Hai ông thương, phế binh

Kinh Bồng (Trần công Bình)

Hình minh họa

Tôi viết tựa bài này với sự cẩn thận để cái dấu phết ở giữa hai chữ thương và phế nhằm xác định cho rõ đây là hai dạng lính bị thương khác nhau của hai chế độ chính trị. Nhưng, cũng cần giải thích cặn kẻ để tránh sự hiểu nhầm về ngữ nghĩa.

Trong thể chế Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (ngày nay là Cộng Hòa XHCN Việt Nam) chỉ có danh xưng thương binh, chính thức trong các văn bản nhà nước. Nhưng trong thể chế Việt Nam Cộng Hòa lại có danh xưng thương phế binh để định danh rõ hai loại cấp độ thương tật :thương binh và phế binh.

Việc ấy là trong văn bản nhà nước. Trong dân gian, tự nhiên hình thành cách gọi mặc nhiên: thương phế binh để chỉ lính VNCH, còn thương binh để chỉ lính VN Dân Chủ Cộng Hòa (lính Bắc Việt).

Dài dòng như vậy, nhưng chuyện kể là về hai ông bạn từ thuở đi chăn trâu cho Hội Đồng Kỉnh ở Phước Đông Sơn. Một ông là du kích Xã, rút lên tiểu đoàn địa phương rồi về R (*), bị thương mất một tay được dưỡng thương ở Bắc, tên là Mẹo. Một ông là lính địa phương quân VNCH, đi hành quân bị đạp lựu đạn mất một giò, trở thành thương phế binh tên là Tèo.

Ngày hòa bình thống nhất đất nước, Ông Mẹo từ Miền Bắc trở về quê hương ông bà cha mẹ. Ra đi hai bàn tay trắng, trở về ông được thêm cái ba lô trên cánh tay lành, một bà vợ ở Nông Cống Thanh Hóa và một đứa con gái 6 tuổi ! Sau khi gặp lại cha mẹ, giòng họ, ông Mẹo hỏi thăm và tìm ngay đến ông Tèo,  bạn bè chăn trâu với ông.

Không khó để hai người đàn ông tuổi tứ tuần tìm đến nhau trong một vùng đất nông nghiệp, nơi mà sự phát triển kinh tế chưa biến động lớn, trong khi đó mối quan hệ giòng họ, gốc gác, người ngụ cư nơi khác đến không nhiều. Dù vậy, những ngày tháng đầu tiên nối lại mối quan hệ bạn bè, cả hai cũng không tránh khỏi có những trục trặc, dị biệt, chủ yếu từ khoảng cách thời gian, hai cuộc sống với hai nếp sống khác biệt.

– Mầy đi theo mấy ổng  hơn nửa đời người, sao gia tài chỉ có cái ba lô không vậy ?

Câu hỏi bất chợt khi vừa gặp nhau của Ông Tèo đã làm ông Mẹo nghẹn cả họng và buồn muốn rớt nước mắt. Nhưng, từng tuổi này, cay đắng mùi đời đã lắm, dày dặn sương gió đã nhiều, nước mắt cũng không còn để mà ứa ra được nữa. Tánh ông Mẹo hiền, ít chăm chọc, lại chịu nhẫn nhục quen rồi, cái nhẫn nhục lớn nhất trong đời, ông không chịu được là bạt tay thằng bí thư chi bộ khi đang họp nên bị hắn lấy cớ đó khai trừ. Ông tuột luốt, phải lên rừng đốn củi, bài học đó làm ông trở nên thuần hóa, học lại câu ẩn nhẫn. Do đó, khi bị thằng bạn chăn trâu với mình, nói như khích, làm ông trở nên dửng dưng !

Ngó lại thằng bạn mình, chân bị cụt vẫn phải lê lết vá xe đạp ở góc chợ kiếm sống …?!

Sự dị biệt của thời gian 20 năm, hai không gian sống, không phải một ngày một bữa mà có thể lấy lại cái thâm tình “chăn trâu” khi xưa. Thế nhưng, chính cái tình cốt lõi từ thuở còn móc còng kiếm ăn, rồi cùng vật lộn kiếm sống nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo bởi quá chơn chất, không biết lươn lẹo trong cuộc sống, đã nhanh chóng ráp lại được hai con người, bị thời cuộc phân hóa.

Vậy là sau này dân trong chợ thấy cặp bài trùng Mẹo, Tèo cặp kè bên nhau, người gẫy tay, kẻ cụt giò thường đèo nhau trên chiếc xe đạp đi ăn giỗ trong ấp, Xã. Họ thương nhau vì đã nhận ra số phận như nhau trong hoàn cảnh chiến tranh: cả hai không giàu lên được trong cuộc chiến, trái lại đều để lại chứng tích kẻ cánh tay, người khúc chân khi hòa bình trở lại !!!

Ấy vậy mà hai cái đầu nhập một lại trở nên sáng suốt lạ kỳ, có những lời khuyên chí lý với  bạn bè tín cẩn.

Lời khuyên thứ nhất: Không hiến gì cả.

Hai Đảnh là con của Hội Đồng Kỉnh, học đến trung học Pháp, tham gia kháng chiến chống Pháp làm trưởng ban quân báo Tỉnh. Tập kết ra Bắc trong cải cách ruộng đất bị khai trừ vì có người tố giác là con địa chủ nhưng khai giấu lý lịch. Về Nam, Hai Đảnh hiền như cục đất, lại trở nên ngờ nghệch lơ mơ. Thời kỳ cải tạo tư sản, mấy tay ở Huyện thừa thắng xông lên, nhân cơ hội muốn lấy căn nhà cổ của ông Hội Đồng nên hè nhau o ép Hai Đảnh , trưởng nam trong nhà, đem hiến. Sau cuộc hoạn nạn ở đất Bắc, khác với phản ứng của con người không còn gì để mất của Mẹo, Hai Đảnh mềm như con giun, suýt chút nữa là ký giấy “hiến nhà “?!

Tèo nghe được chuyện do chuyên lượm lặt tin tức làng xã từ địa điểm sửa xe, đã nói với Mẹo. Mẹo từ nhỏ đã kính nể và rất thương anh Hai Đảnh vì tính mã thượng; cậu Hai con ông Hội Đồng nhưng chơi rất ngọt với bọn trẻ chăn trâu. Thế là cả hai Mẹo,Tèo tức tốc đi gặp Hai Đảnh một mực can ngăn. Hai Đảnh tỉnh hồn, hết đờ đẫn từ sau “tai nạn” trên đất Bắc, nghe Mẹo phân tích tình hình về dã  tâm o ép Đảnh của thằng Phó Chủ Tịch. Lúc đó Đảnh mới cương quyết không làm giấy hiến. Hơn chục năm sau, khi Phó Chủ Tịch lên Chủ Tịch rồi ở tù vì một vụ tham ô, trong phe nhóm khác mới xì ra hắn lúc đó lấy cớ hiến để làm trường học, nhưng sẽ hoán đổi thành tài sản cá nhân rồi đem bán. Căn nhà của Hội Đồng Kỉnh sau này Hai Đảnh bán được cả ngàn cây vàng. Mang ơn Mẹo, Tèo, Hai Đảnh có cho hai anh tiền làm vốn để con kinh doanh.

Lời khuyên thứ hai: Chống thành lập Tổ Hợp Tác Sửa Chữa Xe Đạp

Lần đó không chỉ là khuyên mà là chống lại đề xuất thành lập Tổ Hợp Tác Sửa Chữa Xe Đạp. Người đứng ra chống không ai khác hơn là Ông Mẹo, người đã từng có kinh nghiệm 20 năm sống ở Xã Hội Chủ Nghĩa. Trong cái không khí say men của phong trào hợp tác hóa, thành tích xây dựng hợp tác xã và Tổ hợp được đánh giá bằng những con số cộng các Tổ Hợp và Hợp Tác Xã thành lập được Trưởng Phòng Kinh Tế đệ trình lên Huyện.

Nghe ông Tèo nói, ông Mẹo tức tối, mặc chiếc áo sơ mi dài tay chỉnh tề, cột chiếc tay áo phải thừa ra vì cánh tay cụt tới khểu vai, đi thẳng Ủy ban đòi gặp Chủ Tịch. Hôm đó Chủ Tịch không tiếp, nhưng Trưởng Phòng Kinh Tế nghe ông Mẹo hùng hồn “giảng” về kinh nghiệm xây dựng hợp tác hóa miền Bắc. Kết quả, cái góc sửa chữa xe đầu cầu của Ông Tèo, cái mé hè bên Đình  sửa chữa xe của thằng Lém, cái chỗ bơm vá xe của 9 Tới và một chỗ ở góc chợ của 3 Cặp vẫn tiếp tục mạnh ai nấy làm y như cũ, khỏi bị thành lập …”Tổ hợp” !

Lời khuyên thứ ba: Gả con cho Đài Loan.

Dân Mương Cùn là dân nghèo nhất trong cái Huyện nghèo của Tỉnh. Là mương nhưng vì ở trong tận cùn nên nước không chảy tới. Dân chúng có mươi nóc gia, toàn là nhà “đạp” (**). Các hộ này không có ruộng, vườn gì cả, sinh sống toàn đi bắt cua, móc còng, lượm ve chai ở thị xã.

Một đứa con gái trong hộ bưng cà phê trên thị xã, do ai dẫn mối không biết đã lấy một ông Đài loan nghe nói có tật ở chân. Tật nguyền, nhưng bù lại có tiền. Má cô bé có một món tiền kha khá, đủ để bỏ cái nhà “đạp”, ra chợ sang một cái sạp bán khô kiếm sống.

Từ đường dây lấy Đài loan này, dân Mương Cùn ới nhau bùng lên chuyện lấy chồng Đài.

Chuyện sẽ không có gì ảnh hưởng “hòa bình thế giới” nếu không đến phiên con Bảy Kẹo lên Xã làm giấy xác nhận để kết hôn với Đài Loan. Bảy Kẹo là đảng viên Chi Bộ Ấp nên thuộc quyền lãnh đạo của đảng bộ và Huyện Ủy. Lúc đó các Tỉnh miền Tây, những nơi vùng sâu vùng xa, thậm chí cả những vùng từng là căn cứ địa bắt đầu rộ lên phong trào lấy Đài Loan. Báo chí, đài, cơ quan đã có những tuyên truyền về nhân phẩm, nhân cách, vẻ đẹp nề nếp của con gái Việt nam (?!). Tỉnh không có văn bản cấm đoán, nhưng có chỉ đạo, lãnh đạo miệng ngăn chận hiện tượng không cho lan thành phong trào. Trong việc làm này dĩ nhiên đảng viên phải gương mẫu, đi đầu.

Vậy là Bảy Kẹo đứng trước sức ép của Chi Bộ, cấm ông không được gã con gái cho Đài Loan. Ông trước còn van nài, sau cự cải to tiếng trong cuộc họp, bí thư đòi khai trừ nếu ông vẫn giữ ý định thực hiện.

Chuyện tới tai hai ông thương, phế binh. Là dân nghèo, từng rớt xuống mức nghèo đến độ phải lên rừng sống như thảo khấu, ông Mẹo thấu hiểu cái bức xúc tận cùng của miếng ăn. Ở đây không nói đến chánh trị, phẩm giá mà nói đến cái bụng. Có thực mới vực được đạo. Không ai cứu mình bằng mình cứu chính mình trước.

Ông Mẹo nói thẳng với Bảy Kẹo: ông dám đổi cái thứ danh dự hảo lấy cuộc sống của con ông không? Bảy Kẹo thức tỉnh, nhận ra cái thứ danh dự đó bây giờ y hệt cái vòng kim cô tròng lên đầu ông chứ chẳng giúp gì cho cuộc sống con ông. Sau lời nói của ông Mẹo, ông cương tới cùng để cho con lấy chồng Đài.

Năm năm sau, con Bảy Kẹo và chồng về Việt Nam, cất cho ông một nhà ngói. Lúc đó miền Tây đã “bình thường hóa” chuyện lấy Đài Loan, giờ phát triển lên thành lấy Đại Hàn …!

Năm 2010, ông Mẹo và Tèo đã già, bắt đầu đi lụm cụm. Lúc này hai ông không còn chở nhau bằng xe đạp mà đi xe gắn máy nhờ tiền của Hai Đảnh cho. Con cái cũng làm ăn khá nên hai ông giờ chỉ ngồi đánh cờ dưỡng già. Dân đi chợ thấy hai ông vẫn như hình với bóng. Họ còn đồn nhau hai ổng nói với mấy đứa con là khi chết chôn kế nhau.

Quả thật vài năm sau ông Mẹo chết được một năm thì ông Tèo chết. Con cháu làm y lời hai ông xây mả ở ngã quẹo vào xóm Mương Cùn. Từ đó để chỉ đường cho người đi kiếm nhà dân xóm Mương Cùn, dân trong Huyện gọi hai cái mả đó là mả hai ông thương, phế binh cho dễ kêu.

Bất chợt về sau một cậu đi học ở trường Chính Trị Cao Cấp về, trên  quy hoạch sẽ là cán bộ khung của Huyện, nghe chuyện lý thú về hai ông thương, phế binh nên viết báo địa phương ghi lại sự kiện. Từ tên gọi dân gian tự nhiên mả “thương, phế binh”, cậu có ý tưởng đặt là mả “hòa giải, hòa hợp dân tộc” để diễn tả tinh thần hòa giải của hai thương, phế binh đã có từ hơn 40 năm trước.

 Bài báo rất hay, dân chúng truyền nhau đọc nên từ đó mả đổi tên là mả “hòa giải, hòa hợp dân tộc”!