Chương 26

Trường Petrus Ký và Nhà Bác Học Trương Vĩnh Ký

Giáo Sư Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Liêm

(Bài viết được trích từ Đặc San Petrus Ký 1998, Số Đặc Biệt kỹ niệm giỗ 100 năm Nhà Bác Học Petrus Ký, do Liên Hội Ái Hữu Petrus Ký Bắc và Nam Cali thực hiện).

(nguồn: Quyển Tuyển Tập về “Hiện Tượng Trương Vĩnh Ký” – 2005)

tri an Petrus Ky

Tôi là người rất có duyên với trường Petrus Ký. Tôi đã có cái may mắn học ở đó, dạy ở đó, và làm hiệu trưởng ở đó một thời gian. Bởi có duyên nợ đó cho nên từ ngày lìa bỏ quê hương đến giờ tôi không lúc nào quên được trường Petrus Ký cũng không lúc nào quên được thủ đô Sàigòn. Trường Petrus Trương Vĩnh Ký – thường được gọi tắt là trường Petrus Ký – là một trường trung học dành riêng cho nam sinh lớn vào bậc nhất và cũng nổi tiếng vào bậc nhất ở miền Nam Việt Nam từ xưa đến giờ.

Nói là từ xưa nhưng thật sự trường Petrus Ký ra đời trễ hơn một số các trường trung học khác ở Việt Nam hồi thời Pháp thuộc. Trường Quốc Học đã được 100 tuổi từ 1996, trường Nguyễn Đình Chiểu (tức Collège Le Myre de Vilers) Mỹ Tho cũng đã được 100 năm từ 1979, trường Phan Thanh Giản Cần Thơ tuy ra đời muộn vào năm 1926 vẫn còn lớn hơn trường Petrus Ký đến hơn 1 tuổi.

Thập niên 1920-29 là thập niên được đánh dấu bằng sự sôi sụt đấu tranh đòi tự do dân chủ của những nhà trí thức dân tộc Việt Nam giữa lúc chủ trương Pháp Việt đề huề của chánh phủ mới bên Pháp được thực dân làm chiêu bài chính trị. Bùi Quang Chiêu và đảng Lập Hiến đã có nhiều bài vở đăng trong tờ La Tribune Indigène đòi hỏi những quyền lợi chánh đáng cho người dân bản xứ trên các lãnh vực chánh trị, kinh tế, xã hội và giáo dục. Nguyễn Phan Long cũng tranh đấu cho những mục tiêu trên qua tờ Écho Annamite của ông. Nguyễn An Ninh từ Pháp về lập tờ la Cloche Fêlée làm cơ quan ngôn luận đấu tranh chống chánh sách cai trị của thực dân Pháp. Phan Chu Trinh cũng từ Pháp về Sàigòn đi diễn thuyết nhiều nơi đã kích chế độ phong kiến và xã hội hũ lậu cũ kỹ của nhà nho, kêu gọi canh tân xứ sở. Phan Bội Châu bị bắt từ Thượng Hải được giải về Việt Nam xử án. Các nơi biểu tình đòi hỏi trả tự do cho cụ. Song song với các cuộc đình công bãi thị là cuộc bãi khóa của học sinh trường Collège de Mỹ Tho và nhiều trường khác trên toàn quốc. Khi cụ Phan Chu Trinh mất (1926) ở Sài gòn trên 14 vạn người đi đưa đám tang khiến cho chánh quyền thuộc địa phải nể nang lo sợ. Ngày Bùi Quang Chiêu đi vận động chánh trị ở Pháp về có 60 ngàn người tập hợp đón tiếp ông ở bến tàu Sài gòn, nêu cao khẩu hiệu đòi tự do dân chủ.

Trước không khí sôi sụt đấu tranh của dân bản xứ, chánh quyền thực dân phải xoa dịu bằng cách thỏa mãn một số yêu sách của họ, nhất là những nhu cầu giáo dục. Trường Phan Thanh Giản (Collège de Cần Thơ), trường Petrus Ký (Collège de Cochinchine) và trường Gia Long (Collège des Jeunes Filles Indigènes) ra đời trong hoàn cảnh chính trị nói trên. Riêng về trường Trương Vĩnh Ký thì họa đồ xây cất được một kiến trúc sư người Pháp là Hébrard de Villeneuve vẽ hồi năm 1925.

Trường xây cất trên hơn 1 năm. Niên khóa đầu tiên được khai giảng hồi tháng 9 năm 1927 với bốn lớp học sinh Việt Nam chuyển từ trường Chasseloup Laubat sang. Trường được mang tên tạm là Collège de Cochinchine. Năm sau Thống Đốc Nam Kỳ là Blanchard de la Brosse lấy tên nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký đặt cho trường, biến cho trường nầy thành một Lycée (trung học đệ nhị cấp), đặt tượng đồng bán thân Petrus Ký vào giữa sân trường, và chánh thức khánh thành Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký vào năm 1928.

Từ lúc ra đời cho đến năm 1975, trong suốt 50 năm hoạt động, trường đã làm tròn sứ mạng văn hóa giáo dục mà giới trí thức tân học Việt Nam đã giao phó. Thật ra thì trường trung học phổ thông nào cũng có cùng một vai trò như nhau của một định chế xã hội. Vai trò đó là xã hội hóa (socialization) con người bằng cách trang bị cho học sinh một số những kiến thức (knowledge) và kỹ năng (skills) cần thiết để một mặt có thể sinh hoạt hữu hiệu ở ngoài đời và mặt khác chuẩn bị cho họ có đủ khả năng cần thiết để tiếp tục lên các đại học chuyên khoa nếu họ muốn. Trường Petrus Ký cũng chỉ đóng vai trò đó của một định chế xã hội như những trường trung học đệ nhị cấp trên toàn quốc thôi. Cái khác biệt của trường Petrus Ký là ở chỗ nó đóng vai trò đó xuất sắc hơn những trường phổ thông cùng loại.

Xuất sắc ở chỗ nó trang bị cho học sinh đầy đủ một cách vững vàng hơn khiến cho học sinh Petrus Ký chiếm được nhiều chỗ hơn ở trên đại học dù ở trong nội địa hay ở hải ngoại. Ở ngoài xã hội hay trong học đường cũng thế, chỗ nào cần có sự chen đua, cạnh tranh (competition), đòi hỏi thi thố tài năng, thì ở đó người học sinh Petrus Ký có nhiều ưu thế để dành phần thắng, Sự xuất sắc đó có được là nhờ ở sự kết hợp của nhiều yếu tố từ lãnh đạo (leadership), điều hành (management), giảng huấn (teaching) đến khả năng học hỏi của học sinh (scholastic aptitude) và sự yểm trợ (support) của nhiều cơ quan và thành phần xã hội. Ban giám đốc, giáo sư, học sinh, tất cả đều được chọn lọc rất kỹ. Trường được sự chú ý, chăm sóc và yểm trợ của chánh phủ, nhất là Bộ Giáo Dục, của các hội Phu Huynh học sinh và ái hữu Petrus Ký, của nhiều nhân vật quan trọng và của cả Cộng đồng hay dân chúng nói chung.

Bao nhiêu người đặt niềm tin tưởng ở nơi trường. Bao nhiêu người mong muốn con mình được học nơi đây. Bao nhiêu người thương mến, có cảm tình với trường nầy, với giáo sư, cũng như với học sinh của trường. Bao nhiêu những nhân vật quan trọng đến viếng thăm trường từ các Tổng, Bộ Trưởng, Chủ Tịch Quốc Hội, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện đến Tổng Thống và các chính khách ngoại quốc. Sự viếng thăm thường cũng như sự thường đến chủ tọa hay tham dự các buổi lễ phát phần thưởng hay ngày truyền thống của trường của các nhân vật quan trọng rất hữu ích trong việc khích lệ tiến trình dạy dỗ/ học hỏi (teaching/ learning process) ở nơi giáo sư và học sinh.

Thành tích học vấn xuất sắc của học sinh Petrus Ký có thể được nhìn thấy qua một vài con số sau đây trong quyển kỷ yếu của trường hồi niên khóa 1972-73. Về kỳ thi Tú TàI II năm nầy, ban A có 101 học sinh dự thi, đậu hết 101 em với 2 người hạng Ưu, 10 người hạng Bình, 25 người hạng Bình Thứ, tỷ lệ 100%.

Ban B có 419 học sinh dự thi, tất cả đều trúng tuyển với 11 Ưu, 53 Bình, 114 Bình Thứ, tỷ lệ 100%. Ban C có 52 người dự thi, trúng tuyển 52 với 7 Bình Thứ, tỷ lệ 100%. Học sinh Petrus Ký khi ra đời thường giữ địa vị khá quan trọng và đã từng đóng góp nhiều cho xứ sở. Những người xuất thân từ trường Petrus Ký trong các thập niên 1930 và 1940 là những người đã góp phần rất nhiều trong việc làm nên lịch sử của miền Nam Việt Nam thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Ở phía Lập Pháp các vị Chủ Tịch Quốc Hội là Trương Vĩnh Lễ và Chủ Tịch Thượng viện là Trần Văn Lắm đều xuất thân từ trường Petrus Ký. Phía Hành Pháp rất nhiều Tổng Bộ Trưởng và Thứ Trưởng ở các ngành đã xuất thân từ trường nầy. Như các ông Nguyễn Văn Vàng, Trần Hữu Phương, Nguyễn văn Diệp, Trương Thái Tôn, Châu Kim Nhân, Nguyễn Ngọc An, Nguyễn Tăng Nguyên, Lâm văn Trí, Ngô Ngọc Đối, Cao văn Thân, Lê Tuấn Anh, Nguyễn văn Thơ, Ngô Khắc Tĩnh, Phạm Minh Dưỡng, Trần Minh Tùng, Trần Lê Quang, Lê văn Thu, Phạm Đăng Lâm, Đỗ Bá Khê, Lê Quang Giản, Nguyễn Thanh Liêm, v.v…Đặc biệt là ở lãnh vực tư pháp, trong số 9 vị thẩm phán tối cao pháp viện VNCH nhiệm kỳ II thì hết 7 vị là người xuất thân từ trường Petrus Ký. Đó là các thẩm phán Trần văn Liêm, Trần Minh Tiết, Trần Khương Trinh, Mai văn An, Nguyễn văn Biện, Trần văn Thuận và Nguyễn An Thông. Nhân tài xuất thân từ trường nầy còn nhiều nữa chớ không phải một số ít như đã kể ở trên. Đây là những thí dụ điển hình nêu ra để cho thấy vai trò quan trọng đặc biệt của trường.

Với tầm vóc và cung cách quan trọng đó trường được vinh dự mang tên nhà bác học và nhà văn hóa nổi tiếng của Việt Nam là Ông Petrus Trương Vĩnh Ký.

Ông ra đời năm 1837 tại Vĩnh Long, nhỏ hơn Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến 2 tuổi. Lúc nhỏ Ông cũng học chữ Nho như các nhà Nho cùng thế hệ. Nhưng khi cha mất lúc Ông mới được 3 tuổi thì ông được các Linh mục đem về nuôi dưỡng, cho học chữ Quốc Ngữ, tiếng La Tinh, rồi đưa đi học tại các chủng viện ở ngoại quốc. Cái học của Petrus Ký khác hẳn cái học của các nhà nho đồng thời với ông, bắt đầu từ lúc đó. Thay vì theo học chữ Nho, dồi mài kinh sử để thi Hương, thi Hội, thi Đình, lấy Tú Tài, Cử Nhân, Tiến Sĩ rồi ra làm quan triều đình như Nguyễn Khuyến và các nhà nho khác, Petrus Ký lại được học tiếng La Tinh, tiếng Pháp và bao nhiêu thứ tiếng khác cùng với những nền văn hóa khác, nhất là nền văn minh khoa học Âu Tây. Khi Ông trở về nước lúc thân mẫu qua đời thì ông đã có một quá trình học vấn và một vốn liếng kiến thức khác hẳn sự học hỏi và hiểu biết của các nhà nho cùng thời. Khi cái vốn hiểu biết sâu rộng đó được dùng để khảo cứu, biên soạn, giáo huấn trong nổ lực xây dựng một nền văn chương và học thuật mới thì hoàn cảnh xã hội cũng trở nên vô cùng thuận tiện để giúp ông thành công tốt đẹp. Đây là lúc Pháp bắt đầu đô hộ miền Nam và đang bành trướng thế lực xâm lăng ra miền Trung và miền Bắc.

Cùng lúc với sự thất trận và mất chủ quyền của triều đình Huế, nền học thuật cũ cũng như sự ngự trị của nho gia trong xã hội cũ cũng hoàn toàn sụp đổ theo, trước hết là ở miền Nam hồi hạ bán thế kỹ thứ XIX và sau đó ở miền Trung và miền Bắc vào đầu thế kỷ XX. Hoàn cảnh chánh trị xã hội đó là điều kiện vô cùng thuận lợi để xây dựng và phát triển nền văn chương và học thuật mới mà Petrus Trương Vĩnh Ký là người đã đóng vai trò quan trọng nhất. Nói đến Petrus Trương Vĩnh Ký là phải nói đến vai trò “khai đường mở lối” của ông trên các địa hạt sau đây:

1- Dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nôm và chữ Hán trong việc biên khảo trước tác. Chữ Quốc Ngữ đã được các vị cố đạo Âu Châu sáng chế từ mấy thế kỷ trước nhưng chỉ được dùng trong phạm vi tôn giáo của riêng Thiên Chúa Giáo mà thôi. Petrus Ký là một trong hai người đầu tiên dùng thứ chữ nầy trong địa hạt văn chương nghệ thuật.

2- Viết câu văn xuôi thay lối văn biền ngẫu của các nhà Nho. Trong văn chương chữ Hán và chữ Nôm, không có văn xuôi, tất cả là văn có vần và đối như thi, phú, hát nói… Petrus Ký là người đầu tiên viết văn xuôi trong lãnh vực sáng tác.

3- Xây dựng nền học thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây Phương thay thế nền học thuật cũ của Nho gia. Ông là người đầu tiên đề xướng việc học hỏi khoa học kỹ thuật của văn minh Âu Tây đồng thời bảo tồn và phát huy tinh thần đạo đức của Á Đông. Đó là con đường mà sau đó nhóm Nam Phong tạp chí của thế hệ 1917 sẽ tiếp nối. Đó cũng là tinh thần dân tộc, khai phóng và nhân bản mà nền giáo dục phổ thông của Việt Nam Cộng Hòa dùng làm những nguyên tắc căn bản. Tinh thần tổng hợp nầy được thể hiện trong câu đối khắc trước cổng trường Petrus Ký:

Khổng Mạnh cương thường tu khắc cốt.

Tây Âu khoa học yếu minh tâm

4- Petrus Ký là người đầu tiên làm báo theo đúng nghĩa của một tờ báo. Thật ra thì tờ Gia Định Báo đã ra đời trước khi được giao cho Petrus Ký. Nhưng lúc đầu khi mới ra đời, tờ Gia Định Báo như một tờ tin tức công quyền, chuyên đăng những nghị định, những thông cáo của chánh quyền mà thôi. Khi Petrus Ký trông coi thì tờ báo mới có thêm tin tức và những bài vở có giá trị khảo cứu sáng tác.

Nếu trên hoạn lộ cũng như trên đường khoa cử địa vị của Petrus Ký khiêm nhường bao nhiêu thì trong lãnh vực văn hóa công trình khai đường mở lối của ông sáng chói quan trọng bấy nhiêu. Ông không có Cử Nhân hay Tiến Sĩ gì cả, kể cả bằng Tú Tài cũng không có, nhưng ông có cái vốn liếng học hỏi hiểu biết thật sâu xa rộng rãi hơn tất cả những người Việt Nam cùng thời với ông, nhất là những kiến thức về phương pháp nghiên cứu, và nguyên tắc suy luận tựa trên căn bản khoa học mà người trí thức Việt Nam thời bấy giờ chưa có. Ông không làm được Thượng Thư hay Tổng Đốc gì cả, nhưng ông đã để lại cho các thế hệ sau một sự nghiệp tinh thần vô cùng quí giá mà các bậc khoa bảng thời bấy giờ không có ai làm được.

Cuộc đời làm thông ngôn hay đi dạy học để có đồng lương nuôi sống bản thân và gia đình chưa phải là cuộc đời phụng sự đích thực của nhà bác học nầy. Tâm tư ông, sự làm việc thật sự của ông, cũng như phần lớn thì giờ quí báu của ông được dồn vào công việc nghiên cứu, biên khảo, trước tác. Từ năm 26 tuổi là năm ông bắt đầu xuất bản tác phẩm của ông cho đến năm 61 tuổi là năm ông mất, Petrus Ký không khi nào ngừng hoạt động nghiên cứu. Suốt bao nhiêu năm ròng rã làm việc ông đã để lại cho hậu thế gần 118 tác phẩm gồm đủ loại từ sách giáo khoa, tự điển, những công trình khảo cứu, những bài nhận định, đến những địa hạt phiên âm dịch thuật và một số các trước tác khác.

Sự nghiệp văn hóa phong phú đó được viết một ít bằng tiếng Pháp và phần lớn bằng tiếng Việt và bằng chữ Quốc Ngữ. Cuộc đời hơn 30 năm viết lách của ông quả là một cuộc đời tận tụy miệt mài và công trình biên khảo trước tác của ông quả thật là một công trình qui mô lớn lao đối với những người đi trước ông, đồng thời với ông, hay tiếp nối theo ông.

Sự nghiệp lớn lao đó đã nâng ông lên địa vị một ngôi sao sáng trên vòm trời văn hóa Việt Nam vào cuối thế kỷ thứ XIX.

Tên ông được liệt vào sổ vàng “Toàn Cầu Thập Bát Văn Hào” như Nguyễn Tất Tố đã nói, và ông xứng đáng thuộc về “Thất Tinh Hội Đông Phương” mà tờ “Courrier de Saigon” đã viết.

Trong lãnh vực văn học, công trình biên khảo trước tác của ông đã được các nhà văn học sử và phê bình văn học ở nước ta nhìn nhận và ca ngợi. Trong quyển “Nhà Văn Hiện Đại”, Vũ Ngọc Phan viết:

Ông không những là một nhà văn, một nhà viết sử, một nhà dịch thuật mà còn là một nhà rất giỏi về khoa ngôn ngữ.

Ông thật xứng đáng làm tiêu biểu cho tất cả những người sốt sắng với quốc văn lúc đầu ở Nam Kỳ…Nhưng nếu tất cả những sách rất khác nhau do Trương Vĩnh Ký biên tập, dịch thuật và xuất bản trong thời gian 1863-1869, người ta thấy ông rõ là một nhà bác học có óc tổ chức và có phương pháp, chớ không còn là một nhà văn như những nhà văn khác.”

Linh mục Thanh Lãng trong quyển “Bản Lược Đồ Văn Học Việt Nam” đã cho rằng:”Petrus Ký xứng đáng là một bậc chỉ đạo của thời kỳ này, là linh hồn của thế hệ 1862, ông thầy khai đường mở lối cho thế hệ đến sau tức thế hệ 1913. Riêng đối với nền văn chương chữ quốc ngữ, vai trò đặc biệt của Petrus Ký mới thật sự khai mở một kỷ nguyên mới : “kỷ nguyên văn xuôi.”

Vai trò khai đường mở lối” của Petrus Ký đã được giáo sư Phạm Thế Ngũ nói rõ hơn trong quyển “Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên” là :”Đã đề xướng lên những công việc mà rồi nhóm Nam Phong ngoài Bắc tiếp tục như: Phiên âm văn Nôm cũ, khảo cứu về văn hóa và chế độ nước nhà, sưu tầm những ca dao, tục ngữ, cổ tích của ta, dịch thuật ngoại văn ra quốc ngữ v.v…”

Petrus Ký mất ngày 1 tháng 9 năm 1898. Sang đầu thế kỷ thứ XX hai nhà thơ Nôm nổi tiếng cuối cùng của chúng ta lần lượt ra đi: Trần Tế Xương mất 1907 và Nguyễn Khuyến mất năm 1909. Với cái chết của Tú Vị Xuyên và cụ Tam Nguyên Yên Đổ, một kỷ nguyên xưa vừa khép lại: kỷ nguyên của nền học thuật cũ của Nho gia và của nền văn chương chữ Nôm.

Petrus Ký mất vào gần cuối thế kỷ thứ XIX. Ông mất đi để mở rộng cửa cho thế kỷ XX, cho một kỷ nguyên mới với nền học thuật mới và nền văn chương chữ quốc ngữ.

Trường Petrus Ký, trường trung học nổi tiếng nhất ở miền Nam, khi mang tên ông nó cũng mang cả cái sứ mạng văn hóa giáo dục mà ông đã đề xướng. Từ ngày thành lập, trường luôn luôn làm tròn sứ mạng được giao phó.

Ngày 1 tháng 9 năm 1998 là ngày giỗ 100 năm của nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký, và cũng là ngày kỷ niệm 70 năm thành lập trường trung học mang tên người. Anh em Petrus Ký ở Nam Cali với sự tiếp tay của anh em ở Bắc Cali và sự tham gia của nhiều anh em trên khắp thế giới, sẽ tổ chức ngày trọng đại này. Nhân ngày trọng đại đó, anh em sẽ đồng thanh nói lên lòng mong muốn của mọi người rằng: Petrus Ký hãy trả về cho Petrus Ký.