Dễ dầu gì quên
Tê Tam Thừa (Giáo sư Trần Thượng Thủ)
HS PK đầu thập niên 40
(Nguồn: Đặc san Petrus Ký Houston 1994, trang 58-68, do anh Võ Phi Hùng, PK 67-74 scan và gởi tặng)
Hằng năm cứ sau lễ Chánh Chung một hai ngày, Trường Petrus Ký mở cuộc thi tuyển nam sinh vào lớp thứ nhất bậc cao tiểu Pháp Việt vì lẽ các giáo sư Pháp cũng như Việt cần đi nghỉ hè bắt đầu từ hạ tuần tháng 7 dương lịch. Thế nên năm đó, cuộc thi mở vào ngày thứ tư 16-7-1941.
Từ sáng sớm, phụ huynh dẫn dắt con em mình đến trước cổng trường. Ở đây, đã có giám thị người Việt đứng đón một người đứng cạnh một tấm bảng đá ghi bằng phấn số phòng thi ở trên cùng và bên dưới là hai số ký danh của thí sinh có tên ở đầu và ở cuối danh sách phòng ấy, bảng đá đóng ở đầu cọc gỗ cắm chặt xuống nền đất của bãi cỏ trên lề đường Nancy phía tường rào trường. Thí sinh cứ nhìn vào bảng mà tìm đúng phòng thi của mình.
Đến giờ, mỗi giám thị dẫn năm mươi thí sinh, phần lớn còn ngơ ngác vì là dân tỉnh lên SàiGòn để “ứng thí”, đến phòng chỉ định. Giám thị phòng thi là giáo sư cấp cao tiểu tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Hà Nội; có phòng lại có giáo sư Pháp. Chỉ trong buổi sáng, thí sinh thi môn đầu là bài chánh tả kèm theo câu hỏi, khoảng hai phần ba thí sinh viết sai từ “crocs” (nanh) trong cụm từ “mangeait à pleins crocs” để chỉ con chó nhai xương rôm rốp. Lý do là ở trường tỉnh đa số học sinh được thầy cô giáo dạy phát âm là “crốc” như trong những từ “roc” (tảng đá), soc (lưỡi cày), choc (va chạm), toc (cạch cạch, tiếng tượng thanh)… mà ở đây cả hai vị giám khảo đều đọc là “crô”, thế mới chết một cửa tử! Nghỉ xả hơi mười phút. Thi tiếp môn chót là bài luận văn với đầu đề: “Ở Nam Kỳ có hai mùa là mùa mưa và mùa nắng. Em thích mùa nào và nói tại sao?“.
Kết quả bài viết được công bố hồi 11 giờ trưa thứ sáu. Đến 2 giờ chiều, có non 1/3 thí sinh được vào thi phần vấn đáp (nôm na gọi là thi hạch miệng)… kéo dài cho đến 11 giờ trưa hôm sau. Chiều lại, hồi 5 giờ công bố kết quả chung cuộc với gần 20% thí sinh trúng tuyển, giữa cơn mưa to. Các “tân khoa” hân hoan ra về để sẽ vào học ngôi trường đồ sộ ở SàiGòn vào giữa tháng 9 dương lịch.
Nào dè vào đầu trung tuần tháng 8, báo đăng tin Trường Petrus Ký dời về cùng chỗ với Trường Sư phạm bên cạnh Sở thú SàiGòn, và ngày tựu trường là Thứ hai 29-9-1941, trễ hơn các trường công khác đúng 2 tuần lễ. Có điều mới lạ xảy ra là ban giám hiệu của Trường Petrus Ký thông tư cho những thí sinh đỗ cao biết rằng họ được quyền chọn học ban trung học suốt 6 năm liền khỏi phải thi bằng thành chung cuối năm thứ tư như các thí sinh trúng tuyển hạng thấp hơn và vẫn hưởng quyền lợi đã ghi trong đơn dự thí.
Thế là đúng 4 giờ chiều chúa nhựt 28-9-1941, học sinh nội trú ban trung học 6 năm vác rương vào trường, lên thẳng từng ba của dãy lầu cánh trái ở phía đường Lucien Mossard, treo mùng, trải chiếu lên giường mang sẵn tên mình ở bảng nhỏ gắn ở đầu giường, chất quần áo và vật dụng cần thiết vào hai ngăn tủ com-mốt kê ở chân giường và sát tường. Từng này làm phòng ngủ tập thể cho học sinh mới trúng tuyển và một số học sinh ở năm thứ hai ban cao tiểu. Những anh này trong năm học vừa qua đã ăn ở tại ngôi trường tọa lạc trên đường Nancy. Lại trở ra ngoài đi ăn chiều để 9 giờ tối trở vào ở luôn trong trường. Thế là đoạn đời học sinh nội trú bắt đầu với đêm hôm đó.
Sau bữa ăn sáng tại hai nhà ăn tập thể nằm khít vách nhau, học sinh lên ngồi ê-tuýt (étude) ở tầng hai của dãy lầu cánh phải ở phía đường Palanca trong 40 phút. Chuông điện reo, học sinh xuống sân sắp hàng chỉnh tề để làm lễ chào cờ tam tài được kéo lên tại lầu một ở ngay chính giữa dãy lầu trung ương trông ra đường Docteur Angier. Sau đó theo sự điều động của giám thị, học sinh đi hàng hai đến lớp mang bảng lère A (tức là lère année A) ở tầng hai của dãy cánh trái. Từng trệt là lớp học của Trường tiểu học Pháp.
Hai giờ đầu tiên học tiếng La-tinh với giáo sư Pháp Georges Champion, cử nhân sử-địa, người mập mạp, chuyên mặc quần sọt (short), tiếng nói rổn rảng, lương tâm chức nghiệp cao. Nhân lúc dạy cách đọc chữ La-tinh, ông lưu ý học sinh về chánh tả của từ Petrus không mang dấu sắc vì đó là từ La-tinh, dùng làm tên thánh cho nhà bác học. Ông bắt học trò học thuộc lòng hai câu thơ của thi hào La Mã Ovide:
“Donec eris felix, multos numerabis amicos
Tempora si fuerint nubila, solis eris.”
Cùng nghĩa với hai câu cách ngôn Hán Việt “Bần cư náo thị vô nhơn vấn, Phú tại sơn lâm hữu khách tằm”.
Là giáo sư chánh của lớp, ông dạy mỗi tuần 6 giờ La-tinh, 5 giờ tiếng Pháp và 2 giờ sử-địa (sử Ai-Cập, Lưỡng Hà, HyLạp và La Mã thời thượng cổ). Để nhớ tên các hoàng đế đầu tiên La Mã, ông cho học sinh chép câu sau đây, do âm tiết đầu trong tên các vị hoàng đế để ráp lại làm thành. Câu gồm có 5 cụm, 4 cụm đầu chỉ 4 hoàng đế mỗi cụm và cụm chót chỉ tên 2 hoàng đế sau cùng.
Cesautica Claunégalo Vivestido Nertrahato Marco cho biết 18 hoàng đế lần lượt trị vì đế quốc La Mã như sau: 1.César (45-44 AC), 2.Auguste (44 AC-14 AD), 3.Tibère (14-37), 4.Caligula (37-41), 5. Claude (41-54), 6.Néron (54-68), 7.Galba (68-69), 8. Othon (69), 9. Vitellus (69), 10. Vespasien (69-79), 11. Titus (79-81), 12. Domitien (81-96), 13. Nerva (96-98), 14. Trajan (98-117), 15. Hadrien (117-138), 16. Antoinin (138-161), 17. Marc Aurèle (161-180), 18. Commode (180-192),
Cái mánh lới trên nhắc người viết bài này nhớ đến hồi học lớp Ba, ông thầy người Việt cũng dùng phương cách tương tự để giúp học trò nhớ tên 21 tỉnh ở Nam Kỳ, sắp theo thứ tự những số gắn ở bâu áo của nhân viên công lực nhằm cho biết họ thuộc tỉnh nào. Thí dụ: Số 1 chỉ tỉnh Gia Định, Số 5 là tỉnh Trà Vinh… và số 21 của Cap Saint Jacques (sau này đổi là Vũng Tàu). Câu này gồm 4 cụm mà 3 cụm đầu gồm 5 từ đầu của tên các tỉnh còn cụm chót gồm 6 từ, như sau:
- Gia, Châu, Hà, Rạch, Trà
- Sa, Bến, Long, Tân, Sóc
- Thủ, Tây, Biên, Mỹ, Bà
- Chợ, Vĩnh, Gò, Cần, Bạc, Cap.
Đó là tên đầu của 21 tỉnh ở Nam Kỳ thời Pháp thuộc:
1. Gia Định, 2. Châu đốc, 3. Hà Tiên, 4. Rạch Giá, 5. Trà Vinh, 6. Sa đéc, 7. Bến Tre, 8. Long Xuyên. 9. Tân An, 10. Sóc Trăng, 11. Thủ Dầu Một, 12. Tây Ninh, 13. Biên Hòa, 14. Mỹ Tho, 15. Bà Rịa, 16. Chợ Lớn, 17. Vĩnh Long, 18. Gò Công, 19. Cần Thơ, 20. Bạc Liêu. 21. Cap St Jacques.
Đây là một điểm gặp nhau của Đông và Tây trong phương pháp rèn luyện trí nhớ.
Lòng tận tụy của ông đối với học sinh được thể hiện ở nhiều việc. Hằng tuần ông đều chấm điểm một bài luận, một bài chánh tả, (ông ôm chồng tập 35 cuốn loại 100 trang của học sinh dùng cho môn này và phần câu hỏi về từ vựng và văn phạm liên quan đến bài chánh tả) một bài dịch thuật từ tiếng La-tinh sang tiếng Pháp (version latine) và phần dịch ngược từ tiếng Pháp trở lại tiếng La-tinh (thème latin). Ông ghi tên học sinh nào bị gọi trả bài hôm đó vào một cuốn tập, chứ không như các đồng nghiệp khác có thói quen đến lúc truy bài là cầm bút rà dọc theo cột điểm và bất chợt chấm đầu bút xuống ngay hàng của học sinh “bị sao quả tạ chiếu trúng”. Do đó bọn “quỉ thứ ba” chúng tôi dùng chiến thuật liếc xéo lên cuốn “sổ Nam Tào” của ông luôn mở ra và để trên chiếc cặp da, khi chúng tôi đi từ từ vào lớp sau giờ chơi giữa hai tiết dạy còn ông vẫn đang đứng ngoài hành lang và cạnh cửa để vào lớp sau cùng. Thế là bí mật bị bật mí và truyền nhanh đến các đương sự bằng cách ra dấu tay chỉ chỏ, liếc mắt nhướng mày hoặc tiếng thì thào.
Sách La-tinh phát cho bọn tôi được xuất từ kho sách cũ của Trường Chasseloup – Laubaut, gồm hai tựa: Grammaire latine của Riemann & Goelzer dày cộm soạn theo chương trình 1902 và De viris illustribus của Bornecque, kèm theo phần từ vựng La-tinh Pháp (lexique latin – Francais) ở phía sau. Mỗi lần thi lục cá nguyệt, ông phải ra công chép tay trên giấy pơ-luya có lót giấy than đề bài môn La-tinh làm 36-38 bản (sĩ số là 34). Nhân viên đánh máy người Việt không biết La-tinh, hơn nữa máy chữ Pháp không có loại con chữ ghép như ae (chữ a và e đâu lưng nhau), và nhứt là vấn đề bảo mật đề thi. Thời đó máy ronéo chưa được thông dụng.
Ngoài ra ông còn xuất tiền túi mua giấy dày để nguyên khổ 65 x 100cm, bút chì đen của họa sĩ, cục gôm… để anh Nguyễn Văn Minh, giỏi hội họa nhứt lớp, vẽ mấy tấm bích họa dùng trang hoàng lớp học đã được cải danh là 6è métro (viết tắt của cụm từ Pháp là classe de sixième classique metropolitaine) cho có hơi hám của nền văn minh Hy Lạp – Mã, như đền Parthénon, đấu trường Colisée, tượng người ném dĩa….
Mỗi cuối tháng, có để sẵn tại phòng giáo sư quyển sổ thâu thập xét đoán của giáo sư về học lực và hạnh kiểm học sinh trong tháng qua. Trong cột của môn mình phụ trách, giáo sư ghi cho mỗi học sinh một trong ba con chữ: hoặc O (viết tắt của từ oui = đồng ý cấp bảng danh dự, sau khi thay bằng dấu +), hoặc N (viết tắt của từ Non = phản đối cấp bảng danh dự, sau khi thay bằng dấu -) hay là I (viết tắt của từ Indifférent = không ý kiến, sao cũng được; sau thay bằng con số zéro O). Chữ N hoặc dấu – có giá trị phủ định tuyệt đối, chẳng khác nào quyền veto – phủ quyết ở Liên Hiệp Quốc vậy. Vì giáo sư G. Champion có 3 cột (3 môn: La-tinh, Pháp văn và sử-địa), lại là người có uy tín trong trường, hơn nữa tánh ông vốn rộng lượng và có ý khuyến khích đám môn đồ của mình trong việc học hành cho nên lời phê của ông có tánh quyết định sau cùng. Nhờ thế mà lớp 6è métro luôn luôn đạt tỉ lệ cao nhứt trường về số bảng danh dự được cấp. Tại hai tường đối diện nhau của hành lang giữa dùng làm nơi đón phụ huynh vào thăm con (parloir), có treo hai bảng to lộng kiếng để niêm yết danh sách học sinh các lớp được lãnh bảng danh dự thì tháng nào cột danh sách của lớp 6è métro cũng dài sọc. Thấy vậy một số anh lớn ở ban tú tài trào lộng phát biểu theo lối chơi chữ “Đâu phải là tableau d’honneur (bảng danh dự) mà đúng là tableau d’horreur (bảng khiếp đảm)”. Thông thường thì ông giám học Taillade đến lớp phát bảng danh dự màu đỏ đậm, giấy khen (satisfecit) màu lục cho người được sắp hạng nhứt ở bộ môn thi lục cá nguyệt và giấy khen màu vàng lợt cho người đứng hạng nhì. Nhưng lần đó, vào đầu trung tuần tháng 11 dương lịch năm 1941, vì là lần đầu tiên đối với lớp 6è métro, ông hiệu trưởng Lejeannic, cũng quen mặc short như giáo sư Champion để bắt mắt với bộ râu mép “cứt mũi” theo kiểu Charlot, tháp tùng theo ông Taillade. Trong lời huấn dụ, ông nhấn mạnh câu: “Vous êtes l’élite du pays” (Các em là tinh hoa của xứ sở).
Gần bãi trường cho năm học 1941-1942, ông Champion lại mua vé xem Nhạc hội do sinh viên tổ chức tại Nhà hát tây (Théâtre municipal, có thời làm trụ sở Quốc Hội của Việt Nam Cộng Hòa) để tưởng thưởng 7 học sinh (1 nữ và 6 nam; vì tôn trọng đức tính khiêm tốn của 7 tay “latinistes” mầm non này nên chúng tôi xin miễn hài tên ra đây) đạt số điểm thi cả năm cao nhất về môn La-tinh.
Lễ phát thưởng cho học sinh được tổ chức vào buổi sáng Thứ bảy 11-7-1942 tại Hội trường của Hội quán Bộ binh và Thủy binh (Foyer du Soldat et du Marin) ở sát ngã ba đường Dr Angier và đại lộ Norodom, bên cạnh hồ tắm Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lần đó, giáo sư G. Champion là người được đề cử soạn và đọc bài diễn văn theo thông lệ (discours d’usage). Bọn nhãi con chúng tôi lần đầu tiên thấy bộ lễ phục của giáo sư là chiếc áo thụng đen theo kiểu các thẩm phán, trạng sư; ở đây Thầy còn đeo choang qua vai tấm băng màu vàng huỳnh anh của ban văn chương (ông Lejeannic đeo băng màu đỏ của ban khoa học vì ông đỗ bằng thạc sĩ toán của trường Normale supérieure ở Paris). Chỉ hôm đó Thầy mặc quần dài thay cho quần short cố hữu. Mớ tóc chóp cong ở giữa trán của ông được bọn chúng tôi gọi là “mèche de Napoléon” (mớ tóc chóp của hoàng đế Napoléon đệ nhứt). Chính Thầy đã tặng hai phần thưởng nhứt và nhì về môn La-tinh.
Thầy rất tự hào về đám học sinh cưng của mình. Nếu có dịp là Thầy đề cao ngay. Cụ thể là mùa lạnh năm 1941-1942, lúc dạy thay cho ông Louis Malleret dạy môn Pháp văn ở lớp Première (thi tú tài I) kiêm giám đốc Bảo tàng viện Blanchard de la Brosse ở gần cổng vào Sở thú bị gãy xương đòn gánh trong một tai nạn giao thông, Thầy đem bài luận văn của anh Trần Minh Cảnh đọc giữa lớp cho các anh lớn “thưởng thức tài nghệ” của thí sinh thủ khoa kỳ thi tuyển trong kỳ hè 1941. Và cũng chính Thầy đề nghị cho thí sinh “á nguyên” kéo cờ vào dịp lễ chào cờ đầu tuần: sáng thứ hai hôm đó, cờ kéo rú để chịu tang cho tướng Huntziser, tư lịnh không quân Pháp của chánh phủ Pétain ở Vichy. Học sinh xì xào bàn tán về việc lá cờ tam tài nằm lưng chừng cột cờ ngọn chĩa về phía Sở thú.
Đến đây xin phép nói đến giáo ban phụ trách lớp 6è métro. Ngoài ông G. Champion còn có quí thầy như: Ông Labriffe dạy thủ công ở ngành mộc. Ông phát âm phụ âm R với lưỡi rung không thua gì người Ấn; thí dụ: varlope (cái bào dài đòn), marteau (cái búa), mortaise (lỗ mộng), …. Ông chỉ cách cầm cưa ở thế các mũi nhọn của lưỡi cưa chĩa về phía trước. (Ông chết trong trận phục kích đoàn xe trên đường đèo lên Đàlạt năm 1947).
* Thầy Trương Hữu Tước dạy môn Khoa Học quan sát. Là người trẻ tuổi nhứt, Thầy ăn mặc hợp cách (réglo): luôn luôn thắt cà vạt, choàng áo bành-tô, y phục toàn màu trắng; ăn nói nhẹ nhàng không hề quát tháo.
* Thầy Lương Xuân Mai dạy môn Làm vườn (Jardinage) nên phải dẫn học sinh qua vườn trường nằm bên kia bức tường chung giữa Trường Sư phạm và Trường Thầy dòng (Séminaire). Thầy nói giọng Nghệ tĩnh nên khó nghe, khiến học sinh có dịp nói đến một bài thơ Đường luật nhái giọng như…”lụng lặng trên treo dăm nặm nẹm. Dươi chân cọ đệ một buồng chuồi...”
* Thầy Nguyễn Văn Chì dạy môn quốc văn (thuở ấy dùng từ “annamite” chớ chưa thấy xuất hiện từ “vietnamien”) khai tâm cho học sinh về mấy qui tắc căn bản sử dụng dấu hỏi hay dấu ngã, luật thanh trọc với tứ thinh ở tiếng Hán Việt.
Phục sinh 1942, do tình cờ mà chúng tôi được biết là Thầy đã “thọ giáo” với ông Lê Ngọc Trụ trong Hội khuyến học Nam Kỳ”.
* Thầy Lương Hữu Khánh dạy môn toán. Người cao lớn, làn da trắng trẻo, nói giọng Bắc dễ nghe, Thầy chỉ học sinh cách thức vỡ lòng môn vẽ hình học (dessin géométrique), cách kẻ chữ ở chỗ nối (raccord) và hình bầu dục, không thiên vị ba trò người Bắc (anh Vũ chí Chung, hai chị em Nguyễn Thị Bích Mai và Nguyễn Linh).
* Thầy Hồ Văn Lái dạy môn hội họa. Mái tóc luôn luôn bóng mướt nhờ chải brilliantine, có chữ ký độc đáo na ná kiểu chữ triện, nói tiếng Pháp không được trôi chảy. Trong những giờ học (séance) lúc ban đầu, Thầy cố dạy cho học sinh nắm vững qui tắc phối cảnh (perspective) và tô bóng hình vẽ. Nhưng về sau, vào lớp Thầy chỉ đặt mẫu vật ở vị trí xác định rồi để học sinh vẽ đúng theo chỗ chúng ngồi. Thầy chấm bài của những lớp khác hoặc nghiên cứu đồ án nào đó; thỉnh thoảng Thầy đi rảo một vòng giữa đám “họa sĩ nhóc con bất đắc dĩ”, dừng lại gợi ý cho mấy tay vẽ cừ của lớp. Bọn “dài lưng tốn vãi” nhận xét: thầy Lái dạy nhàn nhứt trường.
* Thầy Nguyễn Văn Hành dạy thể dục. Nhỏ con nhưng thể lực đáng nể bởi thầy vừa xuất thân ở khóa đầu tiên của trường E.S.E.P.IC Phan Thiết (Ecole Supérieure de l’Education Physique de l’Indochine), vào nhận việc ở trường Petrus Ký sau lễ Phục sinh.
Năm học ở lớp 6è métro còn được đánh dấu bằng vài sự việc khó quên như:
* Toàn quyền Đông Dương là đô đốc Jean Decoux ra lịnh vặn kim đồng hồ chạy sớm 1 giờ: 11 giờ đêm thứ tư 31-12-1941 trở thành 00 giờ Thứ năm 01-01-1942 là “giao thừa” Tết dương lịch 1942. Chẳng rõ lý do thật sự là gì?
* Theo gương năm trước ở Hà nội, Sàigòn mở hội chợ triển lãm tại Vườn ông Thượng khiến dân chúng Nam kỳ nườm nượp kéo đến xem… mà quên đi Chiến tranh Thái Bình Dương vừa bộc phát do Nhựt bất thần tấn công Trân Châu cảng (07-12-1941).
* Phong trào thể dục – thể thao của đại tá Ducoroy nở rộ với cuộc đua xe đạp nối liền các thủ phủ Nam Vang, Vạn Tượng, Hà Nội, Huế và Sàigòn làm nổi bật tên tuổi các cua rơ như Vũ Văn Thân, Vũ Văn Trếu, Nguyễn Phát Giá, Michon, Lê Thành Các, Nguyễn Văn Thêu….
* Cùng với bước tiến vũ bão của quân đội Thiên Hoàng phá vỡ chiến tuyến ABCD của các nước Đồng Minh là Hoa Kỳ, Anh, Trung Hoa và Hòa Lan, làn sóng văn hóa Nhựt cũng tràn xuống Đông Nam Á. Danh họa Fujita được phép triển lãm tranh trên lầu Xã tây Sàigòn với nhiều bức vẽ loài mèo và kỹ thuật viết chữ rất nhỏ tạo thành bộ râu thật mảnh mai của loài côn trùng trên bức họa.
Đoạn trên cho thấy vì sao học sinh lớp 6è métro rất quí mến giáo sư Champion. Thế nên gần mãn giờ học cuối năm với ông — giờ sử La Mã — sau khi thiên tài Pháp văn là anh Trần Minh Cảnh xin phép và được thầy vui vẻ chấp nhận, toàn thể học sinh đồng loạt đứng dậy, theo tiếng lấy giọng của anh Lâm Văn Kiểng ốm nhom và mặt trắng vì bị lang ben ăn, hát bài suy tôn ông theo nhạc điệu bài “Marche des étudiants” (Sinh viên hành khúc) với lời tiếng Pháp như sau:
Mes chers amis, levons-nous pour saluer
Ce bienfaiteur que nous devons aimer.
Depuis la rentrée dans ce grand Lycée
Il nous a instruits toujours dévoué….
Tiếp liền theo đó là bài hát “Điểm danh lớp 6è métro”, lời Việt dùng tên của học sinh trong lớp và nhạc điệu của bài “Hà nhựt quân tái lai?” (Chừng nào chàng trở lại?), một bảng nhạc rất phổ biến, ra đời trong cuộc chiến tranh giữa Trung Hoa và Nhựt Bổn bùng nổ do biến cố Lư Câu Kiều (07-7-1937) rồi truyền sang Chợ Lớn. Toàn bài như sau:
Hơn, Tống, Thìn cùng là Xuyên, Trứ
La, Phước, Chung, Đủ. Lượm, Khuyn, Tào,
Nhung, Khánh, Hiền ngồi gần Linh, Đôn.
Xuân, Bích Mai cùng bàn với nhau.
Cảnh, Tất, Trang, Phì lủ, Cử, Cheo,
Minh khéo vẽ vời, Robert tính ngang tàng, Cao Quân,
Việt trâu, Việc chó và Trương Huân trắng trẻo,
Kiểng cao, Đức, cùng Quang Trung.
Nay điểm danh còn có thiếu ai?
Trong lớp mình còn Malabar
Thế xong rồi, Sixième Métro.
Câu chót bài hát ngân vang và kéo dài theo tiếng chuông điện của Titus người Ấn có Pháp tịch, giữ phận sự gác cổng trường, để báo giờ tan học đồng thời kết thúc năm học đầu tiên của Trường Petrus Ký tại trường sở của Trường Sư phạm, với cuộc cải cách giáo dục khó quên song yểu mạng@.
Phụ Lục
Danh sách 34 học sinh nam nữ của lớp 6è métro trong niên khóa 1941-1942:
1. Trần Minh Cảnh, 2. Trần Văn Cheo, 3. Vũ Chí Chung, 4. Cao Văn Cử (Mỹ tho), 5. Nguyễn Phước Đôn, 6. Nguyễn Thành Đủ (Cần thơ), 7. Lê Phú Đức, 8. Trần Ngọc Hiền (Mỹ tho), 9. Đinh Văn Hơn, 10. Trương Minh Huân (Cần thơ), 11. Lê Hoàng Khánh (Mỹ tho), 12. Nguyễn Văn Khuyn (Cần thơ), 13. Lâm Văn Kiểng (Cần thơ), 14. Trương Văn La, 15. Nguyễn Linh, 16. Nguyễn Văn Lượm (Cần thơ), 17. Nguyễn thị Bích Mai (Nữ Học Đường), 18. Nguyễn Văn Minh (Cần thơ), 19. Nguyễn Văn Nhung, 20. Lê Hữu Phước, 21. Cao Minh Quân (Mỹ Tho), 22. Nguyễn Văn Tào, 23. Trần Văn Tất, 24. Trần Văn Thìn, 25. Trần Thượng Thủ (biếm danh Phì Lủ hoặc Michelin), 26 Trần Kỳ Thụy (biếm danh: Malabar), 27. Trương Phong Tống, 28. Nguyễn Đình Trang (Mỹ Tho), 29. Robert Lê Quang Trọng, 30. Dương Quang Trung (Cần Thơ), 31. Bùi Quang Trứ (Mỹ Tho), 32. Phan Tấn Việc, 33. Nguyễn Tấn Việt, 34. Nguyễn Thị Xuân (Nữ Học đường), 35. Nguyễn Sơn Xuyên.
Chú Thích:
1. Lễ Chánh Chung = Lễ Kỷ niệm Cách mạng Pháp, cử hành vào ngày 14 tháng 7 dương lịch; người bình dân còn gọi là lễ Cát-to-du-dết, do từ Pháp là Quatorze Juillet. Xem Tầm nguyên tự điển Việt Nam của Lê Ngọc Trụ – 1993 trang 503.
2. Năm thứ nhứt bậc cao tiểu Pháp Việt = Class de 1ère année de l’enseignement primaire supérieur franco-indochinois.
Biếm danh Malabar = Địa danh của miền duyên hải phía tây của Ấn-độ trông ra biển Oman, ở đây dùng để nói lên nước da đen mun của anh bạn này.
Phì lủ = Anh này mập ú và lùn tịch nên bạn bè trêu là phì lủ (tiếng Quảng đông fêi lôn – phì lão tiếng Hán Việt) Michelin = danh xưng của hãng sản xuất vỏ ruột xe hơi của Pháp mà biểu tượng là hình người quá mập do sự chồng chất lên nhau các vỏ xe đủ cỡ lớn nhỏ tạo thành.