Những ngày tháng dạy học tại trường trung học Petrus Ký

GS Hoàng Ngọc Thành

Một sự may mắn đã đưa tôi đến dạy tại trường trung học Petrus Ký. Nguyên là tôi đã tham gia kháng chiến chống Pháp đến tháng 12, 1954 mới về Huế được. Sau đấy tôi đi dạy các trường trung học tư thục tại Huế như Nguyễn Du, Bồ Đề, Mai Khôi và Bình Minh. Đến tháng 6, 1957 tôi được học bổng đi du học về ngành xã hội tại đại học Phi Luật Tân ở Diliman, Quezon City cho đến tháng 12, 1959. Lúc ấy gia đình tôi đã vào sinh sống tại SàiGòn. Chúng tôi đi tìm chỗ dạy ở các trường trung học công lập vùng SàiGòn-Gia Định, vì tôi muốn xin học bổng đi tu nghiệp thêm. Việc xin vào dạy các trường công lập tại SàiGòn năm ấy 1960 vô cùng khó khăn, vì không còn có ngân sách tuyển dụng thêm giáo sư trung học nữa. Nhưng tôi may gặp lại một anh bạn cũ là Lý Chánh Đức lúc ấy làm giám đốc Sở Học Liệu thuộc bộ Giáo Dục. Anh Đức là một trong số độ trên dưới 10 học sinh người Nam ra Huế học trường trung học theo chương trình Pháp Institut de la Providence tức Thiên Hựu Học Đường và Petrus Ký lưu xá (internat). Tôi cũng ở internat vì ba tôi là công chức ở một tỉnh xa Huế. Anh Lý Chánh Đức hỏi thăm trên Bộ Quốc Gia Giáo Dục thì được biết là trường Petrus Ký thiếu giáo sư vì có một giáo sư (tên là Thiện) bổ nhiệm sở đi theo Việt cộng. (Sau 30/4/1975 giáo chức tên Thiện này về làm hiệu trưởng trường Petrus Ký). Anh Đức liền lên Bộ yết kiến ông Bộ trưởng Trần Hữu Thế và xin bổ dụng tôi vào chỗ khuyết ấy, lúc ấy tôi chỉ có bằng B.S.E và M.A. in Education của đại học Phi Luật Tân nên chỉ được chỉ số 430, bằng cử nhân luật hay cử nhân tự do. Còn muốn được vào ngạch giáo sư trung học đệ nhị cấp phải có bằng cử nhân giáo khoa hay tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm. Anh Đức kể lại là khi anh thỉnh cầu ông Bộ Trưởng Thế bổ dụng tôi, anh có nói là tôi học giỏi, thi diplôme d’étude classique năm 1943 tôi đậu đầu, anh Đức đậu thứ tư. Như thế tôi được bổ dạy tại trường trung học Petrus Ký, có lẽ là trường trung học nam học sinh lớn nhất và danh tiếng nhất SàiGòn thời bấy giờ. Niên khóa đầu 1961- 62 tôi được sắp xếp dạy Anh văn lớp Đệ Nhị C và Anh văn lớp Đệ Nhất 3 giờ một tuần hay 4 giờ nếu Anh văn là sinh ngữ II hay sinh ngữ I. Tôi còn nhớ đi vào trường giữa là một préau tức loại hành lang rộng lớn có vải che, bên mặt là văn phòng hiệu trưởng, giám học, giám thị v.v… vô dãy các lớp đệ nhị. Bên kia là dãy các lớp Đệ Nhất ban A (Vạn Vật, Vật Lý, Hóa), ban B (Toán) và ban C (Triết học). Trường Petrus Ký thời bấy giờ có 7 cấp lớp, từ Đệ Thất đến Đệ Nhất và mỗi năm có kỳ thi tuyển vào Đệ Thất. Tôi chỉ được dạy lớp Đệ Nhị C niên khóa 1961/1962 chứ qua các năm sau chỉ dạy các lớp Đệ Nhất A, B và C mà thôi, mỗi tuần 15 giờ bắt buộc và 6 giờ phụ, tức tất cả 21 giờ. Ngoài ra tôi còn dạy thêm 6 giờ tại lớp Đệ Nhất trường trung học công lập Võ Trường Toản, trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, sát trường Trưng Vương. Các lớp Đệ Thất đến Đệ Tứ của trường dạy buổi sáng, còn cái lớp Đệ Tam, Nhị và Nhất dạy buổi chiều từ 1 giờ 30. Học sinh ăn mặc đồng phục, quần xanh, sơ mi trắng có huy hiệu Petrus Ký may trên túi sơ-mi. Tôi dạy các niên khóa 1960/61, 1961/62, 1962/63 và đến tháng Giêng 1964 tôi được đi Hoa Kỳ tu nghiệp học bằng MA và Ph. D. về Sử học.

Nhìn lại cuộc đời dạy học từ lúc dạy trung học đệ nhất cấp, rồi đệ nhị cấp và sau này dạy ban cử nhân và cao học tại các đại học tôi thấy những niên khóa dạy tại Petrus Ký rất hứng thú. Học sinh các lớp Đệ Nhất A, B, học rất giỏi và rất ngoan; không có vấn đề kỷ luật. Có một lớp Đệ Nhất A có 43 học sinh mà đến 37 người đã tốt nghiệp các ngành y, nha, dược, kiến trúc sư, văn học, xã hội.

Trường Petrus Ký là trường lâu đời tại SàiGòn nên đa số giáo sư là người Nam, chỉ có một số ít người Bắc hay Trung như tôi. Nhưng xử thế công tâm và vui vẻ. Ông hiệu trưởng Phạm Văn Lược người Nam, đã cho tôi điểm cao và nói với ông Khoa trưởng Đại Học Sư Phạm là tôi là một trong số giáo sư trung học xuất sắc khi ông này hỏi về cá nhân tôi trong việc xin đi tu nghiệp. Tôi còn nhớ một số đồng nghiệp dạy sinh ngữ như anh Trần Hữu Tắc nay ở San Francisco, cô Tiên đã từng đi học tại Hoa Kỳ và đã qua đời vì bệnh ung thư gan tại Nam Cali, bà Quế, có cao học Pháp văn và con thầy hiệu trưởng Phạm Văn Lược. Giám học là ông Văn có bằng Brevet Superieur.

Trong bốn năm 3 tháng tôi tu nghiệp tại Hoa Kỳ gia đình chúng tôi mỗi tháng vẫn đến lãnh lương của tôi, 5/6 lương vì tôi có 5 con và vợ là công chức. Tôi về lại SàiGòn độ tháng 4/1968, dạy lại trường Petrus Ký vài tháng rồi được chuyển qua Đại Học Sư Phạm SàiGòn, làm giảng sư độ 9 tháng rồi lên làm giáo sư diễn giảng, Trưởng Ban Sử Địa và Cao học Sử. Đến cuối tháng 4/1975 khi bọn cộng sản Hà Nội cưỡng chiếm miền Nam và SàiGòn, tôi bị kẹt lại mãi đến tháng 4/1981 mới vượt biên thành công qua Mã Lai Á. Trong giai đoạn này có hai việc đáng ghi nhớ về trường Petrus Ký. Trước hết là các nguồn tin đáng tin cậy, các bạn đồng nghiệp và nhân viên Petrus Ký ở tại khu nhà sau trường, trong số này có tư gia của Thầy hiệu trưởng Phạm Văn Lược, cho biết thầy Phạm Văn Lược, sau một cuộc hội kiến với một bạn học cũ là ông Khiết, Phó Thủ Tướng rồi Bộ trưởng Bộ Giáo Dục của chính phủ Giải Phóng, một tổ chức bù nhìn của bọn cộng sản Hà Nội, đã bị khủng bố tinh thần sao đó nên đã dùng độc dược quyền sinh và đã được gia đình chôn cất âm thầm. Trước kia thầy đã từng làm Tổng giám đốc Trung Tiểu học.

Việc thứ hai là thái độ can đảm gan dạ của giáo sư Đảnh. Trước 1975 anh Đảnh được đi tu nghiệp tại nước Đức và dạy môn Đức văn tại trường Petrus Ký. Cuối năm 1975, hay đầu năm 1976 tổng bí thư cộng sản Lê Duẩn đến thăm trường Petrus Ký một cách đột ngột. Lê Duẩn có hỏi giáo chức có thắc mắc, nguyện vọng gì không? Anh Đảnh giơ tay xin phép hỏi tại sao quân nhân chế độ cũ não phải đi học tập một tháng mà nay đã nhiều tháng mà chưa thấy về. Câu hỏi này làm cho Lê Duẩn có vẻ bối rối và trả lời rất lúng túng không rõ ràng ra sao cả. Đại đa số giáo chức và nhân viên có mặt hôm ấy rất hả dạ dù họ không dám lên tiếng nói gì cả.

Để kết thúc bài này chúng tôi kính thỉnh cầu anh em giáo chức và cựu học sinh Petrus Ký tưởng nhớ thầy hiệu trưởng Phạm Văn Lược, các giáo chức và cựu học sinh đã mãn phần sau ngày 30/4/1975.

GS Hoàng Ngọc Thành