguyện thầy được hạnh phúc trong vĩnh cửu… và tiếp tục làm âm nhạc.

=)(=

Tưởng Nhớ…

các thầy cô và cựu nhân viên trường đã mãn phần trong khi tập bài viết được thực hiện

  • Thầy Phạm Văn Ngôn (28.1.2010) tại Nam California
  • Cô Mai Trần Ngọc Tiếng (20.1.2010) tại Việt Nam
  • Thầy Quách Thanh Trung (30.12.2009) tại Việt Nam
  • Bác Nguyễn Văn Hôm (29.7.2009) tại Việt Nam
  • Thầy Đặng Công Hầu (9.4.2009) tại Việt Nam
  • Thầy Trần Châu Hồ (8.1.2009) tại Việt Nam
  • Thầy Vũ Ký (14.11.2008) tại Bỉ quốc
  • Thầy Nguyễn Gia Tốn (17-4-2008) tại Florida
  • Cô Lâm Thị Dung (7-3-2008) tại Montréal
  • Thầy Trần Văn Tiển (28.4.2007) tại Việt Nam
  • Thầy Trần Quang Nhàn (4.12.2004) tại Việt Nam
  • Cô Lâm Thị Cúc (3.3.2004) tại Đức

Luôn nhớ các thầy cô.