Dau chan Viet tren dat Nhat – Nguyen Viet Hung

Tôi sang Nhật bằng máy bay, có passport, có Google Maps, có thẻ Suica trong điện thoại, vậy mà đôi khi vẫn lạc giữa ga Osaka như lạc vào mê cung. Thế rồi tôi ghé thăm Chùa Kiyomizu-dera và tôi vô tình biết hai chuyện thú vị: hơn bốn trăm năm trước, đã có một người con gái Việt theo chồng sang Nhật bằng thuyền buồm. Và hơn ba trăm năm trước, lại có một con voi từ xứ Quảng Nam lững thững sang Nhật, để rồi được phong chức trước khi vào gặp Thiên hoàng.

Biết chuyện đó, tôi bỗng thấy mình thua xa tiền nhân. Người thì sang Nhật thành giai thoại tình yêu. Voi thì sang Nhật thành quan Tòng Tứ phẩm. Còn tôi sang Nhật, cao lắm là thành khách hàng thân thiết của tiệm 7-Eleven.

***

Câu chuyện xảy ra vào đầu thế kỷ 17, khi nước ta đang ở thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh. Miền Bắc do chúa Trịnh cai quản, còn miền Nam thuộc các chúa Nguyễn. Lúc ấy, thương cảng Hội An là một trong những cảng quốc tế sầm uất nhất châu Á. Mỗi năm, hàng trăm thương thuyền từ Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha và Hà Lan cập bến Hội An để buôn bán.

Trong số những thương nhân nổi tiếng nhất có một người Nhật tên là Araki Sotaro. Ông thường xuyên đến Hội An buôn bán và được chúa Nguyễn rất tín nhiệm.

Arika Sotaro đã đem lòng yêu Công Chúa Ngọc Hoa . Bà là con của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên.

Hai người thành hôn. Đây được xem là một trong những cuộc hôn nhân quốc tế nổi tiếng nhất giữa Việt Nam và Nhật Bản thời bấy giờ.

Sau lễ cưới, Araki Sotaro đưa vợ về sinh sống tại Nagasaki, người dân Nagasaki rất yêu mến bà. Họ gọi bà bằng cái tên trìu mến Anio-san.

Đến ngày nay, ở Nagasaki vẫn còn một lễ hội rất nổi tiếng là Nagasaki Kunchi. Trong lễ hội có điệu múa Anio Odori, được cho là tái hiện hình ảnh người thiếu nữ Việt Nam theo chồng sang Nhật hơn 400 năm trước.

Điều làm tôi ngạc nhiên không phải chỉ là chuyện tình ấy đẹp, mà là: người Nhật còn nhớ, còn ghi, còn dựng bia, còn kể lại.

Còn chúng ta, con cháu của nàng, rất nhiều người có lẽ chưa từng nghe tên nàng một lần.

Đó quả là một chuyện tình lạ lùng của hơn bốn trăm năm trước, giữa một thiếu nữ Việt Nam và thương nhân Nhật Bản Araki Sotaro. Giữa thời buổi mà biển cả còn là một khoảng mênh mông đầy bất trắc, nàng đã theo chồng vượt biển sang Nagasaki.

Tôi tưởng tượng đêm cuối cùng trước khi thuyền nhổ neo.

Có lẽ Hội An vẫn còn sáng đèn bên bến cảng. Có tiếng người khuân hàng. Có tiếng mái chèo khua nhẹ dưới sông. Có mùi gỗ, mùi muối, mùi quế, mùi trầm, mùi hàng hóa từ những thương thuyền xa lạ.

Và có một người con gái Việt đứng nhìn lại quê nhà.

Nàng biết chuyến đi này không giống những chuyến đi xa của chúng ta hôm nay. Không có vé khứ hồi. Không có điện thoại để gọi về. Không có tấm hình nào để giữ lại gương mặt cha mẹ. Không có một lời hứa chắc chắn rằng ngày nào đó mình sẽ trở lại.

Phía trước nàng là Nhật Bản, một xứ sở xa đến mức trong trí tưởng tượng của người Việt thời ấy, có lẽ chỉ là một vệt mờ ngoài biển Đông.

Phía sau nàng là Hội An, là tiếng mẹ đẻ, là mái nhà, là dòng sông, là những buổi chiều quen thuộc, là tất cả những gì một người con gái gọi là quê hương.

Tôi không biết đêm đó nàng có khóc không.

Nhưng nếu nàng khóc, thì giọt nước mắt ấy không chỉ là nước mắt của một người con gái theo chồng.

Đó còn là giọt nước mắt của người Việt đầu tiên bước qua một cánh cửa lịch sử mà chính nàng cũng không biết.

****

Ba trăm năm sau…

Người Nhật lại làm một việc còn kỳ lạ hơn.

Họ mua hai con voi từ xứ Quảng Nam về Nhật.

Một con chết dọc đường.

Con còn lại được cả nước Nhật kéo nhau đi xem.

Đến Kyoto…. Người Nhật bỗng phát hiện một chuyện.

Muốn vào gặp Thiên hoàng… thì con voi cũng phải có… chức tước.

Thế là họ phong cho nó hàm Quan Tứ phẩm.

Thì ra…. Lịch sử Việt Nam có lẽ là lịch sử duy nhất mà cả người lẫn voi đều từng “làm quan” trên đất Nhật.

***

Tôi bước ra khỏi ngôi đền, cúi đầu chào như người Nhật vẫn làm. Bỗng thấy trong lòng mình nặng hơn lúc bước vào. Hơn bốn trăm năm trước, vậy mà người Nhật còn nhớ một cô gái Việt đến mức gọi bà bằng cái tên trìu mến Anio-san, còn lưu giữ câu chuyện của bà qua bao thế hệ.

Hơn ba trăm năm trước, họ còn nhớ cả một con voi từ Quảng Nam, đến nỗi phong cho nó một phẩm hàm để đủ lễ nghi vào yết kiến Thiên hoàng.

Còn chúng ta…

Hình như đã quên tất cả.

Có lẽ vì chúng ta quá bận.

Bận tranh cãi chuyện hôm nay.

Bận chạy theo những tin tức của ngày mai.

Đến nỗi quên mất rằng, từ hơn bốn thế kỷ trước, đã có những người Việt âm thầm viết nên những trang đầu tiên của tình hữu nghị giữa hai dân tộc.

Một người bằng tình yêu.

Một “người” bằng những bước chân khổng lồ.

Và cả hai đều lên đường mà không hề biết rằng…

Hàng trăm năm sau, sẽ có một ông già người Việt từ nước Mỹ, lang thang trên đất Nhật, đứng đọc những tấm bia cũ, rồi lặng lẽ kể lại câu chuyện của họ cho chính đồng bào mình.

6/30/26
HVN
(viết mà chơi)