Dưới mái trường Petrus Ký: Kỷ niệm về tình thầy trò

Đông A (Giáo sư Trần Hữu Văng)

(Nguồn: ĐS Petrus Ký Houston 1995 (trang 46-54) do anh Võ Phi Hùng, PK 67-74 scan và gởi tặng)

Giáo sư Trần Hữu Văng (1912-1996) cựu học sinh Lycée Petrus Ký năm 1929, nguyên Giáo Sư Pháp Văn và Công Dân Giáo Dục trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, nguyên Hiệu Trưởng trường Sư Phạm Sài Gòn, nguyên Giám Đóc Nha Sư Phạm Sài Gòn. Giáo sư Trần Hữu Văng đã giữ hai chức vụ quan trọng ở trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký là Tổng Giám Thị (năm 1957-1960) và Giám Học (1960-1963).

Thầy Trần Hữu Văng (người đeo cà vạt) – (ảnh lưu niệm từ anh Vien Vuong)

Ở Tiểu học, tôi học trường Taberd. Cũng như Chasseloup Laubat có hai khu: quartier europien và quartier indigène, Taberd có section francaise và section annamite. Mặc dầu tôi ở section annamite, chương trình học hầu hết bằng tiếng Pháp, tiếng Việt chỉ có làm traduction: dịch từ Pháp ra Việt và từ Việt ra Pháp. Ngay tên các lớp cũng được gọi lớp 8, lớp 9… chớ không gọi như ở trường nhà nước lớp nhứt, lớp nhì….

Khi qua học Petrus Ký tôi mới thật sự có học Việt văn. Giáo sư dạy Annamite và cả Francais lớp 1ère année B của chúng tôi lúc đó là ông Dương văn Cảnh. Ông Cảnh là giáo sư dạy hay có tiếng, nhưng cũng là tay ăn chơi đúng bực. Buổi sáng vào lớp, nhứt là những ngày thứ hai, khi cho học trò ngồi xuống rồi, ông gụt đầu lên bureau mà ngủ. Mặc kệ học trò ở dưới cười giỡn, làm rầy… Nhưng khi ông thức dậy, bắt đầu dạy, dầu dạy Pháp văn hay Việt văn, ông dạy rất hấp dẫn, lôi cuốn cả lớp say sưa theo dõi.

Chương trình Annamite hồi đó, chúng tôi học đủ thứ: thi, phú, luật bằng trắc, văn xuôi, văn vần… tác phẩm và cả tiểu sử tác giả… Tôi còn nhớ, một hôm chúng tôi học Hồ Xuân Hương. Đại khái, chúng tôi cũng được biết thơ của Hồ Xuân Hương có hai ý: thanh và tục. Nhưng khi giảng bài “Khóc ông Phủ Vĩnh Tường” thì ông Cảnh chỉ giảng cho thấy cái hay của bài thơ. Chúng tôi cũng thấy thích thú lắm rồi.

Sau giờ Annamite là giờ toán. Giáo sư toán là ông Đinh Căng Nguyên. Khi lật sổ đầu bài (Cahier de testes), thấy chúng tôi vừa học bài “Khóc ông Phủ Vĩnh Tường” ông Nguyên lấy phấn đọc, “Đòn cân tạo hóa rơi đâu mất”, ông vừa vẽ “đòn cân”. Ông đọc bước xuống trước bảng đen. Ông vừa đọc: tiếp “miệng túi càng khôn thác lại rồi”, ông vừa vẽ, bên đòn cân “miệng túi”. Rồi không nói một tiếng, ông cười. Rồi cả lớp chúng tôi mới hiểu hết ý của bài thơ, đều cười rộ lên.

Lên 2è année, ngoài giờ Annamite, chúng tôi còn có giờ chữ nho (Caractères chinois). Giáo sư dạy Annamite và Caractères chinois ở các lớp trên là ông Cao Đình Nam. Ông Nam có soạn quyển Chinh phụ ngâm để dạy trong các trường Trung học. Ông Nam già, đi dạy bịt khăn đóng, mặc áo dài. Tôi có học với ông một năm. Khi giảng bài, ông đọc thuộc lòng cả đoạn dài chữ nho. Học sinh ngồi ở dưới làm hoặc học các môn khác, vì chữ nho có trong chương trình học chớ không phải là một môn thi.

Thật sự, nếu tôi thích, biết thưởng thức văn chương Việt Nam và hiểu được chút ít chữ nho, là nhờ học lâu với ông Nguyễn văn Nho.

Ông Nguyễn văn Nho, người Bắc, là một giáo sư có danh thời bây giờ. Ông viết Pháp văn nổi tiếng nhờ tác phẩm :“Les souvenirs d’un étudiant” của ông. Trong kỳ thi văn chương của báo Indochine tổ chức, ông được giải nhì; giải nhứt do Nguyễn tiến Lãng đoạt với quyển “Eurydire”. Ông nói tiếng Pháp rất trôi chảy. Tới giờ vào lớp chuông reo, từ phòng giáo sư các giáo sư đi ra, thường nghe tiếng ông sang sảng, nói nhanh như gió, chỉ phải cái giọng “ăn phanh: enfin, le matanh: le matin” của ông mà học sinh đứng xếp hàng trước lớp đều mỉm cười. Nổi danh vì francais mà lại dạy annamite và Caractères chinois. Nghe nói ông có thú nhận rằng ông không giỏi chữ nho, nhưng vì hồi nhỏ, khi đi thi diplôme, ông cao hứng thi chơi (épreuve facultative) được mention Caractères chinois, nên nay ông phải lãnh dạy môn nầy. Ông dạy chúng tôi suốt 6, 7 năm liền, từ 2è année đến hết 3è secondaire năm cuối cùng. Là người giỏi tây học, nên dẫu dạy Văn chương Việt Nam hay Hán tự, ông cũng giảng rất rành mạch. Caractères chinois, ở lớp dưới ông bắt học từng chữ, làm từng câu, rồi mới dạy “Tam tự kinh”, “Tân quốc Văn”. Lên lớp trên, ông giản “tứ thơ”, “ngũ kinh”.

Chính nhờ ông mà chúng tôi mới mở mang trí óc, mới hiểu rộng biết nhiều. Đến giờ ông, chúng tôi rất thích mà cũng rất sợ. Thích vì ông giảng bài rất hấp dẫn, cho chúng tôi những nhận xét mới lạ. Sợ vì sơ sẩy một chữ là OO. Giờ caractères chinois bị kêu lên bảng trả bài: Viết đúng 9 chữ, trật một chữ là OO. Trái lại, ngồi tại chỗ, khi ông hỏi, đưa tay, nói trúng một chữ cũng được 20/20. Vì vậy mà học sinh học bán sống bán chết, trong tập brouillon viết đầy chữ nho cho thuộc làu, cho nhớ không sai một nét.

Tôi còn nhớ rành mạch một số câu mà ông đã dạy chúng tôi cách nay hơn nửa thế kỷ. Câu “Phụ mẫu chi niên, bất khả bất tri giả”. Vì tinh nghịch, hay để cho có vần dễ nhớ, chúng tôi thêm vào: “Bà già có con không gả, lại bắt đi học secondaire”. Học secondaire local (Ban tú tài Bổn quốc) lúc đó chỉ có một hai chị học thôi. Nữ sinh đầu tiên là chị Ngọc, năm 1929, vào học chỉ học được một năm rồi thôi, không đi đến cùng. Sau đó mỗi năm cũng chỉ có một hai chị. Cùng lớp với chúng tôi có chị Phan thị Liễu, chị học giỏi, đi đến cùng, đậu Bac local, và ra Hà nội để trở thành kỹ sư Canh nông và vợ của Diệp Ba một bạn học Petrus Ký cũ.

Vì tú tài bổn quốc chương trình rất nặng. Ngay bọn nam nhân chi chí của chúng tôi mà còn có nhiều người phải bỏ cuộc giữa đường. Mấy chị là quần vận yếm mang, lại bị bắt buộc theo học ban nầy, vì vậy nên mới có lời trách Bà già trong phần thêm vào câu trên.

Lại một câu khác của Khổng Tử: “Phụ mẫu tồn, bất khả viễn du” thì được chúng tôi dịch là: “Cha mẹ còn không nên di dù”. Câu sau này, dưới thời phong kiến thực dân, đem ra dạy còn được, chớ trong nước Việt Nam quang vinh ngày nay, dưới chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa của ta, thì sai bét. Vì ngày nay, nếu cha mẹ nào không bỏ xứ ra đi được, thì cũng lo cho con cái “viễn du” và gia đình nào có nhiều con cái viễn du, nghĩa là theo Khổng Tử, nhiều con cái bất hiếu, đó là gia đình có phước.

Để dạy làm câu, Cụ Nho có cho làm những câu vắn tắt như “Tự hữu hỏa xa, vãng lai tiện lợi”. Một lần, học sinh phải làm câu với chữ “yếu” là quan trọng. Một bạn đã viết: “Mạnh yếu, nhơn bất đồng lực”. Một câu vá quàng, trong đó :“mạnh”“yếu” là hai từ thuần việt, mà bạn lấy làm khoái chí. Nhưng khi thầy sửa bài, đọc lên, cả lớp thầy trò đều cười ngất.

Gần 20 năm sau, khi tôi trở vào Petrus Ký, gặp lại ông còn đi dạy nhưng mang một bệnh nan y: phong đơn. Tuy không lở lói, nhưng mặt nổi u nầng, hai bàn tay sưng phù. Gặp ông mỗi lần từ xa tôi phải lật đật chắp tay xá trước, không thì ông đưa tay cho bắt là nguy.

Nghe nói chuyện nầy, tôi thuật lại đây với sự “dè dặt thường lệ”. Ông Nho nghĩ rằng tiền hưu trí của ông sau này thì cao, các con đều lớn, ông thì già yếu tật bệnh, sợ không sống lâu, lãnh không mấy năm thì tiền hưu trí nầy cũng mất. Nên ông cho biết, ông sẵn sàng làm hôn thú với một bà nào đồng ý, và chỉ làm hôn thú thôi, chớ không đòi hỏi gì, để sau khi ông đã mất, bà này được tiếp tục lãnh hưu bổng của ông cho đến mãn đời. Hồi đó, chúng tôi chưa nghe có bà nào đáp ứng đề nghị “nhân đạo” của ông. Chúng tôi cho rằng, chắc cũng có bà thấy số lương hưu trí của ông thì ham, nhưng chưa bà nào dám nhào vô kiếm ăn, vì sợ thình lình, cụ Nho cao hứng, trình hôn thú, đòi thực hiện quyền làm chồng thì chết một cửa tử!

Vì học chữ nho nhiều mà một lần tôi bị zéro toán. Dạy Math chúng tôi năm đó, năm 2è année, là thằng “Gaudry”. Gaudry hay mặc paletot croisé. Khi giảng bài, anh ta vừa viết, vừa nói tiếng éo éo, áo croisé mở nút, tay chống nạnh, che khuất cả bảng đen. Học trò Taberd giỏi toán có tiếng. Tôi ở 1ère année, môn toán cuối năm, được khen, trong Palmaris có mention mà nay theo không kịp, đành bỏ trôi luôn, nên hồi đó tôi là một học sinh dở toán nhứt lớp suốt mấy năm còn lại ở trường. Gaudry tuy vậy cũng có chỗ dễ chịu. Dọn bài không thuộc bảo đem tập brouillon lên; thấy có học, có soạn bài, có viết ra thì cho 05/20,06/20. Một lần tôi bị kêu. Tất nhiên là tôi không thuộc bài. Đem tập brouillon lên, anh ta lật kiếm, từ sau đến trước, từ trước ra sau, thấy toàn là chữ nho, không một chữ về toán. Anh ta hỏi:

-Où est votre préparation? (Bài soạn của anh đâu?)

Tôi lắc đầu. Nổi giận, anh ta ném tập brouillon, đuổi tôi về chỗ và cho zéro.

Một vị thầy khác không dạy văn chương mà dạy Sciences naturelles (Vạn vật) cũng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm, vì cũng như Cụ Nho, ông đã dạy chúng tôi nhiều năm, và nhứt là vì những lúc lạc đề rất thích thú của ông, đó là ông Giung. Tấn sĩ Henri Nguyễn Thành Giung, cũng dạy tôi suốt 6, 7 năm, từ 2è année tới 3è secondaire. Ông mặt mày coi có vẻ lắm, nhưng chỉ vì người lùn thấp mà giảm hết oai phong. Học sinh thường gọi ông là “Giung lùn”.

Có lẽ vì chương sciences naturelles lớp nào cũng dài mà chỉ có hai giờ mỗi tuần. Hơn nữa, thời đó giáo sư không bị bắt buộc có và theo sát “giáo án”, nên vô lớp ông đọc cours cho học sinh chép muốn hụt hơi, cũng không kịp, phải chừa lỗ hang, để về Etude, mượn tập của nhau mà bổ khuyết. Tuy vậy, nhiều lúc cao hứng, ông nói chuyện lạc đề hằng giờ. Những lúc này, học sinh rất thích, vì được nghe ông nói chuyện khỏi chép bài, trả bài. Tuy là lạc đề, nhưng đều là những chuyện khoa học, văn chương. Ông thường trách mấy bà nội trợ, tại sao nấu cơm lại phải chắt nước, ông biểu hỏi mấy cô làm sao cho bánh bò ổ có rễ tre nhiều, bánh bò ngang tay nứt cho đều… Khi bị gọi lên bảng, một học sinh mà trả lời mù mờ, không rõ, ông thường đọc mấy câu ca dao:

-Chị kia, bới tóc đuôi gà
Nắm đuôi chị lại hỏi nhà chị đầu?
-Nhà tôi ở dưới đám dâu
Ở trên đám đậu đầu cầu ngó qua
Ngó qua đám bắp trổ cờ,
Đám dưa trổ nụ đám cà trổ bông.

để cho biết rằng người mình nói chuyện rất rõ ràng, chỉ nhà như vậy dầu cho khù khờ đến đâu, cũng kiếm được dễ dàng.

Ông cũng thường đọc mấy câu Kiều tả mả Đạm Tiên, để chứng minh rằng văn chương Việt Nam cũng rõ ràng chính xác, không thua văn chương Pháp hay bất cứ xứ nào. Trong các quyển truyện Kiều, xuất bản thời đó, đoạn tả mả Đạm Tiên:

Nao nao dòng nước uốn quanh
Nhịp cầu nho nhỏ, cuối gành bắt ngang
Sè sè nấm đất bên đàng
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Tôi cũng hiểu bốn câu thơ này là một bức tranh tuyệt tác, gây nhiều tình cảm… Nhưng khi đọc đi đọc lại câu:

“Sè sè nấm đất bên đàng”, tôi không thỏa mãn.

Mả Đạm Tiên là một mả đất. Lâu ngày trải qua nhiều năm mưa nắng, nên làì xuống, thấp lần, bị cỏ héo bao phủ lên. Như vậy “sè sè” là lài lài, thấp lần xuống… Giải thích như vậy cũng có lý, nhưng có vẻ gượng gạo làm sao.

Trong ngôn ngữ miền Nam, từ kép “sè sè” là một từ chỉ một thính giác (une sensation auditive). Người ta nói: nước chảy nghe sè sè; hơi xì nghe sè sè… Chớ không bao giờ nghe nói; đống cát thấy sè sè; đổ lúa cho sè sè ra… Có thể nói “sè sè” là một onomatopée (từ đặt ra theo âm thanh). Trong bốn câu tả mả Đạm Tiên, “sè sè” được dùng để chỉ một thị giác (une sensation visuelle) để tả, để cho thấy mả Đạm Tiên. Nếu “sè sè” là lài lài, thấp lần xuống, lại thêm bị cỏ mọc lên trên làm sao nấm mộ đập vào mắt của Thúy Kiều được?.

Khi nghe ông Giung đọc lại bốn câu thơ trên, mà ông không đọc “sè sè”, ông đọc là “sờ sờ”:

“Sờ sờ nấm đất bên đàng” tôi thích thú vô cùng. Không giải thích dài dòng, chỉ thay hai tiếng “sè sè” bằng hai tiếng “sờ sờ” cũng đủ làm cho mả Đạm Tiên nổi bật lên rõ ràng, chính xác hơn gấp bội… Từ kép “sờ sờ” là một từ để chỉ một thị giác mà là một thị giác mảnh liệt. Vì thế nên Thúy Kiều mới bị xúc động mạnh, cho đến đổi đêm đó về Thúy Kiều không ngủ được, nhớ mãi Đạm Tiên nhớ đến người:

Sống làm vợ khắp người ta
Đến khi thác xuống làm ma không chồng.

để rồi, bây giờ nấm mồ còn đó, còn sờ sờ, nhan nhản, lộ lộ, trở thành một “nấm mồ vô chủ, ai mà viếng thăm”. Rồi Thúy Kiều khóc, than, làm cho Thúy Vân phải thức dậy mà trách chị “khéo dư nước mắt khóc người đời xưa”.

Ông Giung là người Sadec, dân Pháp. Sau được bổ nhiệm Hiệu trưởng Collège Mỹ tho, vị Hiệu trưởng Việt Nam đầu tiên của trường nầy. Trong “Chánh phủ Nam Kỳ quốc”, ông giữ chức Tổng trưởng giáo dục.

Nay hơn 60 năm sau, vì mổ xẻ, đau yếu, nằm nhớ lại như mới hôm nào, những kỷ niệm của thời học sinh xa xưa.

Trong các vị “cha tinh thần”, xin mượn lời của một học trò cũ, ở Mỹ dùng với tôi trong một bức thư mà tôi đã nhận được, trong các vị cha tinh thần, được nhắc đến ở đây, chắn chắn không vị nào còn. Mặc dù lời lẽ dùng để nhắc đến các vị có vẻ ngang ngược – các ngang ngược ngông của tuổi trẻ – nhưng lòng của chúng tôi đối với các vị thật là lòng kính trọng và thương nhớ của những đứa con không bao giờ quên ơn dạy dỗ.

Còn đối với các bạn chắc cũng còn mấy người. Nếu rủi ro mà những hàng thô thiển này qua trước mắt các bạn, dầu cho các bạn ở đâu, trong xó nào, hoàn cảnh nào, ở vĩ tuyến nào, không biết các bạn còn những cảm giác vui buồn như tôi không? Vui vì được sống lại, dầu bằng tư tưởng trong giây phút, những ngày mà tâm hồn còn trong trắng, chưa bị khuấy đục bởi mọi tham vọng…., nhưng buồn vì tiếc rẻ những ngày ấy đã qua mà không bao giờ được thấy trở lại, buồn nhứt là các bạn còn sống sót không mấy người, mà không còn gặp lại nhau được, mà dầu có gặp lại nhau đi nửa, thì cũng với những tâm trạng không còn như xưa chút nào…

Trên kia, tôi có gọi giáo sư dạy toán, M.Gaudry là “thằng”. Không bao giờ tôi có ý nghĩ khinh miệt chút nào, và cũng không bao giờ cho rằng Gaudry, hoặc các vị thầy người Pháp là thực dân xâm lược. Đó chẳng qua là vì thói quen, là vì muốn gợi lại cái không khí xa xưa. Thuở đó, vào những năm 1930…, học sinh Petrus Ký có thói quen gọi các giáo sư người Việt Nam, không phân biệt già trẻ, bằng “ông”: Ông Cảnh, Ông Nguyên, ông Duyên, Ông Kiêm…

Thuở đó, chưa có nữ giáo sư Việt Nam dạy Petrus Ký.

Các giáo sư người Pháp, đàn ông, đều là “thằng” tất cả, dầu là Hiệu trưởng, Giám học hay dạy lớp: thằng Valencot, thằng Boulé, thằng Marquis, thằng Astaneyras… Đàn bà thì được gọi là “Bà”: Bà Revertégat, Bà Gioan (vợ thằng Gioan), Bà Caricaburu…

Tiếng “thầy” được dành cho các Giám thị, và các thầy ở văn phòng: Thầy Giá, thầy Ca, thầy Bích, thầy Muôn…. Chỉ trừ vài cụ già được gọi là Ông: Ông Thưởng, Ông Mộc, Ông Đực….

Trong trường, các giáo sư, giám thị, có “Ông” khó, “Ông” dễ, có những “thầy” gắt, “thầy” hiền. Vì thế, lúc còn học ở trường tình cảm, thái độ, của chúng tôi đối với các ông, các thầy khác nhau, thương hay ghét, kính sợ hay phá phách, và đôi khi cũng có đứa nghinh ngang, vô lễ, đó chẳng qua là vì còn trẻ dạ, non lòng.

Nhưng khi đã rời khỏi trường, đã đối đầu với cuộc sống, trong chúng tôi cũng có người có được địa vị, nhưng khi gặp lại các ông, các thầy, chúng tôi đều chắp tay cúi đầu chào hỏi; khi chúng tôi gặp lại nhau nếu có nhắc đến ông nầy, thầy kia, thì chỉ để cười chơi, để gợi lại những kỷ niệm vui buồn của thuở thiếu thời, chớ thật ra, từ hồi đó đến nay không thấy học trò nào cố oán, hoặc tìm tâm để trả thù xưa, rửa hận cũ. Nếu nghe nói có con tố cha mẹ, học trò tố thầy, thì những chuyện đó đã xảy ra ở xứ nào, ở tận đâu, chớ ở Nam Kỳ quốc nầy, từ hồi nào, chưa thấy. Trái lại sau những cuộc bể dâu, biết bao nhiêu người cha tinh thần phải sống cuộc một cuộc đời cơ cực, nhưng có không ít người vẫn được những đứa con bất hiếu, đã viễn du, còn nhớ đến vài phút giúp đỡ.

Nếu các ông, các thầy đã la rầy quở phạt, mà thuở nhỏ, chúng ta nông nổi cho là xấu, là ác, thì rồi khi lớn lên, tự nhiên chúng ta cũng đã quên hết, chúng ta chỉ còn nhớ đến cái lành, cái thiện, là công ơn dạy dỗ mà thôi. Và nếu hận thù mà có, mà còn, thì đó chỉ là vì xã hội cố tâm nhắc nhở, khêu gợi, kích động, xuôi dục vì một mục đích nào đó, để đấu tố, hành hạ, giết chóc lẫn nhau mà thôi.

Tôi có một người anh cột chèo: anh Nguyễn Văn Nhung. Anh là Cộng sản chính cống, đảng viên 1930. Sau 1945 dưới chánh quyền Việt Minh, anh là chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Long Xuyên. Khi Pháp trở lại, anh tập kết ra Bắc. Cách mạng thành công, anh trở về. Trong lúc đó, con tôi, thằng Đạt, phải đi học tập cải tạo.

Tôi có nhờ anh bảo lãnh. Một lần anh đau, nằm Bệnh viện Thống Nhứt. Tôi đến thăm anh. Anh cho biết, cũng nằm dưỡng bệnh ở đây có ông giáo sư Đặng Minh Trứ, ông đau bán thân bất toại… Tôi vực kêu lên “Ông Trứ là thầy tôi! Để chừng ra về tôi sẽ ghé thăm ông”.

Nhưng khi ra về tôi về tôi lại về luôn… Lòng buồn ủ rũ… Tôi tự nhủ thầm: “Con xin lỗi thầy! Con vẫn nhớ ơn thầy dạy dỗ… Bây giờ, thầy có công với Cách mạng. Tuy đau yếu, nhưng thầy được săn sóc đầy đủ… Nếu con vào thăm thầy… sau hơn 30 năm, thầy làm sao nhớ được con… Rồi con phải dài dòng kể lể… học năm nào lớp nào… sau đã làm gì… Thật ra con cũng không làm gì để xấu hổ phải dấu diếm, con cũng đi dạy học, tiếp tục cái nghề của thầy. Nay nếu con vào thăm thầy, sự thăm viếng nầy có đem lại cho thầy chút an ủi nào trên giường bệnh không? Nhưng đối với con, con thấy sao nó ngỡ ngàng quá! Con đành chịu tiếng vong ân vậy….

Ông Đặng Minh Trứ là một giáo sư cử nhơn khoa học, ông dạy tôi mấy năm cuối Ban tú tài Bổn quốc ở Petrus Ký. Đi dạy, ông luôn luôn ăn mặc đững đắn, hợp thời trang. Mười mấy năm sau, khi trở lại Petrus Ký dạy học, nghe nói ông đã đi kháng chiến, tôi lấy làm ngạc nhiên, vì một người hào hoa phong nhã như ông, đành bỏ đi cuộc sống xa hoa sung sướng ở đô thị, để chọn một cuộc đời gian lao khổ cực trong bưng là một việc ít có, ít người làm được.

Sau được biết, sở dĩ ông bỏ đi bưng là vì ông tránh để khỏi làm Tổng Trưởng giáo dục.

Để thay thế ông Trương Vĩnh Khánh, Tổng trưởng Giáo dục lúc đó trong Chánh phủ Nam kỳ quốc, bị chết trong một trận phục kích, cùng với tướng Chanson(?), ông Trứ được mời làm Tổng trưởng giáo dục, nên phải bỏ đi… Và trong suốt thời gian kháng chiến, trong Chánh phủ lâm thời của miền Nam giải phóng, cũng không nghe nói ông đã giữ chức vụ gì….

Ít lâu sau, được biết ông Đặng Minh Trứ đã mất… mà người anh cột chèo của tôi cũng không còn.

Chuyện đã xảy ra gần 20 năm rồi. Nay mỗi lần nhớ đến, tôi tự nhủ cho mình đã sái, đã quấy. Nhưng ở đời, mình đâu phải là thánh nhơn hay là anh hùng. Đôi khi cũng phải làm một việc gì, dầu biết đó là sái quấy, nhưng không hại ai, để mình mới còn là con người, nhứt là khi mình may mắn được sống trong một nước có nhiều anh hùng và có đủ các thứ, các loại anh hùng như nước Việt Nam quang vinh của ta ngày nay.