VUI BUỒN VỚI TRÂU ÐIÊN TRƯỞNG.

Tô Văn Cấp

Khoảng tháng 8-9/1975 tại trại tù Long Giao, trong một buổi “lên lớp”, tên VC nói phét về chính sách khoan hồng nhân đạo “trước sau như một” của chúng đối với “ngụy quân, ngụy quyền”, chúng kể đủ thứ tội của tất cả các quân binh chủng, Quân Y, Tuyên Úy cũng có tội, rồi bất ngờ hắn kết luận:

– Những cái gọi là Trâu Ðiên, Cọp Ba Ðầu Rằn thì phải thẳng tay trừng trị.

Cọp Ba Ðầu Rằn là TÐ42/ BÐQ lừng danh vùng 4, nón sắt sơn màu rằn ri với đầu con cọp đen nhe răng. Tuy Tiểu Ðoàn này có 4 đại đội, nhưng khi hành quân, một đại đội nằm nghỉ, chỉ cần 3 đại đội thôi cũng đủ làm Việt Cộng bạt vía kinh hồn nên chúng hận đến xương tủy. Cọp Ba Ðầu Rằn là vậy, TQLC tôi chỉ biết đến thế thôi, đúng sai cần các Cọp Ba Ðầu Rằn nói tiếp, phần tôi xin trở về với Trâu Ðiên. Dĩ nhiên Trâu chẳng dám múa rìu chuyện “đánh đấm” qua mắt thợ BÐQ, mà chỉ xin kể vài kỷ niệm buồn vui với các Trâu Ðiên Trưởng, tức các Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ2/TQLC từ khi mang danh Trâu Ðiên.

TÐ2/TQLC đã có nhiều vị Tiểu Ðoàn Trưởng tiền nhiệm, nhưng chỉ mang danh Trâu Ðiên từ thời Thiếu Tá Lê Hằng Minh sau trận An Quý 1965. Như vậy có tất cả 4 Trâu Ðiên Trưởng là Thiếu Tá Lê Hằng Minh, Trung Tá Ngô Văn Ðịnh, Thiếu Tá Nguyễn Xuân Phúc, và cuối cùng là Thiếu Tá Trần Văn Hợp. Tôi hân hạnh được phục vụ dưới quyền bốn ông với nhiều buồn vui khác nhau, nay xin viết lại như một nén nhang dâng lên các Trâu Ðiên Trưởng đã đi rồi!

* * *

Trâu Ðiên Trưởng LÊ HẰNG MINH

Sau 15 ngày bị trọng cấm vì tội phạm thượng, bị nhốt quân cảnh QC.202, tôi từ giã TÐ5/TQLC để theo toán bổ sung quân số về trình diện TÐ2/Trâu Ðiên hiện đang hành quân tại thành phố Ðà Nẵng (5/66). Ðang vui cùng đồng đội cũ, bị đổi sang đơn vị mới vì lý do kỷ luật khiến tôi mệt mỏi chán chường. Ngồi bệt dưới đất, dựa lưng vào tường trong sân của Quân Trấn Ðà Nẵng, tôi chợt thấy một ông thiếu tá nhỏ con, nón sắt áo giáp súng đạn đầy người đi tới đi lui, lại thêm bộ râu trông “hách” hơn râu của mình, tôi quay sang hỏi người hạ sĩ ngồi bên cạnh:

– Ông nào trông ngầu quá vậy?

– Thiếu Tá Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2 Lê Hằng Minh của mình đó, thiếu úy ơi.

Ðây là lần đầu tiên tôi được đến gần vị Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên, vị tiểu đoàn trưởng mà tôi từng nghe danh từ lâu, nay trông thấy ông rồi và được về với Trâu Ðiên, đơn vị đầu tiên tôi mong được phục vụ.

Ðược về chiến đấu dưới màu áo rằn ri sóng biển TQLC có hình Trâu Ðiên là điều tôi hằng mong ước và hãnh diện. Vậy là tôi đã được làm Trâu Ðiên với Trâu Ðiên Trưởng Lê Hằng Minh, người tôi ngưỡng mộ.

Tháng 5/1966, TÐ1 và TÐ2/TQLC tham dự vào vụ “Biến Ðộng Miền Trung”, dẹp biểu tình tại Ðà Nẵng, khiêng bàn thờ Phật bị thầy trò Thích… đem bày xuống đường làm vật cản lưu thông ở Huế, vừa ổn định nội thành là TQLC hành quân lùng diệt địch còn luẩn quẩn quanh thành phố. TÐ2 đuổi chúng từ bờ biển Phù Liêu, Gia Ðặng tới ngã ba sông Vĩnh Ðịnh, Bích La Thôn Quảng Trị, biết bao xác VC đã nổi lên tại khúc sông này.

Sau khi dẹp loạn trong, giết giặc ngoài xong, TÐ2/TQLC trở lại Huế để tham dự lễ mừng chiến thắng được tổ chức tại Phú Văn Lâu. Trong dịp này một số quân nhân TQLC được gắn huy chương và thăng cấp, trong đó Thiếu Tá Lê Hằng Minh, được thăng cấp Trung Tá.

Ðang nghỉ dưỡng quân ở xóm phía ngoài đầu cầu An Hòa (Huế), Ðại Ðội Trưởng ÐÐ4 Nguyễn Xuân Phúc đi họp về ra lệnh cho đại đội chuẩn bị hành quân. Ông cho biết Tiểu Ðoàn 2 sẽ di chuyển ra Quảng Trị bằng xe GMC. Ðại Ðội 4 đi sau cùng nhưng Trung Ðội 43 của tôi đi đầu Ðại Ðội nên tôi phải theo dõi đoàn xe di chuyển để nối tiếp đúng lúc. Ðể biết khi nào tới phiên mình nên tôi ra đứng sát ngay lề đường để theo dõi các đơn vị đi chuyển.

Trâu Ðiên Trưởng Lê Hằng Minh ngồi trên xe Jeep mui trần với nhiều cần câu, trên kính chắn gió phía tay phải còn khoác một vòng hoa chiến thắng, vòng hoa do các em gái hậu phương quàng cho ông trong buổi lễ mấy hôm trước. Ông mặc áo jacket bên ngoài, trên cầu vai áo jacket là cặp lon trung tá TQLC bằng kim tuyến trắng tinh.

Kể từ ngày về Tiểu Ðoàn, tôi chưa được phép trình diện ông. Lần đầu tiên tôi trông thấy ông tại Quân Trấn Ðà Nẵng với cấp bậc Thiếu Tá, lần này đứng bên lề đường đưa tay chào Trung Tá khi xe jeep của ông từ từ đi qua. Dĩ nhiên ông không bận tâm chào lại và cũng chẳng biết tên thiếu úy kia là ai, không ngờ đó là lần đầu tiên và cũng là lần sau cùng tôi đứng nghiêm đưa tay chào vị Tiểu Ðoàn Trưởng thần tượng của tôi, đó là ngày…

Ðó là ngày 29/6/1966, đoàn xe TÐ2 di chuyển trên Quốc Lộ 1 từ đầu cầu An Hòa hướng ra Quảng Trị, vừa qua khỏi cột mốc cây số 17 thuộc Quận Phong Ðiền, Huế thì bị một trung đoàn địch độn thổ phục kích sát quốc lộ trên một tuyến dài mà cả một đoàn xe gần như lọt vào vòng.Lúc đó vào khoảng 9 giờ sáng, cuộc phục kích và phản phục kích chỉ xẩy ra trong vòng 20 phút, nhưng Trâu Ðiên Trưởng Lê Hằng Minh cùng 42 chiến sĩ đã bị tử thương, gần 100 quân nhân bị thương, trong số đó có anh Xuân Phúc bị bắn từ ngực xuyên ra sau lưng, Trần Văn Hợp bị bắn vào bắp chân, và tôi bị đạn xuyên cánh tay. Ðổi lại thì 233 VC phơi xác, 9 tên “được” bắt sống. Ðại Tá Ngô Quang Trưởng đến thị sát chiến trường ngay sau khi khói súng chưa tan, ông nhận xét về trận này:

– Trong cuộc đời binh nghiệp, kể cả hồi Pháp, tôi chưa hề thấy trận bị phục kích nào lại biến thành trận phản phục kích tuyệt vời như trận Phò Trạch này.

(Trích Mũ Xanh Tôn Thất Soạn, Tuyển Tập 2/TQLC.)

Trong bài viết này, tôi không nói về lý do và những khó hiểu đằng sau vụ TÐ2/TQLC bị cả một trung đoàn VC phục kích ngay trên QL1 sát nách thành phố Huế! Ðiều đáng buồn là thân phận người lính chiến lại bị ngay “bạn” ở hậu phương đâm sau lưng bằng lưỡi lê đầu súng AK47! “Bạn” đây chính là thày trò “thích đâm hậu” đi cùng VC bày binh bố trận.

Là một trung đội trưởng chưa có dịp trình diện Trâu Ðiên Trưởng Lê Hằng Minh, chỉ mới nghe danh nên tôi không có nhiều kỷ niệm vui buồn với ông, nhưng cảm tưởng chung của quân nhân các cấp trong Tiểu Ðoàn đều cùng một lòng, một nhận xét:

– Trâu Ðiên Trưởng Lê Hằng Minh không chỉ là một cấp chỉ huy giỏi mà còn có tài lãnh đạo. Sự hy sinh của ông là một mất mát lớn cho TQLC.

Sau khi Trung Tá Lê Hằng Minh tử trận thì tân TÐT/TÐ2 Trâu Ðiên là Ðồ Sơn Ngô Văn Ðịnh. Ðồ Sơn Ngô Văn Ðịnh vốn là sĩ quan thuộc TÐ2/TQLC từ khi ông còn là một trung úy đại đội trưởng, nay ông được chỉ định quay về làm Tiểu Ðoàn Trưởng.

Trâu Ðiên Trưởng NGÔ VĂN ÐỊNH.

Phải nói ngay mà không sợ mang tiếng là nịnh cấp trên, theo tôi, Ðồ Sơn Ngô Văn Ðịnh là một trong những quân nhân có nhiều huy chương. Ông đã có Anh Dũng Bội Tinh với 21 ngành Dương Liễu, Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương từ khi còn là Trung Úy Ðại Ðội Trưởng, Ðệ Tứ Ðẳng khi là Tiểu Ðoàn Trưởng, và Ðệ Tam Ðẳng khi là Lữ Ðoàn Trưởng. Ðồ Sơn cũng là một trong 2 Lữ Ðoàn Trưởng TQLC chỉ huy trận tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Tôi không thể nói nhiều về những chiến công của ông mà chỉ xin ôn lại những kỷ niệm “buồn vui” của một đại đội trưởng với Trâu Ðiên Trưởng Ðồ Sơn quanh cuộc chiến.

Tôi phục vụ dưới quyền chỉ huy của Ðồ Sơn Ngô Văn Ðịnh từ 1966-1969, tính tròn 3 năm. Ðây là vị Tiểu Ðoàn Trưởng lâu đời nhất của tôi, tôi theo ông liên tục trong mọi cuộc hành quân khắp 4 vùng chiến thuật, qua nhiều trận lớn nhỏ. Tôi nhận thấy, ngoài tài chỉ huy, Ðồ Sơn còn là cấp chỉ huy “mát tay”, ít ra là đối với riêng cá nhân tôi, ông đã giúp tôi thoát chết nhiều lần trong gang tấc. Những kỷ niệm không vui với tôi là khi ông vừa về làm Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2 thay thế Tr/Tá Lê Hằng Minh.

Khi Tiểu Ðoàn Phó Nguyễn Xuân Phúc hướng dẫn và giới thiệu các sĩ quan trong Tiểu Ðoàn cho tân Tiểu Ðoàn Trưởng Ðồ Sơn. Anh Phúc giới thiệu tôi với Ðồ Sơn và nói:

– Ðây là Thiếu Úy Cấp, mới từ TÐ5 đổi về, đánh đấm cũng được lắm.

Chả hiểu ông đã đọc hồ sơ quân bạ của tôi chưa, nhưng khi hai ông vừa bước đi thì tôi nghe Ðồ Sơn nói nhỏ với anh Phúc: “Ðánh đấm được thì sao TÐ5 lại thải ra?”

Ðúng, ít khi nào đơn vị cũ lại buông ra một quân nhân đánh đấm được và cấp chỉ huy đơn vị mới sẽ kém vui khi phải nhận “hàng thải”, chính vì chuyện “đánh đấm” mà tôi bị đuổi khỏi đơn vị cũ. Nhưng thức lâu mới biết đêm dài, ở lâu ông Ðồ Sơn mới biết hàng thải tôi không tệ lắm. Chỉ trong vòng 1 năm, từ đầu Mậu Thân 68, đến đầu năm 1969, đại đội tôi cùng toàn thể Trâu Ðiên đã đem về cho TÐ2 được ba lần tuyên dương công trạng trước Quân Ðội, nói nôm-na là quân kỳ TÐ2 được thêm 3 nhành Dương Liễu. Ðáng nhớ nhất là nhành Dương Liễu được thưởng trong cuộc hành quân vùng Bời Lời, Hố Bò, đại đội tôi đã phải thay tới 4 lần cố vấn Mỹ*

(* Một Tiểu Ðoàn TQLC đi hành quân luôn có 2 cố vấn Mỹ, cố vấn trưởng đi với tiểu đoàn trưởng, cánh A; cố vấn phó đi với tiểu đoàn phó, cánh B. Nhưng khi một đại đội hoạt động biệt lập thì được một cố vấn đi theo để sẵn sàng yểm trợ hỏa lực và tải thương.)

Ngày 14/9/1968, Ðại Ðội của tôi nhảy “diều hâu” xuống vùng Cầu Khởi, phía Bắc quân Khiêm Hanh (Tây Ninh), vì đi một mình nên có cố vấn Mỹ đi theo. Vừa chạm đất liền bị Tiểu Ðoàn 14D/ VC bao vây tấn công. Chúng tôi trong tình trạng thập tử nhất sinh, nhưng nhờ có cố vấn Mỹ xin yểm trợ hỏa lực tối đa và Ðồ Sơn đã kịp thời đổ quân TÐ2 (-) xuống ngay sau lưng địch khiến chúng hốt hoảng phải nới vòng vây đại đội của tôi để quay ra chống cự với Trâu Ðiên đang bao vây chúng phía ngoài.

Sau trận Cầu Khởi, TÐ2 lại đổ bộ trực thăng ngay vào mật khu Hố Bò (TN), nhưng mới thả xuống được ÐÐ1 của tôi và ÐÐ3 của Trần Văn Thương thì bị đụng nặng, súng phòng không quá mạnh và địa thế không cho phép tiểu đoàn đổ quân tiếp tục nên ÐÐ1 và ÐÐ3 cầm cự tới ngày hôm sau tiểu đoàn mới xuống đầy đủ. Suốt đêm đó, Tiểu Ðoàn Trưởng Ðồ Sơn và Ban 3 Ðinh Xuân Lãm luân phiên bay C&C đề hướng dẫn “Hoả Long” yểm trợ chúng tôi. Tiếng nói của các anh và Hỏa Long đã giúp chúng tôi an tâm giữ vững vị trí trước những đợt tấn công dồn dập của VC trong đêm.

Trong cuộc hành quân nhảy vào Hố Bò này, đại đội tôi lại nhảy đầu và có cố vấn Mỹ đi theo, vừa chạm đất là CV Mỹ bị thương. Mỹ mà bị thương thì họ phải tải thương ngay và thả cố vấn khác xuống thay thế. Nhưng rất tiếc là phòng không mạnh quá và VC cũng thả khói màu nên trực thăng nhầm Landing Zone (LZ), thả lộn cố vấn vào vùng địch khiến đại đội tôi lãnh “đại họa” là phải đi tìm anh ta về bằng mọi giá. Tìm được, nhưng anh ta bị thương và phải tải thương. Tiểu Ðoàn chưa kịp bổ sung cố vấn, nhưng tình hình quá nặng nên buộc lòng Chiến Ðoàn Trưởng phải đưa cố vấn khác từ Chiến Ðoàn xuống cho tôi để họ lo hỏa lực yểm trợ và tải thương. Khi đụng trận, có cố vấn để xin yểm trợ hỏa lực và tải thương thì tuyệt.

Hôm sau, trong khi đang lục soát, thu dọn chiến trường và chuẩn bị đóng quân đêm thì Tiểu Ðoàn được lệnh di chuyển ngay để B52 “trải thảm” vùng này. Khi Ðại Ðội 4 của Vũ Ðoàn Dzoan đi sau cùng chưa rời khỏi vị trí thì 2 đại đội đi đầu đụng nặng, tiếng B.40 và RPD nổ liên hồi, quân ta đã có một số bị thương và tử thương, trong khi trời đang tối dần, tối dần!

Trong đêm giữa rừng sâu, lệnh thượng cấp bắt di chuyển gấp, trả mục tiêu lại cho B.52 nhưng địch lại cầm chân! Ðây là lúc khó khăn nhất của cấp chỉ huy, TÐT Ngô Văn Ðịnh đã quyết định: “Ở lại chiến đấu, không nhường B52” và ông đã thông báo quyết định này cho 2 cố vấn Mỹ biết.

Thực tế chiến trận đang xẩy ra trước mắt buộc 2 cố vấn của Tiểu Ðoàn phải làm việc khẩn cấp với hệ thống cố vấn cao hơn để xin hủy bỏ hay chuyển hướng các phi vụ B.52 đang hướng về mục tiêu mà TÐ2/TQLC còn đang kẹt tại chỗ. Ðây là một việc làm vô cùng khó khăn, thời hạn ấn định TÐ2 rời khỏi mục tiêu đang cạn dần, đêm lạnh mà các cố vấn lau mồ hôi trán liên tục. Cuối cùng, cố vấn Tiểu Ðoàn thở phào nhẹ nhõm báo cho Ðồ Sơn biết B52 đã phải “nhường” mục tiêu lại cho TÐ2. Tin loan ra khiến chúng tôi an tâm diệt Cộng mà không còn lo hỏa lực khủng khiếp của bạn từ trời rơi xuống.

Trong chiến trận, chuyện KQ bạn đánh lầm quân ta cũng không hiếm, nhưng B52 thì chưa bao giờ xẩy ra. Bốn mươi năm sau, khi ôn lại chiến trường xưa, Ðồ Sơn tâm sự:

– Khi quyết định ở lại chiến đấu mà không di chuyển theo lệnh trên, tôi biết sẽ gặp khó khăn lắm, nhưng không thể hy sinh thêm đồng đội vì bất cứ lý do gì. Vả lại kinh nghiệm cho tôi biết B52 sẽ không bao giờ dám trải thảm một khi còn có người Mỹ trong vùng mục tiêu. Lúc đó trong tay mình (TÐ2) còn có 2 cố vấn Mỹ mà.

Sau 3 năm theo chân Ðồ Sơn khắp bốn vùng chiến thuật, bị thương lai rai thì có nhưng khi Ðồ Sơn bị trọng thương (1/69), thì tôi bị trọng thương theo sau, tháng 6/1969, bị loại khỏi vòng chiến, tôi rời TÐ2/TQLC từ đấy. Xin gửi lời cám ơn muộn màng đến Ðồ Sơn, là đại đội trưởng, đôi khi tôi thường “khắc khẩu” với tiểu đoàn trưởng, nhưng nhờ hợp “mạng” nên Ðồ Sơn đã nhiều lần giúp tôi thoát hiểm trong đường tơ.

Trâu Ðiên Trưởng NGUYỄN XUÂN PHÚC.

Ðang vui với TÐ5/TQLC, chỉ vì bốc đồng, lãnh 15 ngày trọng cấm rồi bị đổi về TÐ2 khiến tôi buồn lắm, nhưng “kỷ luật là sức mạnh” nên tôi bước tới trước mặt Trung Úy ÐÐT/ÐÐ4 Nguyễn xuân Phúc, đứng nghiêm đưa tay chào và xưng danh đúng quân phong quân kỷ. Nhưng “ông ta” vẫn ngồi, hai chân gác trên bàn, tay cầm điếu Ruby Queen gõ gõ lên hộp quẹt Zippo rồi nhếch mép cười ruồi:

– Ông đánh lộn bên TÐ5 rồi bây giờ về đây kiếm tôi nữa phải không?

Ðã từng nghe danh ông niên trưởng này từ lâu, nay đụng mặt trong hoàn cảnh bất đắc dĩ khiến tôi đành phải cắn môi đến rớm máu để nuốt cục buồn, muốn trả lời ông: “Chưa biết”. Nhưng thôi, đành im lặng! Sau giây phút căng thẳng, ông đứng dậy quẹt lửa, châm điếu thuốc, nhả khói rồi chậm rãi chân bước đi, miệng nói:

– Ông đi tìm Trung Úy đại đội phó mà trình diện!

Ðại đội phó là Trần Văn Hợp, người bạn cùng khóa với tôi, hắn mới đón tôi từ quân trấn Ðà Nẵng về đây thì còn trình diện gì nữa nên tôi xách ba-lô đi tìm chỗ khuất trong một khách sạn xây cất dở dang bỏ hoang, là nơi đại đội đang đóng quân, để tránh mặt mọi người, giăng võng nằm trong một góc tối. Ðại Ðội Trưởng không giao nhiệm vụ gì cho tôi cả và tôi cũng chả cần xin việc. Vài ngày sau, “xếp” gọi tôi ra lệnh:

– Ông xuống nhận Trung Ðội 3 để sáng sớm mai đi hành quân.

Tôi không hỏi thêm bất cứ điều gì, tôi bất cần. Tôi gọi Trung Ðội Phó là Trung Sĩ Tuyết truyền lệnh vắn tắt: “Chuẩn bị sáng mai đi hành quân.”

TÐ2/TQLC tiến quân dọc theo những xóm làng ven biển, đụng tại mục tiêu Phù Liêu Gia Ðặng, quân ta truy kích địch về tới ngã ba sông Vĩnh Ðịnh, thôn Bích La, Quảng Trị. Ðịch hết đường thoát nên tử thủ tại đây nhưng rồi cũng bị TÐ1 và TÐ2 đánh tan. Suốt cuộc hành quân này Ðại Ðội Trưởng Nguyễn Xuân Phúc luôn để trung đội tôi lẽo đẽo theo sau và không hề ra lệnh hay nói năng gì cả.

Tại Phù Liêu, khi cánh quân đi đầu nổ súng, Thiếu Úy Kiệt (K20/VB) tử thương thì ở phía sau, VC từ dưới cát chui lên “chặt khúc đuôi”, tấn công ào ạt vào Trung Ðội 3 của tôi, nhưng anh em đã nhanh chóng phản ứng cấp thời, không hề hấn gì mà VC còn bỏ lại vài cây AK, vài xác chết. Tôi báo lên đại đội nhưng xếp Phúc vẫn im lặng, không lên tiếng khen chê. Ðại Ðội tiếp tục truy kích giặc đến thôn Bích La Quảng Trị.

Tại thôn Bích La, VC bị kẹt vào giữa gọng kìm của hai Tiểu Ðoàn 1&2/TQLC và ngã ba sông nên nửa đêm chúng liều chết tìm cách thoát thân, chui đầu vào tuyến TÐ2! Hẳn không cần diễn tả thì đọc giả cũng biết chuyện gì xẩy ra khi quân ta bắn “bia di động”. Riêng Trung Ðội 3, tôi cho đặt mìn claymore trước tuyến nên khó có tên VC nào thoát. Sáng sớm hôm sau, trong khi tôi đang cho trung đội thu lượm vũ khí và đếm xác địch thì Tr/Úy Ðại Ðội Trưởng đến, tay cầm ca nhôm café, ông vỗ vai tôi và nói:

– Làm một hớp cho ấm bụng, chú mày làm ăn được lắm.

– Cám ơn “xếp”, tôi là đồ bỏ nhưng nhờ lính của Trung Úy đánh giặc giỏi.

Thực ra thì tôi biết ông ta đến nhưng tôi cứ vờ như không hay, không thấy. Khi phải chào thì tôi chào theo đúng cấp bậc nhà binh chứ không có “niên trưởng” gì cả, dù ông đã gọi tôi với tiếng “chú” tràn đầy tình anh em. Với tôi, hai chữ “niên trưởng” có cái gì ấm cúng thân tình, còn danh xưng “xếp” chỉ là tiếng gọi xách mé, thiếu tôn trọng người đối diện. “Xếp” cũng biết điều đó nên ông mỉm cười, điệu cười trịch thượng dễ ghét, im lặng móc thuốc hút và “mời” một tôi điếu, dặn dò vài câu huề vốn rồi đi đến chỗ trung đội của Nguyễn Quốc Chính, K20 Võ Bị.

Sau một đêm vất vả với súng đạn nhưng được bình an, sáng sớm trời lạnh mà được rít một hơi thuốc, ngửa mặt lên trời nhả khói vòng tròn là niềm hạnh phúc nhất của lính đánh giặc. Ðiếu thuốc đầu ngày làm tôi sảng khoái, nhất là điếu thuốc mời từ tay “xếp”, một người mà tôi ghét cay ghét đắng ngay từ khi về trình diện.

Hình như tôi say thuốc, nhìn qua khói thuốc, tôi thấy dáng Anh đi đầy vẻ tự tin, thái độ “kẻ cả”, tôi chợt nhận ra cử chỉ của mình vừa rồi đầy mặc cảm tự ti! Còn Anh, tuy kích thước thấp hơn tôi nhưng anh lại cao hơn tôi một “cái đầu”. Tay tôi mân mê điếu thuốc hút dở dang, điếu thuốc in dấu tay của Trung Úy Nguyễn Xuân Phúc, có lẽ điếu thuốc đó đã làm thay đổi thái độ bất cần của tôi. Hơn 50 năm sau, tôi còn nhớ đó là điếu Ruby Queen đựng trong bao màu tím nhạt. Phong cách “người lớn”, rộng lượng của cấp chỉ huy hay hành động “tiểu nhân” ích kỷ của kẻ lớn lon có thể làm thay đổi hẳn thái độ của thuộc cấp theo hướng kính trọng hoặc khinh bỉ, tôi đã gặp cả hai trường hợp như thế. Chỉ một điếu thuốc giữa không khí đặc quánh với khói súng mà tôi bỏ chữ “xếp Phúc” để thay bằng một tiếng ANH PHÚC viết hoa.

Sau một thời gian làm TÐP/TÐ2, Anh Phúc được điều động đi làm Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 6/TQLC. Trước khi đi, anh xiết mạnh tay tôi và khẽ nói:

– Chú mày đã phạm một lỗi lầm rất đáng tiếc, dễ gây ngộ nhận và ác cảm với cấp chỉ huy lúc ban đầu, đường binh nghiệp của chú mày sẽ vất vả lắm đấy. Phải cẩn thận!

À thì ra thế, lúc đó tôi mới ngộ ra rằng thuở ban đầu khi tôi vừa trình diện thì Anh đã thử thách tôi. Ðiều đó dễ hiểu, cấp chỉ huy nào cũng bực khi phải nhận về một quân nhân “ba gai”, hỗn với cấp chỉ huy, cái khó là làm sao trị được những “con ngựa chứng”. Tôi nói với anh:

– Bản tính tôi đâu phải thế, tôi luôn luôn biết kính trên nhường dưới mà.

Tháng 1/1969, Tiểu Ðoàn Trưởng Ðồ Sơn Ngô Văn Ðịnh bị trọng thương, anh Phúc quay trở lại làm TÐT/TÐ2 với dàn đại đội trưởng là 3 Ð/Úy K19VB là Ð/Úy Trần Văn Hợp, Ð/Úy Vũ Ðoàn Dzoan, Ð/Úy Tô Văn Cấp và Tr/Úy Lâm Tài Thạnh K17VK. Ðối với tôi, đây là thời gian TÐ2 tương đối vui và ổn định, “hành quân” ở hậu phương thì ồn ào, đụng trận ngoài tiền tuyến thì không khí nhẹ nhàng. Mỗi lần đụng trận các đại đội trưởng liên lạc hàng ngang, luân phiên công thủ còn ông TÐT thì yên lặng theo dõi, không hối thúc.

Ngày 19/6/1969, TÐ2 đi hành quân ở Chương Thiện, vì Tiểu Ðoàn Phó là Th/Tá Nguyễn Kim Ðễ đi phép để chuẩn bị nhận tiểu đoàn mới. Vì thế anh Phúc giao cánh B cho tôi chịu trách nhiệm. Thực ra trong 3 tên K19 thì thằng nào làm phó cho anh cũng được, nhưng anh lại giao cho tôi và rồi tôi bị trọng thương khiến anh Phúc dậm chân chửi thề:

– C.., mưu sự do tao, thành sự tại thằng VC.

Tôi hiểu ý nghĩa câu chửi thề của Anh, Anh muốn nâng đỡ tôi nhưng không hiểu tại sao tôi lại đen đến thế, đen cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng! Vạn sự (rắc rối) khởi đầu (gian) nan chăng? Sau khi tôi bị thương, tuy không còn chiến đấu bên Anh ngoài chiến trường nữa, nhưng mỗi khi có dịp gặp nhau, kể cả khi anh làm Lữ Ðoàn Trưởng, là anh kéo tôi đi theo để xem anh uống còn tôi thì “phá mồi” hoặc đấu võ “mồm”.

Lần đầu tiên, khi trình diện, năm 1966, tôi gặp Trung Úy ÐÐT/ÐÐ4 Nguyễn Xuân Phúc tại Ðà Nẵng thì lần sau cùng tôi lại gặp Trung Tá LÐT/LÐ.369 Nguyễn Xuân Phúc cũng tại Ðà Nẵng, trên bãi biển Non Nước vào sáng 29/3/1975. Không ngờ đó là lần sau cùng tôi gặp Anh.

Anh Phúc không cho tôi huy chương và cấp bậc, tiền bạc thì lại càng không vì Anh quá nghèo. Tôi ghét cay ghét đắng, có thể nói là hận Anh ngay từ khi mới đến trình diện. Nhưng “ở lâu mới biết lòng người có nhân”, với phong cách chỉ huy và tài lãnh đạo, cung cách “sống đẹp” với người xung quanh đã khiến tôi kính và phục Anh, nếu không muốn nói Anh là “thần tượng” của tôi.

Không chỉ riêng tôi, mà khi tiếp xúc với những người biết Anh, những ai từng làm việc với Anh thì hầu như tất cả đều dành cho Anh sự ngưỡng mộ, cảm tình yêu mến.

Nửa đường gãy gánh, binh nghiệp Anh chưa thành công, nhưng anh đã thành danh, ở một nơi nào trên Thiên Quốc anh đang cười, đánh nhịp hát: “Trấn Thủ Lưu Ðồn”.

Trâu Ðiên Trưởng TRẦN VĂN HỢP.

Cùng được chọn về TQLC nhưng khác tiểu đoàn nên chúng tôi chỉ thỉnh thoảng gặp nhau. Ngày bị thuyên chuyển từ TÐ5 về TÐ2, thấy Hợp mang xe đến đón khiến tôi mừng thầm, ít ra cũng có một người bạn cùng khóa ở đơn vị mới thì cũng đỡ bơ vơ. Nghĩ vậy nên tôi đến chào Trung Úy Hợp đúng theo quân kỷ, hắn đưa tay cho tôi bắt, nói cho chính xác là nó hững hờ đưa tay ra cho tôi cầm rồi chỉ tôi leo lên phía sau xe GMC trong khi nó ung dung lên “cabin” ngồi một mình!

Ðắm tàu tưởng gặp phao hóa ra đụng bọt biển! Ðó là lý do tôi không thèm trình diện Tr/Úy Hợp theo lệnh của xếp Phúc. Có một cái gì đó gần giống nhau của anh Phúc và Hợp đối xử lạnh nhạt với tôi. Không hiểu sao lúc đó tôi lại không đi uống rượu, chửi thề, xuống xóm giải sầu hoặc chịu chơi thì bỏ về Saigon chơi cho bõ ghét. Sau vài lần thử lửa, nhất là sau trận Bích La thôn, cả hai đã cho tôi một nụ cười.

Khi Hợp lên làm Ðại Ðội Trưởng ÐÐ4 thay anh Phúc, tôi cũng được hưởng ké, làm đại đội phó cho Hợp, cùng nhau vui chơi và làm việc cho đơn vị mà không phân biệt trưởng phó, chính vì sự “lạm quyền” đó mà đã có lần Hợp chửi tôi “ngu”.

Bồng Sơn, Tam Quan (Bình Ðịnh) vào thời điểm 1967 du kích nhiều, ẩn hiện như ma, ngày thì lặn, đêm đêm chui ra vác loa kêu gọi “Lính Thủy Ðánh Bộ” đầu hàng! Nghe mãi nhức đầu, sôi máu nên một đêm tôi lựa mấy tay “đen-đen” như tôi để đi bịt miệng mấy tên du kích này và túm được một tổ tam-tam, một AK, một mã tấu, và một chị thổi loa. Hí hửng tôi mang loa về khoe, Hợp khen toán phục kích giỏi rồi ghé tai tôi nói nhỏ:

– Mày ngu bỏ mẹ, du kích vùng này đông như cỏ dại. Nhiệm vụ này đâu phải của mày, lỡ xảy ra chuyện gì thì liệu có đáng không?

Lần đầu gặp nhau tại Ðà Nẵng, nó đưa tay cho tôi cầm khiến tôi ghét nó bao nhiêu thì lần tại Bồng Sơn nó chửi tôi “ngu” thì tôi lại phục nó bấy nhiêu. Tôi hiểu tấm lòng của cấp chỉ huy xen lẫn tình bạn bè trong lời hắn sỉ vả tôi: “Mày ngu”.

Một thời gian ngắn sau tôi lên coi Ðại Ðội 1. Tuy không còn chung đại đội, nhưng dù hành quân hay về hậu cứ thì 3 tên độc thân Hợp, Chính, và tôi đều buồn vui có nhau như anh em một nhà. Rồi Chính tử trận bên kinh Cái Thia (31/12/1967), tôi bị thương ở Chương Thiện, Hợp tiếp tục cầm súng. Sau Hạ Lào 719, Hợp thay thế anh Phúc để trở thành Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên.

Không thể kể hết những trận đánh và chiến công của Hợp, vả lại nếu có thì đó là công trạng chung của cả một tiểu đoàn mà không của riêng ai. Vì thế trong bài “Vui Buồn” này, tôi sẽ ít đề cập tới “tiếng súng chiến trường” mà chỉ là tâm tình riêng.

Thời gian 1973, tôi làm việc tại Phòng Ba Sư Ðoàn tại Hương Ðiền, mỗi khi các tiểu đoàn trưởng về họp tại Bộ Tư Lệnh/Sư Ðoàn (Hương Ðiền) thì Hợp đều ghé Phòng Ba tìm tôi, nhưng hắn im lặng đưa tay cho tôi bắt. Tôi nắm trong đó được một ít tiền lẻ đủ vài chầu cơm hàng cháo chợ của quán mụ Luyến bên bờ Phá Tam Giang. Có lúc tôi giả bộ chê: “Sao mày rách thế?” Thì hắn chỉ mỉm cười.

Ít nói là bản tính của Hợp, kín tiếng ngậm miệng ngay cả khi “mở rộng bàn tay”. Những đàn em như Lê, như Trần đều không hay biết gì về việc TÐT Trần Văn Hợp đề nghị thăng cấp thiếu tá cho họ. Họ tâm sự:

– Tụi tôi không hay gì cả, chỉ khi được gọi lên Bộ Tư Lệnh gắn lon thiếu tá mới biết do anh Hợp đề nghị.

Sống chết với nhau nhưng chúng tôi không hề biết tôn giáo của nhau, chẳng chùa mà nhà Chúa cũng không. Ðời lính tráng chỉ biết theo đạo ù-ù, nhưng “cách cho” của Hợp có vẻ như làm theo lời khuyên của Thánh Kinh: “Khi tay phải làm việc thiện đừng cho tay trái biết.

Sáng 29/3/75, Hợp và tôi gặp nhau tại bờ biển Non Nước, rồi lênh đênh xuôi Nam, chia nhau gói mì tại vịnh Cam Ranh, rồi về bãi biển Vũng Tàu vào những ngày giữa tháng 4/75. Chỗ nào thì cũng chỉ nhìn nhau lắc đầu, mong sao không còn phải lui nữa

Những ngày cuối tháng 4/75, trong khi “hậu phương” Sài Gòn tìm mọi phương tiện để ra biển thì tất cả quan lính TQLC lại từ bờ biển Vũng Tàu lui về cố thủ tại căn cứ Sóng Thần rồi theo lệnh tông-tông, cởi bỏ áo lính, giầy sô để mặc áo tù đi chân đất!

Cúi mặt!

Sáng 30/4/1975, sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng, các Tiểu Ðoàn Trưởng họp cùng Ðại Tá Tư Lệnh Phó tại Bộ Chỉ Huy căn cứ Sóng Thần (Thủ Ðức) và nhận lệnh “giã từ vũ khí”! Trời bỗng đổ một cơn mưa rào. Hợp và tôi dựa lưng nhau chùi nước mắt, vất xe jeep, lội bộ từ Thủ Ðức về Thị Nghè vì gia đình chúng tôi cùng ở trong trại gia binh Cửu Long. Khi đi ngang ngã ba Giồng Ông Tố, thấy súng nổ, mấy tên VC Bắc Kỳ vác AK chạy tới chạy lui trên xa lộ miệng chửi tục:

– ÐM. tụi Trâu Ðiên còn ngoan cố chống cự.

Ðang khóc trong lòng mà tôi cũng phải mím môi cười thầm bên tai Hợp:

– Bạn thua đàn em rồi!

Sau vài tuần ngơ ngáo, 14/6/75 chúng tôi cùng “rủ nhau” vào tù, gặp đủ mặt “anh hào” cùng chung một trại Long Giao, không sót một ai, cùng chia nhau trái đắng. Trong buổi “lên lớp” đầu tiên tại trại tù Long Giao về đề tài “Ngụy Quân, Ngụy Quyền”, tên “giáo viên” VC đã dõng dạc và dứt khoát tuyên bố:

– Những cái gọi là Trâu Ðiên và Cọp Ðầu Rằn thì sẽ bị trừng trị đích đáng!

Tôi lại có dịp thúc cùi chỏ vào ba sườn Trâu Ðiên Hợp nói nhỏ: “Nó hù mày.”

Mặt Trâu Ðiên Hợp vẫn tỉnh bơ, quả thật điếc không sợ súng, “mặt dày” như da Trâu. Rồi tôi trước, Hợp sau, lưu đày đất Bắc. Tôi và Hợp bắt tay từ giã nhau tại trại tù Suối Máu năm 1976 mà không biết đó là lần chia tay sau cùng! Trâu Ðiên Trần Văn Hợp đã bị “trừng trị đích đáng” trong rừng núi vùng Thượng Du Bắc Việt như lời tuyên bố của “giáo viên”!

Ðời binh nghiệp của Hợp gắn liền với Tiểu Ðoàn Trâu Ðiên, từ ngày đầu tiên 11/1964 là Trung Ðội Trưởng của Ðại Ðội Trưởng Phúc cho đến những ngày cuối cùng 29/3/75, Hợp vẫn là Tiểu Ðoàn Trưởng thuộc quyền Lữ Ðoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc. Vì thế, những đức tính cần có và đủ của một cấp chỉ huy tác chiến lý tưởng thì Trần Văn Hợp là “bản sao” của anh Nguyễn Xuân Phúc: “Cấp chỉ huy giỏi thì không có thuộc cấp tồi.”

Trần Văn Hợp là Tiểu Ðoàn Trưởng Trâu Ðiên cuối cùng và không còn nữa nhưng vẫn còn mọi sự mến mộ của bạn bè và lòng kính trọng của thuộc cấp. Một thượng cấp trong Binh Chủng đã nói về Hợp như thế này:

– Ai đó có thể ghét, nhưng không ai có thể khinh thường Hợp được.

Dù đã về Thiên Quốc như các Trâu Ðiên Trưởng Lê Hằng Minh, Nguyễn Xuân Phúc, Trần Văn Hợp, hay còn nặng nợ với trần gian như Ðồ Sơn Ngô Văn Ðịnh, tôi xin nghiêng mình kính phục các TRÂU ÐIÊN TRƯỞNG, những cấp chỉ huy lý tưởng của Binh Chủng TQLC, những người con yêu quý của QLVNCH.

Các anh đã cùng quân nhân các cấp chiến đấu khắp mọi miền đất nước, từ Bến Hải đến Cà Mau, Kampuchia, Hạ Lào, tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, làm đẹp màu cờ sắc áo rằn ri với dây biểu chương màu Tam Hợp, trong đó Quân Kỳ TÐ2/TQLC Trâu Ðiên đã 8 lần được tuyên dương công trạng trước Quân Ðội.

Sau chiến thắng Mậu Thân ở Saigon, trận Cầu Khởi và Bời Lời ở Tây Ninh, TÐ2 về hậu cứ để tái trang bị. Ngày 28/12/1968 Tổng Thống VNCH, Phó Tổng Thống, Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng cùng phái đoàn tướng lãnh cao cấp đến hậu cứ TÐ2 ở Thủ Ðức thăm và khen thưởng anh em Tiểu Ðoàn 2 Trâu Ðiên.

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thăm Trâu Điên, 28/12/1968

Tổng Thống, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội, Phó Tổng Thống, Ðại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, cùng phái đoàn tướng lãnh đến thăm và khen thưởng các đơn vị tại chiến trường là chuyện bình thường, nhưng đến thăm một tiểu đoàn tại hậu cứ sau những ngày hành quân dài thì không bình thường chút nào. Dầu bất cứ vì lý do gì thì đây cũng là một niềm vui cho Trâu Ðiên nói riêng và TQLC nói chung./.