Một Chút Ngậm Ngùi – Tưởng Nhớ thầy Trần văn Thử – Vị Giáo sư Toán “Hiền Hòa” và cựu Hiệu Trưởng Petrus Ký 1966 – 1969
Nguồn: Đặc san “Tạ Ơn Thầy, Nhớ Ơn Cô” – Học trò Petrus Ký
Một phương trình ẩn số đã có lời giải sau 36 năm?
Petrus Ký 65-72
Thân tặng Nguyễn Đăng Khoa (Petrus Ký 65-72, Lyon) và bác sĩ Trần Minh Yến, con trai thầy
Thầy Trần văn Thử [Nguồn: anh Trần Minh Yến]
Khi bắt đầu ngồi xuống viết bài tưởng nhớ về thầy Trần văn Thử, cựu Hiệu Trưởng của Petrus Ký năm 1966 – 1969, tôi định viết thật giản dị để gởi tặng riêng cho Nguyễn Đăng Khoa, người bạn đồng niên nhưng khác lớp với tôi tại Petrus Ký.
Khoa vào Petrus Ký năm cuối (lớp 12), niên khóa 71 – 72. Khoa chẳng những học giỏi, lại là một trong những cầu thủ túc cầu của trường. Tôi hoạt động trong ban Đại Diện Học Sinh, nhưng hai đứa chỉ biết và quen nhau khi qua đến Perugia, Ý Đại Lợi. Trong một câu chuyện tình cờ 5, 6 năm về trước, Khoa mới thổ lộ cho tôi biết – thầy hiệu trưởng Nguyễn văn Thử là dượng của Khoa.
Tôi may mắn vẫn còn giữ liên lạc với tất cả các vị cựu Hiệu Trưởng trong bảy năm theo học tại Petrus Ký (các thầy Nguyễn Thanh Liêm, Trần Ngọc Thái, Trần văn Nhơn và Bùi Vĩnh Lập) nhưng ký ức về thầy Trần văn Thử thì lại rất nghèo nàn vì tôi không có học với thầy. Khi thầy Thử làm Hiệu Trưởng tại trường vào các năm 1966 cho đến 1969, tôi còn theo học bậc Đệ Nhất Cấp và cũng như đa số các học sinh các lớp dưới, chúng tôi không biết hay chú ý về ban giám hiệu của trường. Khi thấy Thử làm Hiệu Trưởng thì thầy Trần văn Nhơn là Giám Học, thầy Bùi Vĩnh Lập là Phụ Tá Giám Học và thầy Tăng văn Chương là Tổng Giám Thị.
Nghe nói thầy Thử đã mất tại Việt Nam. Tôi cảm thấy có gì thiêu thiếu nếu tập bài viết Tạ Ơn Thầy, Nhớ Ơn Cô không có bài viết về thầy Thử. Muốn viết bài để tưởng nhớ thầy mà lại không biết về thầy, quả thật nan giải vì thế tôi đã phải gởi E-mail ra hỏi thăm các thầy cô Petrus Ký và bạn bè tại hải ngoại về thầy Thử.
Hồ Lịch tại Sydney lên tiếng đầu tiên:
“Thầy Trần Văn Thử hiền từ. Lịch đã đá bóng chung với Trần văn Hậu là con thấy Thử tại sân Lam Sơn sau trường.”
Phụ chú:
Lịch ơi, Nguyễn Đăng Khoa đã xác định những gì Lịch viết riêng cho S. Anh Trần Phước Hậu (chứ không phải Trần văn Hậu), là người con thứ chín của thầy Thứ, giờ đã mãn phần và chờ bọn mình để “đá bóng trên trời”.
Anh LBT trong Đặc San Petrus Ký Úc Châu năm 2002-2003 đã nhớ lại một kỷ niệm với thầy Thử như sau:
“Học trò Petrus Ký thường gọi thầy Thử là “papa Thử”, thầy có một đặc điểm là khi nói chuyện hai hàm răng không hở nhau. Thầy rất khó tánh nhưng rất thương học trò. Chúng tôi bắt đầu học tân đại số (algèbre moderne), không biết tại sao mà lúc đó tôi rất khổ sở với môn học mới này. Một hôm thầy kêu tôi lên bảng để làm bài. Tôi cố gắng hết sức nhưng hai ba lần đều trật cả. Càng trật tôi càng lúng túng và không còn nhớ gì cả. Thầy đã cho tôi một con số không cộng thêm một cái khung hình vuông. Tôi tái cả mặt, như vậy là chúa nhật tới tôi bị cấm túc. Tôi vừa mắc cở với các bạn vừa lo sợ không biết phải nói với ba tôi như thế nào đây. Có lẽ phải bị một trận đòn, hay ít nhứt cũng bị la mắng. Sau nhiều ngày đắn đo suy nghĩ tôi đã tìm gặp riêng thấy và nhờ thầy chỉ dạy dùm. Nhờ sự tận tâm của thầy mà sau này tôi thấy môn tân đại số thật thích thú.”
Thầy Nguyễn Thanh Liêm, cựu Hiệu Trưởng Petrus Ký vào năm 1963-1964, cho tin:
“Thầy Thử dạy môn Toán. Thầy rất hiền từ. Thầy thuộc thế hệ lớn tuổi. Dạy ở Petrus Ký nhiều năm. Có thể dạy trước thầy nhưng làm hiệu trưởng sau thầy. Thầy có đi chấm thi chung với thầy Thử mấy lần, nhưng không có chơi thân nên thấy không biết nhiều về thầy”.
Thầy Trần Ngọc Thái, vị cựu Hiệu Trưởng Petrus Ký hai nhiệm kỳ (1964 – 1966, một nhiệm kỳ trước thầy Thử và 1969-1971, một nhiệm kỳ sau thầy Thử), hẹn gặp tôi rồi sẽ cho tin về thầy Thử. Cô Hảo, vợ của thầy Thái, nói nhỏ trong điện thoại:
— Thầy Thử rất mực hiền lành.
Thầy Trần văn Nhơn, một trong những cựu Hiệu Trường Petrus Ký nối nghiệp thầy Thử, (1971 – 1972) có viết thoáng về thầy Thử trong Đặc San Petrus Ký 2006. Trong bài viết ấy, thầy Nhơn cho biết thầy Thử bị bạo bệnh qua đời khi đương nhiệm chức vụ Hiệu Trưởng tại Petrus Ký vào năm 1969.
Đọc xong đoạn của thầy Nhơn viết về thầy Thử, tôi có câu hỏi trong đầu chưa kịp hỏi thì vài ngày sau (9 tháng 11, 2006), thầy Nhơn gởi tặng tôi tấm ảnh thầy Thử chụp với một số thầy cô Petrus Ký, kèm theo lá thư, trong ấy thầy viết:
“Đúng như mọi người đã nhớ về thầy Thử. Thầy rất là hiền, nói năng nhỏ nhẹ không hề biết lớn tiếng với ai. Tôi gặp và biết thấy lần đầu khi đi chấm thi Tú Tài năm 1965. Thầy Thử là chánh chủ khảo hội đồng thi. Lúc đó thầy Thử chưa về Petrus Ký làm Hiệu trưởng. Còn trước nữa thấy có dạy Toán tại Petrus Ký hay không thì tôi không biết.”
Từ trái sang phải, hàng sau: Cô Phạm thị Ngọc Dung (GS Việt văn), cô Phan Ngọc Loan (GS Pháp văn), cô Trương thị Thanh Vân (GS Pháp văn), cô Đào Kim Phụng (GS Anh văn), cô Nguyễn Trần Ngọc Thư (GS Việt văn), cô Trần thị Dung (GS Sử Địa và Việt văn), cô Trương Ngọc Liên (GS Anh văn), cô Lâm thị Cúc (GS Lý Hóa) và cô Nguyễn thị Đoan Trang (GS Vạn Vật và Lý Hóa). Hàng trước là các thầy Trần văn Nhơn (Giám Học), thầy Trần văn Thử (Hiệu Trường) và thầy Tăng văn Chương (Tông Giám Thị) [Nguồn: thầy Trần văn Nhơn].
Thầy Bùi Vĩnh Lập, một người học trò cũ của thầy Thử tại Petrus Ký và sau này đảm nhận chức vụ Hiệu Trưởng Petrus Ký (1971-1973), từ Sydney nhắn lời:
“Năm thầy Lập học Đệ Ngũ tại Petrus Ký, người thấy toán hiền hoà, dễ thương, nói năng nhỏ nhẹ “và không có ai ghét hết” là thầy Thử.”
Thầy Đỗ Quang Vinh (Giáo Sư Việt Văn Petrus Ký đang định cư gần Toronto và đang ghé thăm con tại Texas) cũng cho vài dòng cảm nghĩ về thầy Thử:
“Có, tôi nhớ thầy Thử. Ông rất hiền lành, điềm đạm.”
Với những gì lượm lặt được qua thầy cô và bạn bè, tôi ngồi ghép lại thành bài viết tưởng nhớ thầy Thử. Sau khi viết xong bài nháp, tôi gởi cho Nguyễn Đăng Khoa đọc để xin ý kiến. Khoa trả lời:
S. mến,
Rất tiếc không giúp gì được cho S. về việc viết bài về ông dượng của tui là Trần văn Thử, mất năm 1972 chứ không phải 1969 vì gia đình ông dượng của tui không muốn. Tui có hỏi xin hình dượng qua người con trưởng là bác sĩ đang sống tại Đức (anh Trần Minh Yến) thì ảnh không muốn và không nói lý do.
Khi Khoa cho biết thầy Thử mất năm 1972, tôi bắt đầu hơi lo. Thầy Thử mất vào năm 1972, chứ không phải 1969 như thầy Nhơn đã viết trong Đặc San Petrus Ký 2006. Tôi lo là thân nhân và học trò Petrus Ký sẽ trách cứ khi bài viết ra đời. Vì thế tôi vội vàng kiểm nhận tin này với thầy Nhơn. Thầy Nhơn viết trả lời:
Nov. 17, 2006
S. ơi,
Tôi cũng không dám chắc là thầy Thử mất vào năm 1969. Tôi chỉ nhớ thấy không còn làm Hiệu Trưởng năm đó vì bịnh nặng. Nếu người trong gia đình thầy cho biết thì đáng tin hơn. Vào năm 1972 tôi đang du học tại Hoa Kỳ.Trần văn Nhơn.
Bài viết tưởng nhớ thầy Thử trở thành bài điều tra có tính cách quốc tế về cuộc sống và ngày mất của thầy Thử.
Nguyễn Đăng Khoa mặc dầu viết là không giúp gì được nhưng đã cho tôi lời giải kín đáo. Người đầu tiên tôi gọi thăm về việc này là thầy Phạm Ngọc Đãnh tại Đức. Sau khi hàn huyên với thầy Đãnh, tôi xin phép hỏi thầy về thầy Thử thì thầy Đãnh và cô Thu Hà, vợ thầy Đãnh, xác định thầy Thử mất vào năm 1972, vì cô Thu Hà nhớ một người trong gia đình của cô thầy mất cùng năm với thầy Thử. Tuy nhiên thầy Đãnh hứa sẽ hỏi con trai của thầy Thử cho chắc chắn.
Người thứ hai mà tôi gọi hỏi thăm về việc này là thầy Phạm Xuân Ái tại Pháp vì thầy Ái cũng đã dạy nhiều năm tại Petrus Ký. Thầy Ái cho biết thầy Thử không phải mất vào năm 1969 nhưng ông không nhớ có phải là 1972 hay không. Thầy Ái nói nếu tôi muốn biết chắc chắn thì nên gọi hỏi thầy Bùi Trọng Chương, quyền tự điển sống của Petrus Ký. Thầy Bùi Trọng Chương cư ngụ tại Oregon. Tôi gọi số phone của thầy Chương mà thầy Ái cho thì không đúng số vì thế tôi lại viết E-mail hỏi thăm các thầy Nguyễn Thanh Liêm, Trần văn Nhơn và Bùi Vĩnh Lập xem ai có số điện thoại của thầy Bùi Trọng Chương thì liền sau đó thầy Lập trả lời:
Em S.
Vừa qua, thầy Trang Ngọc Nhơn tại thành phố Reading (Pennsylvania) có phone thăm thầy Bùi Trọng Chương. Vậy em E-mail cho thấy Trang Ngọc Nhơn thì rõ. Chúc em và các bạn nhiều may mắn.Bùi Vĩnh Lập.
Tôi gọi cho thầy Trang Ngọc Nhơn để xin số điện thoại của thầy Bùi Trọng Chương. Khi thầy Trang Ngọc Nhơn nghe tôi muốn hỏi thầy Bùi Trọng Chương khi nào thầy Thử qua đời, thầy Trang Ngọc Nhơn cũng xác nhận là thầy Thử bị bạo bệnh năm 1969, sau đó thầy về hưu và mất vào năm 1972. Tôi nghĩ thế là đủ và không gọi làm phiền thầy Bùi Trọng Chương sau đó. Cuộc điều tra liên lục địa (Âu, Úc và Mỹ Châu) xác nhận thầy Thử đã mất vào năm 1972. Phương trình ẩn số mà tôi chật vật không có câu trả lời và các thầy cô Petrus Ký đã giúp cho lời giải. Tuy nhiên các thầy cô không nhớ rõ ngày thầy mất.
Tôi không nhớ là khi thầy Thử qua đời, hiệu kỳ của trường có treo rủ để tưởng niệm thầy, vị tôn sư đáng kính. Tuy nhiên, hôm nay tôi dùng bài viết này mặc niệm thầy.
Thầy Thử, tỉnh từ “hiền lành” giờ được dành riêng cho thầy trong lòng cựu học sinh và bạn đồng nghiệp Petrus Ký của thầy.
Nói là tôi không biết một chút gì về thầy Thử như tôi đã viết ở trên thì cũng hoàn toàn không đúng bởi tôi còn thiếu thầy Thử một món nợ tinh thần mà sau 36 năm bây giờ tôi cần phải trả. Tôi ví món nợ này như một phương trình ẩn số và cố tìm lời giải bởi thầy Thử là Giáo Sư Toán Học.
Tôi biết về thầy Thử 36 năm về trước (năm 1972) khi một hôm trốn lớp, tôi xuống phòng ban Đại Diện Học Sinh thu xếp lại hồ sơ và tình cờ tôi tìm thấy trong đống hồ sơ đó, nhiều hình ảnh về trường, và các vị giáo sư cũng như những cựu học sinh nổi tiếng của trường. Và nhờ thế tôi biết về thầy Thử.
Tháng Giêng 1972, tôi và đám “Cái Bang” của trường (đó là danh từ bạn bè trong lớp gọi anh em thuộc khối Xã Hội vì mỗi Chủ Nhật bọn tôi vác thùng đi xin tiền để cứu trợ đồng bào trên các đường phố Sàigòn) đi giới thiệu Giai Phẩm Xuân Petrus Ký đến các trường bạn. Chúng tôi được giao phó nhiệm vụ viếng thăm các trường Trung Thu, Thiên Phước tại Sàigòn, Bác Ái (Chợ Lớn), Kiểu Mẫu Thủ Đức tại Biên Hoà, v.v, những trường Trung Học nhỏ mà các khối Báo Chí,Thể Thao, Học Tập, Văn Nghệ “chê” nên giao cho đám Cái Bang của bọn tôi vì họ không muốn tốn công đi xa, bán không được nhiều báo và dĩ nhiên đi thăm các trường Gia Long, Trưng Vương, Lê văn Duyệt, Chu văn An, Võ Trường Toản, v.v, vẫn vui hơn.
Biết thế bọn tôi vẫn đi.
Chuyến đi giới thiệu Giai Phẩm Xuân Petrus Ký vào đầu năm 1972 đã ghi lại trong chúng tôi nhiều kỷ niệm. Tôi còn nhớ Nguyễn văn Tấn (Trưởng Khối Xã Hội) hướng dẫn đám Cái Bang gồm có Trần Công Minh 12A1, Châu Hậu Nhựt 12A1, Phạm Mẫn Trí 12B6, Nguyễn Thanh Hùng 12B6, hai em phó Trưởng Khối Xã Hội sáng và chiều và tôi ghé thăm Kiểu Mẫu Thủ Đức đầu tiên hết mặc dù đây là trường xa nhất. Lúc ấy Kiểu Mẫu Thủ Đức vừa được khánh thành hơn 1 năm. Khi vào thăm các lớp, tôi giới thiệu đây là phái đoàn đại diện của hai khối Xã Hội và Thể Thao Petrus Ký viếng thăm Kiểu Mẫu Thủ Đức để mong kết tình thân hữu.
Tôi giới thiệu:
– Đây là Nguyễn văn Tấn, Trưởng Khối Xã Hội và hai phó Trưởng Khối Xã Hội sáng, chiều. Đó là Trần Công Minh và Châu Hậu Nhựt, hai tuyển thủ trong đội bóng bàn quốc gia. Và kia là Phạm Mẫn Trí, Nguyễn Thanh Hùng, tuyển thủ bóng bàn Petrus Ký. Sau khi Tấn, Minh và Nhựt ngỏ lời chào, các cô bé Kiểu Mẫu Thủ Đức giành nhau mua Giai Phẩm Xuân Petrus Ký như mua tôm tươi để lấy chữ ký của Tấn, Minh và Nhựt.
Sau vài ngày đi bán báo, Nguyễn văn Tấn vì có công tác tại trường nên Tấn giao trách nhiệm hướng dẫn đám Cái Bang lại cho tôi đi thăm các trường còn lại trong danh sách. Khi chọn lựa các trường tại Sài Gòn – Gia Định để giới thiệu Giai Phẩm Xuân Petrus Ký, các Trưởng Khối đã không biết vô tình hay cố ý loại bỏ các trường Pháp tại Sài Gòn như La San Taberd, Lê Quý Đôn, Marie Curie, St. Paul, v.v. Tôi biết đa số người Sài Gòn đều nghe danh của các trường Chasseloup Laubat (sau này đổi thành Lê Quý Đôn), Taberd, Marie Curie, v.v, nhưng ít ai biết đến St. Paul, một trong những trường trung học nữ dạy chương trình Pháp, tọa lạc tại góc Cường Để và Gia Long.
Không có Tấn hướng dẫn, tôi phá lệ đưa nhóm Cái Bang của bọn tôi ghé qua thăm Marie Curie và St. Paul dù hai trường này không có trong danh sách những trường mà bọn tôi cần phải viếng vì tôi có lý do “riêng”. Khi đến St. Paul, tôi một mình vào trước xin các soeur Giám Hiệu cho phép bọn tôi vào giới thiệu Giai Phẩm Xuân Petrus Ký đến học trò St. Paul. Ban đầu, các soeur từ chối. Soeur Giám Học nói riêng với tôi:Các ngày hôm trước, đại diện các trường lân cận như Trưng Vương, Võ Trường Toản đã đến xin phép và các soeur cũng đã từ chối không cho phép, nhưng Petrus Ký được ngoại lệ. Soeur không muốn các em vào lớp vì sẽ gây náo loạn trật tự. Soeur phá lệ cho phép các em được giới thiệu Giai Phẩm Xuân Petrus Ký vào giờ chơi chỉ vì lý do soeur là học trò cũ của thầy Trần văn Thử.
Soeur hỏi về thầy cũng với tất cả những ưu ái kèm theo sự kính trọng – thầy thật là hiền. Sau đó, soeur Giám Học nhắn với tôi khi trở về trường cho soeur gởi lời thăm thầy Thử. Lúc ấy tôi cũng không biết thầy Thử đã nghỉ dạy nên tôi nhận lời nhắn rồi quên khuấy mất. Đó cũng là năm 1972, năm thầy qua đời. Tôi đã không giữ lời hứa. Giờ 36 năm sau, tôi xin được trả món nợ tinh thần này đến thầy.
Lời chú:
1. Bọn tôi không bán được một Giai Phẩm Xuân nào tại Marie Curie và St. Paul. Và những anh em Cái Bang cho đến bây giờ chắc vẫn không hiểu lý do vì sao tôi đã làm việc này. Tuy nhiên năm đó nhóm Cái Bang bán được nhiều nhất Giai Phẩm Xuân Petrus Ký và các Trưởng Khối khác đã ngẩn tò te về việc này.
2. Website của Trung Học Hồ Ngọc Cẩn có ghi danh sách các vị cựu Hiệu Trưởng của Hồ Ngọc Cẩn trước 1975. Trong danh sách này, có ghi “thầy Trần văn Thử – cựu Hiệu Trường Hồ Ngọc Cẩn, năm 1963 – 1964″. Tôi không biết có phải thầy Trần văn Thử – HNC và thầy Trần văn Thử – Petrus Ký là một? Việc này cần kiểm chứng nhưng chúng tôi không/chưa liên lạc được với gia đình của thầy. Tuy nhiên, theo những gì thầy Trần văn Nhơn đã viết ở trên: “Tôi gặp và biết thầy lần đầu khi đi chấm thi Tú Tài năm 1965. Thầy Thử là chánh chủ khảo hội đồng thi. Lúc đó thầy Thử chưa về Petrus Ký làm Hiệu trưởng.” Có thể đó là câu trả lời cũng nên.
3. Sau khi bài viết hoàn thành, tôi gởi tặng bài viết này đến anh Trần Minh Yến và Nguyễn Đăng Khoa. Anh Yến sau khi đọc bài đã gởi tặng tấm ảnh chân dung của thầy để cho vào bài viết này.
4. Nhóm chủ trương tập bài viết cảm tạ lòng nhiệt thành của các thầy Hiệu Trưởng Trần văn Nhơn, Nguyễn Thanh Liêm, Bùi Vĩnh Lập, Trần Ngọc Thái, các thầy Đỗ Quang Vinh, Phạm Ngọc Đãnh, Trang Ngọc Nhơn, Phạm Xuân Ái, Bùi Trọng Chương, anh Trần Minh Yến và các bạn Nguyễn Đăng Khoa, Hồ Lịch đã cung cấp hình ảnh và tin về thầy Thử để bài viết được hình thành.

