Thầy Đinh Văn Vĩnh, Giáo Sư Việt Văn Petrus Ký

Lại Đức Ngữ & Nguyễn Văn Lành

(Nguồn: Đặc san “Tạ Ơn Thầy, Nhớ Ơn Cô” – Học trò Petrus Ký)

Thầy Đinh văn Vĩnh lúc vừa về dạy học tại Petrus Ký vào năm 1960 [Nguồn: Đinh Anh Tuấn]

Lại Đức Ngự, người bạn học 12B6 đang định cư tại San José khi nhớ về thầy Đinh văn Vĩnh, Giáo Sư Việt văn của chúng tôi tại Petrus Ký đã diễn tả về thầy – thầy Vĩnh “hồn như quyện vào thơ” khi thầy ngâm bài “Chí Làm Trai” của Nguyễn Công Trứ cho bọn mình nghe:

Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc.
Nợ tang bồng vay trả, trả vay.
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Đã chắc rằng ai nhục ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ.
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ,
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.
Chí những toan xẻ núi lấp sông,
Làm nên tiếng anh hùng đâu đấy tỏ.
Đường mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng trang trắng, vỗ tay reo
Thành thơi thơ túi rượu bầu.

Tôi thì trí đã khô, ý đã cạn nên không nhớ được chi tiết như Ngự nhưng nhớ học Việt Văn với thầy Vĩnh vào lớp 10 hay 11 tại Petrus Ký. Nhưng tôi luôn nhớ về thầy vì Đinh Anh Tuấn, con trai thầy, là bạn cùng lớp 12B6 với tôi.

Ông bạn bác Sĩ Nguyễn văn Lành tại Sydney, người bạn đầu tiên của Đinh Anh Tuấn từ Thất 5, nhớ về Tuấn khá rõ dù sau bao nhiêu năm xa cách:

“Đinh Anh Tuấn (con thầy Dzinh). Một khuôn mặt đẹp trai, trắng trẻo, với chiếc răng khểnh dễ thương, học thật chăm. Có những chiều Lành dắt chiếc xe đạp cũ đi bộ theo Tuấn ra đến đầu đường Hồng thập Tự để Tuấn đón xe buýt về gần Thị Nghè. Tình bạn đang nảy nở thì Tuấn đổi lớp sang Thất 3 vì chịu không nổi cảnh phá nhiều hơn học của lớp.”

Không biết Lành có gặp lại Tuấn khi lên Đệ Nhị Cấp, lớp 10B3 và 11B3?

Tuy nhiên, Đinh Anh Tuấn từ 11B3 (sinh ngữ chính là Pháp văn) thay vì lên 12B3 đã đổi vào lớp của tôi 12B6 (sinh ngữ chính là Anh văn). Tôi còn nhớ bạn bè xầm xì là Tuấn đổi qua 12B6 để tranh tài với Mai Viết Kinh Luân, Trần Tam, Nguyễn văn Bá, Nguyễn Như Căn, Huỳnh Hữu Chí, Trần Đình Khoa, Nguyễn văn Bền, Nguyễn Huyền Chương, v.v., và một số học sinh gạo cội từ bên ngoài vào như Nguyễn Quốc Hào, Trịnh Việt Thảo, Phạm Kim Ngoan, Đoàn Danh Hồng. Ai cũng biết Đinh Anh Tuấn là một học sinh suất sắc của 11B3 và Tuấn đã là một trong những học sinh nhận được nhiều bằng tưởng lệ của 12B6 năm 1971 – 72.

Bạn bè 12B6 mỗi khi gặp nhau hay trò chuyện qua điện thư (E-mails) đều nhắc về thầy Đinh văn Vĩnh và hỏi về Đinh Anh Tuấn, không biết hai người ở đâu và ra sao? Một lần, tình cờ tôi nghe ai đó nói là thầy Vĩnh đang cư ngụ tại Texas, nhưng hỏi thêm thì không ai biết rõ tin thầy vì thế câu chuyện được “để dành” vào một góc của quá khứ.

Bọn bạn tôi vẫn thường hay chọc khi nào tôi về hưu nên mở văn phòng thám tử đi “tìm trẻ em đi lạc” vì tôi tìm ra nhiều bạn bè, thầy cô. Tôi biết bạn bè đôi khi khen quá đáng nhưng đôi co về “không có gì” là muốn “có gì” nên tôi không bàn cãi.

Đối với tôi, việc tìm lại bạn bè cũ, thầy cô đã dạy bọn tôi học ngày xưa như là việc nối liền những ô vuông trên cái bàn cờ. Nó có cái thú vị riêng của nó, đi vòng vo rồi đến nơi lúc nào tôi cũng không biết. Còn gì vui hơn là trò chơi không có người thua và chỉ có người thắng? Lâu lâu, nghe được tin thầy cô hay bạn bè cũ, tôi vui mừng như “trúng được sổ số tombola”. Không biết ai chế ra cái thành ngữ “trúng sổ số tombola” này vì tôi chả biết trò chơi này là gì. Mãi đến năm 2005 khi về Âu châu thăm lại bà mẹ nuôi, ngồi xem các đứa cháu chơi game, bọn nó mới chỉ cho tôi trò chơi tombola, tôi mới biết tombola giống như bingo tại Hoa Kỳ.

Vài tháng nay, tôi và bọn bạn ngồi làm tập bài viết về “Tạ Ơn Thầy, Nhớ Ơn Cô”, khiến tôi lại nhớ về thầy Đinh văn Vĩnh (một trong những giáo sư Đệ Nhị Cấp của bọn tôi) và Đinh Anh Tuấn. Tôi lên trên mạng Internet, tìm trong niên giám của toàn Tiểu Bang Texas, có chừng 50 người có họ Đinh, tên Vĩnh. Tôi lấy phone gọi thăm từng người, người thứ nhất Đinh Vĩnh trên danh sách cư ngụ tại Beaumont khi nghe tôi tìm thầy cũ dạy học bên nhà đã cho tôi biết – lộn người rồi anh, tôi còn trẻ lắm. Người thứ nhì trên danh sách cho tôi biết nguyên tên của ông là Đinh xuân Vĩnh và thành phố ông ở là Euless nên tôi cáo lỗi ngay lập tức. Người thứ ba, Đinh Vĩnh trên danh sách cư ngụ tại High Haven Dr., Houston, cho biết chưa bao giờ đi dạy học. Khi tôi gọi người thứ tư, Đinh Vĩnh, câu hỏi đầu tiên của tôi là – đây có phải là tư gia của thầy Đinh văn Vĩnh dạy học tại Petrus Ký? Người đàn bà trả lời điện thoại xác nhận đúng và cho biết cô là vợ của thầy.

Sau khi tôi giới thiệu tôi là học trò cũ của thầy tại Petrus Ký và cũng là bạn học cùng lớp với Đinh Anh Tuấn, cô chuyển điện thoại cho thầy. Quả thật lúc ấy tôi cảm thấy như vừa trúng sổ số tombola thật sự.

Thầy Vĩnh và gia đình trong ngày lễ Tạ Ơn [Nguồn: Đinh Anh Tuấn]

Sau khi thầy nhận điện thoại, tôi giới thiệu vài dòng và hỏi thăm sức khỏe của thầy và đời sống hiện tại của thầy. Thầy kể lại sau 1975, thầy tiếp tục dạy tại Petrus Ký cho đến 1980 thì đổi về dạy tại Marie Curie và đến 1983 thì cùng gia đình sang định cư tại Anh Quốc. Đến năm 1988 thì thầy cô qua định cư tại Austin (Texas) và 8, 9 năm sau đó dọn về Houston để gần gũi với gia đình của Đinh Anh Dũng, con út của thầy. Tôi hỏi thầy về Đinh Anh Tuấn thì thầy cho biết Tuấn đang cư ngụ và làm việc tại ngoại ô Dallas. Thầy cho biết có ba người con, trưởng nữ của thầy, chị của Tuấn và Dũng, hiện đang cư ngụ tại Paris (France).

Nhớ lại quá khứ, thầy cho biết đã tốt nghiệp trường Cao Đẳng Sư Phạm, môn Việt Văn, vào năm 1956. Sau khi ra trường, thầy được bổ nhiệm dạy tại Trung Học Nguyễn Thông tại Vĩnh Long cho đến 1959 thì được chuyển về dạy tại Petrus Ký. Trong lúc dạy tại Petrus Ký, thầy cũng dạy thêm tại trường Hưng Đạo và Phục Hưng.

Thầy Vĩnh cho biết từ khi dọn về Houston, thầy ít có liên lạc với các hội đoàn, tổ chức Petrus Ký và thầy rất vui khi nhận được tin các thầy cô Petrus Ký qua cuộc đối thoại với tôi ngày hôm ấy. Thầy rất mong tin tức các đồng nghiệp và học trò cũ của thầy.

Sau đó, thầy cho tôi số điện thoại của Đinh Anh Tuấn tại Houston để liên lạc (chuyện sẽ viết sau).

Đinh Anh Tuấn

Bài viết được góp ý bởi các bạn Lại Đức Ngự, Huỳnh Hữu Chí (12B6), và Nguyễn văn Lành (12B3).