Hoa giai sao ma kho qua vay – Nguyen Viet Hung

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trong chuyến sang New York tham dự Tuần lễ cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 79 và làm việc tại Hoa Kỳ.

Trong bài phát biểu chính sách tại Đại học Columbia, ông dành hẳn một phần để nói về một câu chuyện mà chính ông xem là thành công đặc biệt của quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ:

Từ cựu thù trở thành đối tác. Ông nhấn mạnh đến “tinh thần hàn gắn, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau”, nói rằng Việt Nam và Hoa Kỳ đã lựa chọn con đường hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng lòng tin và đưa hai quốc gia từng bắn nhau trên chiến trường trở thành Đối tác Chiến lược Toàn diện.

Nghe rất đẹp. Và cũng rất đáng mừng.

***

Ông Tô Lâm cũng nói đến một điều mà có lẽ rất nhiều người Việt Nam, dù đang sống trong nước hay đã định cư ở nước ngoài, đều muốn nghe:

“Hòa hợp, hòa giải dân tộc. Khép lại quá khứ. Tôn trọng khác biệt. Hướng tới tương lai”.

Đó cũng là những lời đẹp. Và có lẽ cũng là những lời cần thiết sau nửa thế kỷ một dân tộc đã phải mang theo quá nhiều ký ức của một cuộc chiến.

Nhưng thật ra, những lời ấy không bắt đầu từ ông Tô Lâm. Trong nhiều thập niên qua, những thông điệp về đại đoàn kết dân tộc, hòa hợp, khép lại quá khứ và hướng tới tương lai đã nhiều lần xuất hiện trong chủ trương và phát biểu của các thế hệ lãnh đạo Việt Nam.

Ông Tô Lâm chỉ là người lãnh đạo mới nhất nhắc lại lời mời gọi ấy, vào một thời điểm đặc biệt: tròn nửa thế kỷ sau khi chiến tranh kết thúc.

Và chính vì những lời ấy đã được nói suốt nhiều năm, qua nhiều thế hệ lãnh đạo, câu hỏi hôm nay càng trở nên khó tránh:

Sau ngần ấy năm kêu gọi hòa hợp, chúng ta đã thực sự hòa hợp được bao nhiêu trong cách đối xử với nhau?

Bởi lời nói của người đứng đầu một quốc gia không chỉ để nghe.

Nó còn là một tiêu chuẩn để người dân nhìn xuống phía dưới và hỏi: bộ máy của ông có thực sự sống theo những điều ông vừa nói hay không?

Nếu đã “khép lại quá khứ”, tại sao hơn nửa thế kỷ sau vẫn còn thứ ngôn ngữ lấy quá khứ của phía thua cuộc ra làm lời sỉ nhục?

Nếu đã “tôn trọng khác biệt”, tại sao chỉ cần một người bất đồng quan điểm, trên mạng lập tức có thể xuất hiện những tiếng “ba que”, “ngụy”, “đu càng ”, “phản động”?

Và nếu thật sự muốn “hướng tới tương lai”, tại sao vẫn tồn tại một thứ văn hóa tranh luận cứ hễ hết lý lẽ là quay về… ngày 30 tháng 4 năm 1975?

Đó mới chính là nghịch lý.

Bởi hòa giải không khó nhất ở chỗ nói ra hai chữ hòa giải.

Khó nhất là sau khi nói xong, anh có dám yêu cầu những người nhân danh anh ngừng nuôi sống hận thù hay không.

****

Và từ đây, chúng ta mới cần nói đến một cái tên rất đặc biệt của thời đại Internet Việt Nam:

“DƯ LUẬN VIÊN.”

Chính phủ Việt Nam đã công khai thừa nhận có một bộ phận “dư luận viên” là những người tham gia định hướng, bảo vệ quan điểm chính thống và đấu tranh trên không gian mạng cho chính quyền.

***

Thật ra Quốc gia nào chẳng có truyền thông, tuyên truyền, người phát ngôn và những lực lượng bảo vệ quan điểm chính trị.

Vấn đề là: Anh bảo vệ bằng cái gì?

Bằng lý lẽ? Bằng tài liệu? Bằng tranh luận?

Hay bằng cách gọi một ông già ngoài bảy mươi tuổi là “thằng ba que khát nước” chỉ vì trước năm 1975 ông ấy từng sống ở miền Nam?

Đến đây, câu chuyện không còn đơn giản là chuyện của vài cái miệng thiếu văn hóa nữa.

Nó trở thành câu hỏi về văn hóa chính trị.

Và còn là câu hỏi về trách nhiệm của một chính quyền đối với những lực lượng nhân danh mình để bảo vệ mình.

Một chính quyền thực sự đàng hoàng và trong sạch không cần tạo ra một đội quân chuyên dùng những lời lẽ vô cùng hạ cấp để bảo vệ mình.

Một chính quyền có chính nghĩa thì thứ bảo vệ nó tốt nhất phải là sự thật, thành quả và lòng tin của người dân.

Nếu có một lực lượng mang danh bảo vệ chế độ, thì chính quyền càng phải yêu cầu họ tranh luận bằng dữ kiện, bằng lý trí và bằng tư cách.

Một chính quyền thực lòng muốn hòa giải không thể vừa kêu gọi xóa bỏ hận thù, vừa tạo ra, khuyến khích và dung túng một môi trường trong đó sự thù hận đối với phía thua cuộc tiếp tục được nuôi dưỡng.

Không thể đứng trên bục nói:

“Khép lại quá khứ. Tôn trọng khác biệt. Hướng tới tương lai.”

Rồi bước xuống dưới để mặc người ta tiếp tục:

“Ngụy! Phản động ! Đu càng ! Ba que! Khát nước!”

Xin lỗi.

Quá khứ đóng cửa kiểu gì khi ngày nào cũng có người đứng ngoài gõ cửa nhắc rằng: “Ê, tụi bay từng thua đó nha!” Và nhiều thứ ngôn ngữ vô văn hóa khác mà xin phép không chép lại, bởi nếu chép đủ thì bài viết này có lẽ phải dán nhãn: “Không thích hợp cho trẻ em và những người còn yêu tiếng Việt”.

****

Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975.

Người sinh đúng ngày 30 tháng Tư năm ấy hôm nay đã ngoài năm mươi.

Một đứa trẻ sinh sau chiến tranh hai mươi năm giờ cũng đã bước sang tuổi trung niên.

Vậy mà có những cuộc tranh luận trên mạng hôm nay, đọc xong cứ tưởng xe tăng mới chạy qua cổng Dinh Độc Lập… chiều hôm qua.

Đáng buồn hơn, có những người trẻ ở Việt Nam chưa từng nghe một viên đạn thật, chưa từng biết mùi hầm trú bom, chưa từng có cha nằm lại ngoài chiến trường, nhưng lại được đầu độc và thừa hưởng nguyên vẹn sự căm ghét của một cuộc chiến mà chính họ chưa từng sống qua.

Đó mới là thất bại đáng sợ nhất.

Hận thù đã sống lâu hơn những người tạo ra nó.

*****

Người Việt hải ngoại cũng không phải thánh.

Ở phía bên này cũng có cực đoan, chụp mũ, tục tĩu, những người nhìn bất cứ ai ở Việt Nam cũng thành “Việt cộng”, nhìn một ca sĩ hát trong nước cũng thành “thân cộng”, rồi sẵn sàng kết án nhau chỉ bằng vài tấm hình trên Facebook.

Những điều ấy cũng đáng phê phán. Nhưng có một khác biệt căn bản:

MỘT CÁ NHÂN CỰC ĐOAN CHỈ CHỊU TRÁCH NHIỆM CHO CÁI MIỆNG CỦA MÌNH. MỘT NHÀ NƯỚC THÌ PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM CHO THỨ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ MÀ MÌNH TỔ CHỨC, KHUYẾN KHÍCH HOẶC DUNG TÚNG.

Quyền lực càng lớn, trách nhiệm càng lớn. Không thể lấy sự cực đoan của vài người Việt hải ngoại làm lý do để biện minh cho sự cực đoan được khoác áo “bảo vệ chế độ”.

*****

Nếu thật sự muốn hòa giải, chỉ cần bắt đầu từ một điều rất nhỏ:

Đừng biến quá khứ của một nửa dân tộc thành tiếng chửi.

Người lính Việt Nam Cộng hòa đã thua trận.

Được. Đó là lịch sử.

Nhưng con cái họ không thua trận. Cháu họ không thua trận.

Một người Việt sinh tại California năm 2000 càng không thể là “ngụy quân” của cuộc chiến kết thúc trước khi cha mẹ họ ra đời.

******

Và nếu những người được gọi là “dư luận viên” thực sự tồn tại để bảo vệ chính quyền, thì càng nên hỏi:

Họ đang bảo vệ chính quyền, hay đang làm xấu mặt chính quyền?

Một người tranh luận có văn hóa có thể khiến đối phương suy nghĩ.

Một người chửi tục chỉ khiến đối phương khinh thường.

Một người đưa ra bằng chứng có thể bảo vệ một chính sách.

Một người mở miệng là “ba que, khát nước, phản động” chỉ chứng minh rằng sau khi dùng hết lý lẽ, trong túi anh ta chỉ còn lại vài câu chửi.

Nếu chính quyền không chủ trương thứ ngôn ngữ ấy, thì hãy công khai không dung túng nó.

Nếu một lực lượng nhân danh bảo vệ nhà nước hành xử như vậy, hãy chấn chỉnh nó.

Bởi im lặng quá lâu trước một hành vi được thực hiện nhân danh mình sẽ làm người ta đặt câu hỏi:

Đó là điều anh không kiểm soát được, hay là điều anh thấy có lợi nên không muốn kiểm soát?

*****

Hòa giải chưa bao giờ có nghĩa là người thua phải quên hết mọi chuyện.

Hòa giải đơn giản hơn nhiều: Đừng tiếp tục làm nhục nhau.

Một chính quyền tự tin không cần một đám đông tục tĩu đứng trước cửa để bảo vệ mình.

Một chính quyền trong sạch không cần biến sự nhục mạ thành công cụ tuyên truyền.

Hơn nửa thế kỷ rồi.

Và nếu một ngày những tiếng “ba que”, “ngụy”, “khát nước”, “phản động” thực sự biến mất khỏi thứ ngôn ngữ được dùng để bảo vệ một chế độ, có lẽ lúc ấy người ta cũng chẳng cần treo nhiều khẩu hiệu “xóa bỏ hận thù” nữa.

Bởi một đất nước thật sự đã “hòa giải” thì không cần năm nào cũng nhắc người dân phải hòa giải. Cũng như một gia đình thật sự hòa thuận chẳng cần treo trước cửa tấm bảng: “Nhà này mọi người rất thương nhau.”

9/4/26
Hvn
(viết mà chơi)